Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Triển vọng Hòn Mê

Nằm ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa và cách đất liền 11km, quần đảo Hòn Mê (thuộc huyện Tĩnh Gia) nhưng dường như vẫn là một khu vực “bí ẩn”, bởi nơi đây chưa khai thác hoạt động du lịch.

< Một trong những đảo của Hòn Mê.

Từ trạm kiểm soát biên phòng Lạch Bạng ra đảo Mê, chừng 30 hải lý, tàu thuyền trang bị máy móc trung bình phải chạy cỡ 3 tiếng không nghỉ mới tới được bãi trước của đảo hòn Mê.
Đảo được thành lập ngày 26 - 3- 1965 - Trong kháng chiến chống Mỹ đảo là trọng điểm bắn phá của máy bay, tàu chiến Mỹ với 1.031 lần máy bay trút xuống đảo 4.236 quả bom sát thương, 11 quả bom nổ chậm, 3 quả bom hóa học, 15 quả bom bi, 206 quả bom xuyên; sử dụng 402 lần tàu chiến và khu trục bắn 17.455 quả đạn đại bác lên đảo...

< Một nhòm đảo trong quần đảo Hòn Mê.

Tính ra, bình quân 1m 2 trên đảo hứng 15 quả bom - đạn các loại! Tuy nhiên ngày nay đảo hầu như không còn vết tích chiến tranh. Đảo Hòn Mê đã được Nhà nước phong tặng “Đơn vị Anh hùng LLVTND” từ năm 1969 - Ngày nay đảo là “tai mắt” bảo vệ đất liền.

Toàn quần đảo có diện tích khoảng 450ha, trong đó đảo Hòn Mê có diện tích 420ha, diện tích còn lại là hơn 10 đảo nhỏ.

< Hòn Mê Và Vịnh Nghi Sơn.

Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió trong năm là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam.

Trên đảo hiện vẫn chưa có dân định cư, chỉ có lực lượng quân đội đóng quân. Tuy nhiên, do nằm khá gần đất liền nên hoạt động khai thác hải sản ở đây rất nhộn nhịp, nhất là vào mùa khai thác.

< Câu cá ở Hòn Mê. Nếu thích thì lặn bắt ốc: Hào ở đây to bằng bàn chân, nhum thì nhiều vô kể - cá nhỏ thì cứ thả cần và giật lên...

Ngoài phương diện du lịch thì hòn Mê là nơi lý tưởng cho tàu thuyền neo đậu khi gặp bão gió lớn. Đây cũng là vùng biển sâu, đủ điều kiện trở thành khu cảng quan trọng trong phát triển kinh tế và phục vụ quốc phòng.

Hòn Mê là vùng biển quanh khu vực là nơi quần cư của nhiều loài sinh vật biển.

< Tắm và lặn biển.

Theo kết quả điều tra, khu vực này đã ghi nhận được 440 loài sinh vật biển thuộc 165 giống, bao gồm 133 loài thực vật phù du, 46 loài động vật phù du, 8 loài rong biển, 56 loài san hô, 141 loài động vật đáy và 55 loài cá san hô. Tuy nhiên, các rạn san hô đang bị suy thoái, nhiều nơi chỉ còn lại nhóm san hô dạng khối thuộc giống Porites và có độ che phủ không cao.

< Hải đăng Hòn Mê nằm trên vị trí cao 137m (đảo chính) với tháp hình trụ, công trình hình khối hộp với tầm hiệu lực ánh sáng là 21 hải lý.

Nhiều loài sinh vật biển cần được bảo vệ, trước hết là nhóm san hô tạo rạn, tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm và một số loài rong biển. Qua khảo sát sơ bộ cho thấy, rừng mưa nhiệt đới trên đảo được bảo tồn khá tốt với độ che phủ cao. Trên đảo có rất nhiều khỉ và một số loài động vật khác như chồn, sóc...

< Nước trong xanh leo lẻo.

Cách đây 10 năm (năm 1999), Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường đã xác định khu bảo tồn biển Hòn Mê bao gồm toàn bộ đảo và phần nước xung quanh cách bờ đảo ít nhất 3km, với tổng diện tích khoảng 5.600ha. Khu bảo tồn biển này sẽ là một trong những mạng lưới các khu bảo tồn biển Việt Nam, trong đó mục đích là để bảo vệ các quần cư và nguồn gien quý hiếm cho vùng biển ven bờ Bắc Trung Bộ.

< Đồn biên phòng trên đảo Hòn Mê.

Hy vọng, trong tương lai không xa, khu vực biển đảo Hòn Mê không chỉ là vùng sinh thái biển giàu đẹp, mà còn trở thành khu tham quan, du dịch, nghỉ dưỡng hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Lưu ý: Hòn Mê là một quần thể gồm khoảng 10 đảo, trong đó đảo chính lớn nhất là Hòn Mê - ngày nay vẫn còn là đảo quân sự nên chỉ có lính biên phòng. Ngoại trừ ngư dân thường ghé vào còn dân phượt chúng ta nếu muốn làm một chuyến phượt phẹo, câu cá hay lặn biển tại đây thì chỉ nên thăm thú những đảo nhỏ và vùng biển xung quanh thôi nhé.
Thuê thuyền ngư dân ở bến cảng Cửa Còn hoặc từ trạm kiểm soát biên phòng Lạch Bạng ra đảo Hòn Mê chừng 30 hải lý. Tàu thuyền trang bị máy móc trung bình phải chạy cỡ 3 tiếng không nghỉ mới tới được đảo.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Chơi vơi hang yến Bình Định

Tổ yến, hắc cáy, mực tuộc, sá sùng, san hô đen, bong bóng cá đường... những sản vật ấy ngày nào là quà tặng hào phóng của đại dương, nay con người phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, thậm chí đánh đổi bằng mạng sống mới có được.

Chon von hang yến miền Trung, bồng bềnh những “hải đoàn” thuyền thúng trên sóng nước Côn Đảo, cheo leo những lều đáy hàng khơi Đất Mũi, và xa hơn: những chuyến lặn biển nơi chân trời góc bể... tất cả những cuộc mưu sinh ấy đều thấm đẫm vị mặn của đại dương. Hay đại dương mặn vì mồ hôi của họ?
Con thuyền 115 mã lực biển số BĐ 91016TS khởi hành ra vũng Bàu vào sáng sớm ngày chủ nhật đầu tháng 11. Gió cấp 6. Tàu vừa ra khỏi cảng, vượt qua mũi hòn Khô, là đối mặt với sóng thứ thiệt, trở thành chiếc lá bé xíu giữa mênh mông nước.

Con tàu bẻ lái lấy hướng, phải cắt ngang sóng, trước khi xuôi theo sóng, mũi tàu ghếch tưởng như thẳng đứng, lườn tàu đập xuống mặt nước kêu binh binh...

Tài công chuyến hải hành này là Đinh Lùn, 60 tuổi, người đã có lần buộc phải chạy tàu ra vũng Bàu khi gió cấp 8, 9, vì phải đưa xác một đồng nghiệp vào bờ. Chuyến tàu định mệnh ấy bị sóng đập bể lườn, chìm, may nhờ có điện thoại di động kịp thời gọi cho ngư dân xã Nhơn Hải ra cứu. Bởi vậy, ông mới bình thản bình về sóng cấp 6: “Như vầy còn nhỏ”.

Trên thuyền hôm ấy có cả thảy chín người, trong đó có hai người vào nghề khai thác tổ yến lâu năm nhất – cùng năm 77 thế kỷ trước là ông Lùn và Đỗ Thanh Vân, 53 tuổi. Ông Vân có mái tóc chải ngược, mũi sư tử, gương mặt vuông phong trần, vẫn ôm tiếc nuối là đứa con trai không chịu theo nghề cha. Tiếc là không đẻ thêm một hai đứa để may ra có đứa theo nghề cha. Ông yêu nghề muốn chết!

Phải mất hai tiếng đồng hồ, vì đi ngược gió, từ cảng Quy Nhơn vượt qua mũi Bát, mũi cực nam của Nhơn Lý giáp với vùng biển của xã Nhơn Hải để đến vũng Bàu. Ở mũi này thuyền một lần nữa phải cắt sóng, bị quăng quật tơi tả, vì gió ngày càng săn.

Qua khỏi mũi Bát một khoảng nữa là vũng Bàu. Mùa tháng 4 khai thác yến, vũng Bàu có lúc như tấm thảm nước phẳng phiu, vì kín gió. Nhưng mùa này, sóng vẫn đập ì ầm ngày đêm vào vách đá phía trước lăng thờ thần của dân khai thác yến ở Quy Nhơn. Neo thuyền đã kỳ công, từ thuyền xuống xỏng vào bờ kè còn kỳ công hơn nữa. Để giữ an toàn cho thuyền ông Lùn và một người phụ lái ở lại trên thuyền, phòng khi sóng gió đứt neo kịp cứu thuyền.

Ba phần tư sản lượng địa phương là khai thác từ khu vực vũng Bàu với tám hang yến lâu đời nhất. Nên người dân cũng lập miếu thờ thần và tiền hiền ở đây, từ những năm 1960 miếu được xây bằng gạch. Đến những năm 2000 được xây dựng to lớn như hiện nay, với móng đá.

Nghề khai thác tổ yến, đặc thù trong các hang nước ở Quy Nhơn, kéo dài không đến ba tháng, những người theo nghề này phải luân phiên nhau canh chừng hang yến quanh năm. Như ông Vân lần đầu tiên được phân về ở ngay tại Lăng, năm sau đi qua hang Đôi, rồi ở hang Cả tám năm liền…

Thế giới của hang yến tuyệt đối không có phụ nữ, ông Đặng Văn Nguyên, người đứng chủ cúng tạ tổ nghiệp ở đây khẳng định. Và rượu. Chỉ có buồn vui với biển quanh năm suốt tháng. Không ít người không trụ được với nghề. Ngày ông Vân còn trẻ, cưới vợ xong, biệt vợ ra hang yến, cô vợ trẻ lúc ấy đã khóc…

Dầu vậy, những ngày không khai thác, chỉ ở canh gác hang, thợ yến được luân phiên chia thành hai tổ ở mỗi khu vực hang để luân phiên trực. Nhóm không trực về với gia đình. Lúc đó họ mới tận hưởng được sự hoà nhập: phụ nữ và rượu, thay cho những ngày thanh cảnh.

Hàng kỳ đi nhận lương thực họ phải đi đường núi, từ dưới khu nhà Lăng leo lên đỉnh núi khá cao, rồi mới theo đường ruột dê xuống núi mất cả tiếng đồng hồ mới ra đến trạm nhận lương. Hôm ấy trời mưa, không thể đi đường bộ được, nên mới có chuyến hải trình đầy sóng gió để đến tổng hành dinh khai thác tổ yến của Quy Nhơn.

Cũng có những hang đi đường bộ tiện hơn như hang Dơi. Từ Quy Nhơn đi Nhơn Lý, rồi vượt đường bộ chừng 15 – 20 phút là đến đỉnh núi, từ đó trụt xuống chừng bảy, tám mét là đến nhà canh hang Dơi, nằm ở lưng chừng núi, quay mặt ra biển.

Phụ trách trực ở đây là Nguyễn Minh Cường, 47 tuổi, người Tuy Phước, vào nghề từ năm 1996. Cường nhỏ người, thường xuyên nở nụ cười trên miệng thật vô tư, thợ bậc 3/6. Mấy lần thi nâng bậc đều bị rớt môn lý thuyết vì múa ngòi bút không giỏi bằng múa bấy lấy tổ yến. Copy tài liệu thì nhát vì vốn tính… thật thà. Không bù được với ông Vân bậc 6/6 cách đây đã hơn 20 năm.

Con người lạc quan này dường như chấp những cái không thành đạt của mình. Ngay cả cái nhà yến ở quê đầu tư trên 1 tỉ đồng, gần ba năm nay chỉ thu được 14 tổ yến. Trong khi đó, cái nhà ở của ông Lùn trên đường Hùng Vương chỉ tốn vài triệu cải tạo thành nhà yến mỗi năm kiếm được cả chục ký tổ. Ông Nguyên bình luận: “Yến nó không thích đi kinh tế mới, chỉ thích ở thành phố thôi”. Anh Cường lại cười.

Tuy chữ nghĩa có khá hơn, nhưng khi kể lưu loát về ông tổ nghề yến là ai, đến lập nghiệp từ lúc nào, gốc gác ra sao, trước 1975 ai thầu các hang yến ở đây... ông lại có vẻ ngậm ngùi nói với đồng nghiệp trẻ tên Nam: “Các chú chữ nghĩa nhiều hơn, cần ghi chép lại tông tích của nghề để lại cho hậu thế. Tụi tui nhớ thì có nhớ, nhưng không ai viết để lại cái gì”.

Với cái nghề “ai cũng phải tụt quần” như cách gọi của ông Vân – khai thác hang yến nước như ở Quy Nhơn, lúc nào cũng phải lội nước biển, không mặc quần dài được – quanh năm đối mặt với sóng nước, họ phải đặt niềm tin vào nhiều người như Phật bà Quan Âm, tổ nghề, các bậc tiền hiền, những người đã mất ở khu vực trung tâm, mất vì nghề. Hàng năm, họ còn phải về cúng tổ chung tại Hội An vào tháng 5.

Sản lượng yến hàng năm ở Bình Định chừng 400 – 500kg, thấp hơn trước, do phải dưỡng yến, không khai thác tận diệt hết tổ trong kỳ 3 hàng năm, còn gọi là kỳ dưỡng yến, tức là cho yến đẻ ra nở đến 30%, để chúng tăng bầy. Ở Quy Nhơn có 16 hang đang được giao cho công ty cổ phần Yến Ngọc, Bình Định thầu khai thác nằm ở hai xã Nhơn Lý – 14 hang và Nhơn Hải – 2 hang.

Bình Định, theo ông Nguyên thì không có yến sào huyết như ở Khánh Hoà, một loại tổ yến màu đỏ do phản ứng của nước dãi yến với địa chất đặc biệt của vách đá.

Du lịch, GO! - Theo SGTT, internet

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Dư địa chí về quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands)

Quần đảo Hoàng Sa là một trong hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời. Trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa còn có tên là “bãi cát vàng”. Tên quốc tế thường được thể hiện trên các hải đồ là Paracels. Quần đảo gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000km².

Về khoảng cách đến đất liền, từ đảo Tri Tôn đến mũi Ba Làng An, tỉnh Quảng Nam là 135 hải lý, đến Cù Lao Ré tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý. Tổng diện tích phần nổi của quần đảo Hoàng Sa khoảng 10km², đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm với diện tích khoảng 1,5km². Quần đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi.

Hoàng Sa nằm trong vùng “xích đạo từ” có độ sai lệch từ không thay đổi hoặc thay đổi rất nhỏ, rất thuận lợi cho việc đi biển. Quần đảo này có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và nhiều giông bão, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 hằng năm. Trên một số đảo có nguồn nước ngọt, cây cối um tùm, vô số chim và đặc biệt là có nhiều rùa biển sinh sống.

Nằm phía Đông của Việt Nam, Hoàng Sa án ngự đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Vùng biển này có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản, thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía Bắc Biển Đông.

Quần đảo Hoàng Sa gồm 2 cụm đảo chính là cụm Lưỡi Liềm ở phía Tây và cụm An Vĩnh ở phía Đông.

1. Cụm Lưỡi Liềm: Có hình cánh cung hay lưỡi liềm nằm về phía Tây quần đảo, gần đất liền Việt Nam, gồm 08 đảo chính là Đá Bắc, Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ánh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn và các bãi ngầm, mõm đá.

- Đảo Đá Bắc có tọa độ địa lý 17006,0 vĩ độ Bắc và 111030,8 kinh độ Đông.

- Đảo Hoàng Sa nằm ở tọa độ 16032,0 vĩ độ Bắc và 111036,7 kinh độ Đông, có hình bầu dục, độ cao 9m, diện tích 0,5km², dài khoảng 950m rộng khoảng 650m, có vòng san hô bao quanh. Tuy không phải là đảo lớn nhất nhưng Hoàng Sa là đảo chính của quần đảo, có vị trí quân sự quan trọng nhất cho việc phòng thủ bờ biển Việt Nam. Trên đảo Hoàng Sa từng có bia chủ quyền của Việt Nam với dòng chữ khắc trên bia: République Francaise – Emfire d’ Annam(Cộng hòa Pháp – Vương triều An Nam – Quần đỏa Hoàng Sa). Ngoài ra trên đảo còn có Miếu Bà, một số ngôi mộ của binh lính triều Nguyễn ra canh giữ đảo bị chết tại đây.

- Đảo Hữu Nhật mang tên Đội trưởng của một số suất đội Thủy quân triều Nguyễn được vua Minh Mạng phái ra Hoàng Sa đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền của Việt Nam. Đảo Hữu Nhật nằm về phía Nam và cách Hoàng Sa 3 hải lý, ở tọa độ 16030,3 vĩ độ Bắc và 111035,3 kinh độ Đông, dáng đảo hình tròn, đường kính 800m, độ cao 8m, diện tích 0,6km², có vòng đai san hô bao ngoài, giữa là vùng biển lặng.

- Đảo Duy Mộng nằm về phía Đông Nam đảo Hữu Nhật và phía Đông Bắc đảo Quang Hòa, ở tọa độ 16027,6 vĩ độ Bắc và 111044,4 kinh độ Đông, do san hô cấu tạo thành, bãi san hô nằm xa đảo, nhô lên khỏi mặt nước khoảng 4m, có hình bầu dục, diện tích 0,5km².

- Đảo Quang Hòa ở tọa độ 16026,9 vĩ độ Bắc và 111042,7 kinh độ Đông, do san hô cấu thành, là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm diện tích gần 0,5km², trên đảo có nhiều cây cối, xung quanh đảo là một bãi san hô màu vàng nhạt, nhô ra rất xa đảo, nối với một số đảo nhỏ khác thành đảo Quang Hòa Đông và Quang Hòa Tây.

- Đảo Quang Ánh mang tên nhân vật lịch sử Phạm Quang Ánh – Đội trưởng đội Hoàng Sa thời Nguyễn, theo lệnh vua Gia Long ra Hoàng Sa thu hồi hải vật.

Đảo nằm ở tọa độ 16027,0 vĩ độ Bắc và 111030,8 kinh độ Đông do san hô cấu tạo thành, độ cao 6m. Chung quanh đảo là bờ biển có nhiều đá ngầm sắc nhọn rất nguy hiểm, tàu lớn không thể thả neo gần đảo mà phải thả neo ở ngoài khơi, muốn vào đảo phải sử dụng thuyền nhỏ. Đảo có hình bầu dục, diện tích khoảng 0,7km²

- Đảo Bạch Quy nằm ở tọa độ 16003,5 vĩ độ Bắc và 111046,9 kinh độ Đông, đây là đảo có độ cao 15m, cao nhất trên quần đảo Hoàng sa.

- Đảo Tri Tôn nằm ở tọa độ 15047,2 vĩ độ Bắc và 111011,8 độ kinh Đông, nằm gần bờ biển Việt Nam nhất, có nhiều hải sâm, ba ba. San hô ở đây phát triển mạnh và đa dạng.

Ngoài ra, ở cụm Lưỡi Liềm còn có một số đảo nhỏ, mõm đá và bãi đá như sau:

- Đảo Ốc Hoa có tọa độ địa lý 16034,0 vĩ độ Bắc và 111040,0 kinh độ Đông;

- Đảo Ba Ba có tọa độ địa lý 16033,8 vĩ độ Bắc và 111041,5 kinh độ Đông;

- Đảo Lưỡi Liềm có tọa độ địa lý 16030,5 vĩ độ Bắc và 111046,2 kinh độ Đông;

- Đảo Hải Sâm có tọa độ địa lý 16028,0 vĩ độ Bắc và 111035,5 kinh độ Đông;

- Đá Lồi có tọa độ địa lý 16015,0 vĩ độ Bắc và 111041,0 kinh độ Đông;

- Đá Chim Én có tọa độ địa lý 16020,8 vĩ độ Bắc và 112002,6 kinh độ Đông;

- Bãi Xà Cừ có tọa độ địa lý 16034,9 vĩ độ Bắc và 111042,9 kinh độ Đông;

- Bãi Ngự Bình có tọa độ địa lý 16027,5 vĩ độ Bắc và 111039,0 kinh độ Đông;

- Bãi ngầm Ốc Tai voi có tọa độ địa lý 15044,0 vĩ độ Bắc và 112014,1 kinh độ Đông;

2. Cụm An Vĩnh: Đặt tên theo tên của xã An Vĩnh thuộc huyện đảo lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; nằm ở phía Đông, bao gồm các đảo tương đối lớn của quần đảo Hoàng Sa và cũng là các đảo san hô lớn nhất của biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn Đá.

- Đảo phú Lâm nằm ở tọa độ 16050,2 vĩ độ Bắc và 112020,0 kinh độ Đông, là đảo quan trọng nhất của cụm đảo An Vĩnh và quần đảo Hoàng Sa, là đảo duy nhất từ xa có thể nhìn thấy được. Đảo có chiều dài đến 1,7km, chiều ngang 1,2 km. Trên đảo có nhiều chim biển cư trú nên có một lớp phân chim khá dày, đã từng có một công ty Nhật Bản đến khai thác phân chim tại đây.

- Đảo Linh Côn mang tên một con tàu đắm tại đây, có tọa độ 16040,3 vĩ độ Bắc và 112043,6 kinh độ Đông, cao chừng 8,8m, trên đảo có nước ngọt. Vùng san hô bao quanh đảo kéo dài về phía Nam đến 15 hải lý.

- Đảo Cây nằm ở tọa độ 16059,0 vĩ độ Bắc và 112015,9 kinh độ Đông.

- Đảo Trung (còn gọi là đảo Giữa) nằm ở tọa độ 16057,6 vĩ độ Bắc và 112019,1 kinh độ Đông;

- Đảo Bắc nằm ở tọa độ 16058,0 vĩ độ Bắc và 112018,3 kinh độ Đông;

- Đảo Nam nằm ở tọa độ 16057,0 vĩ độ Bắc và 112019,7 kinh độ Đông;

- Đảo Đá nằm ở tọa độ 16050,9 vĩ độ Bắc và 112020,5 kinh độ Đông, diện tích 0,4 km².

Ngoài các đảo như trên, cụm An Vĩnh còn có nhiều mỏm đá, cồn cát và bãi đá đó là:

- Đá Trương Nghĩa có tọa độ địa lý 16058,6 vĩ độ Bắc và 112015,4 kinh độ Đông;

- Đá Sơn Kỳ có tọa độ địa lý 16034,6 vĩ độ Bắc và 111044,0 kinh độ Đông;

- Đá Trà Tây có tọa độ địa lý 16032,8 vĩ độ Bắc và 111042,8 kinh độ Đông

- Đá Bông Bay có tọa độ địa lý 16002,0 vĩ độ Bắc và 112030,0 kinh độ Đông;

- Bãi Bình Sơn có tọa độ địa lý 16046,6 vĩ độ Bắc và 112013,2 kinh độ Đông;

- Bãi Đèn Pha có tọa độ địa lý 16032,3 vĩ độ Bắc và 111036,9 kinh độ Đông;

- Bãi Châu Nhai có tọa độ địa lý 16019,6 vĩ độ Bắc và 112025,4 kinh độ Đông;

- Cồn Cát Tây có tọa độ địa lý 16058,9 vĩ độ Bắc và 112012,3 kinh độ Đông;

- Cồn Cát Nam có tọa độ địa lý 16055,6 vĩ độ Bắc và 112020,5 kinh độ Đông;

- Hòn Tháp, có tọa độ địa lý 16034,8 vĩ độ Bắc và 112038,6 kinh độ Đông;

- Bãi Cạn Gò Nối có tọa độ địa lý 16049,7 vĩ độ Bắc và 112053,4 kinh độ Đông;

- Bãi Thủy Tề có tọa độ địa lý 16032,0 vĩ độ Bắc và 112039,9 kinh độ Đông;

- Bãi Quang Nghĩa có tọa độ địa lý 16019,4 vĩ độ Bắc và 112041,1 kinh độ Đông.

Du lịch, GO! - Theo BEE, internet

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Sống với sóng

Lý Sơn tôi chợt nghiệm ra một điều. Thiên nhiên – trong đó có cả biển, bao giờ cũng hành xử công bằng. Có thể lấy đi tất cả, nhưng cũng lại hào phóng dâng tặng những hương vị nồng nàn vốn có, nếu như ta tâm huyết với nó!

Sau khoảng gần 1 giờ bồng bềnh trên những con sóng giữa làn nước bát ngát xanh, chuyến tầu cao tốc từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) đưa chúng tôi đến với huyện đảo Lý Sơn.

Tàu vừa kéo còi cập bến, mới chỉ nhìn nhọ mặt người đang vẫy tay trên đảo tất cả chúng tôi như biến thành những con người khác. Cơn mệt mỏi vì say sóng vụt tan biến. Ai cũng háo hức với những bước chân đầu tiên trên mảnh đất đầy sóng gió. Giữ đại dương mênh mông xanh biếc, Lý Sơn nổi lên với những vòm cây xanh của sự sống. Nhìn kỹ còn có cả cổng chào, băng khẩu hiệu, cờ bay phấp phới.

Ngồi trên thuyền, nhìn xuống đáy biển mà reo lên như trẻ nhỏ. Qua làn nước trong như pha lê, cả một thế giới thủy cung hiện ra rõ mồn một như một thước phim màu. Những chú cá to, nhỏ màu sắc khác nhau lao vun vút. Những chú tôm mực kềnh càng, rồi ốc cừ la liệt như nằm ngủ…

Tàu cập bến. Người dân huyện ùa ra đón đoàn. Dưới nắng trưa chói chang, những nụ cười lóa nắng nở trên những gương mặt nâu đen sạm đang dãn ra vì niềm vui. Họ nồng nhiệt giành mang giúp chúng tôi hành lý về nơi nghỉ đã chờ sẵn.

Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn có dáng người roi rói, tác phong điềm đạm nho nhã nhưng vẫn có phần quyết liệt. Chắc dáng vóc dáng này từ ngày xưa vẫn thế - chả hiểu sao tôi lại nghĩ thế. Anh không tâm sự nhiều về thế mạnh của đảo mà chỉ buồn về tình hình trật tự an toàn xã hội của đảo. Hóa ra từ đầu năm đến giờ trên đảo tăng những 6 vụ so với năm ngoái. Tôi hoảng. Rồi bật cười khi biết 6 tháng năm 2010 còn không xảy ra vụ nào. Chủ tịch huyện Lý Sơn thì vẫn dí dủm: “đấy, diện tích đảo chỉ có thế (vỏn vẹn 10km2), mời nhà báo cứ đi thực tế tìm hiểu”.

Những bước chân đầu tiên bao giờ cũng thế, luôn mang lại những cảm giác mới lạ. Đi về hướng nào cũng vậy, chỉ một lát lại thấy biển. Mỗi bước chân đặt trên đất ông bà đều cháy bỏng ý thức hy sinh vô bờ bến vì sự nghiệp giữ gìn biên cương và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước Đại Việt kể từ khi người Việt định cư ở phủ Tư Nghĩa, nay là tỉnh Quảng Ngãi. Dưới thời các chúa Nguyễn quần đảo Hoàng Sa trực thuộc quản lý hành chính của Thừa tuyên Quảng Nam - dưới danh nghĩa nhà Lê; về sau thuộc phủ Quảng Nghĩa.

Đầu thế kỷ XVII các bậc tiền hiền hai xã An Vĩnh và An Hải, ở phía bắc cửa Sa Kỳ, đưa dân di cư ra Cù Lao Ré khai canh hai phường An Vĩnh và An Hải. Có lẽ thế mà biên chế của đội Hoàng Sa chủ yếu được tuyển chọn ở đây, các chúa Nguyễn, vua Nguyễn chọn Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) làm điểm xuất phát của đội Hoàng Sa là hợp lý nhất.

Chưa thấy hòn đảo nào mà mật độ di tích lịch sử, văn hóa đậm đặc như ở Lý Sơn. Đó là Âm Linh Tự với bia “Chiến sĩ trận vong” là nơi thờ tự những người lính ngày trước đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ngoài Hoàng Sa.

Là đình An Vĩnh là điểm xuất phát của Đội Hoàng Sa. Ngoài ra còn có đình An Vĩnh và An Hải, ngoài việc làm nơi thờ cúng của cư dân trên đảo, hai ngôi đền này, với kiểu kiến trúc độc đáo của nó, còn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa qua cách chạm khắc vừa Chăm, vừa Việt. Rồi chùa Hang, chùa Đục, hang Câu, miếu bà Chúa Ngọc... Ông cha ta quả dày công và rất mực khôn ngoan khi cắm trải đậm đặc những di tích cổ truyền ở rẻo đất này.

Trong gần ba thế kỷ, hòn đảo nhỏ giữa đại dương đã dâng hiến nhiều trai tráng của mình cho các suất đội Hoàng Sa thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Chiều. Cũng là lúc tình cờ mà tôi gặp Phạm Văn Thắm, một thanh niên gốc mấy đời ở Lý Sơn. Cuộc đời có nhiều điều thật ngộ.

Thắm biết tất cả mọi thứ về Lý Sơn nhưng lại không biết… bơi - cái điều mà dân biển đương nhiên phải biết. Hóa ra anh đã có thời gian dài về TP HCM học công nghệ thông tin rồi quay lại đảo để mạnh dạn mở một quán Internet. Nguồn điện phải chạy bằng máy phát điện. Anh tâm sự:
- Bươn chải mãi, giờ mới thấy chẳng đâu bằng quê nhà – no đói đều trông vào mẹ biển.

Tôi hiểu nỗi niềm anh. Bởi chả đâu xa, các cụ nhà anh cũng là những người tham gia vào đội dân binh Hoàng Sa ngày nào. Họ ra biển bảo vệ chủ quyền để lại trên bờ ngôi mộ gió và cả sự ngưỡng mộ vô cùng với đời sau. Thế mới có những câu ca bi tráng: Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về; Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây… Và chắc hẳn như thế rồi – đời nối đời – dân Lý Sơn kiên trung bám đất bám biển. Không chỉ vì miếng cơm manh áo đời mình mà còn vì cơ nghiệp tổ tông và chủ quyền đất nước.

Sau buổi nhậu đêm từ nhà Thắm về biết là muộn những tôi vẫn xin phép được đi bộ về nơi ngủ. Những bước chân vô định, lần theo con đường ngả nghiêng trong gió biển mặn mòi. Mùa này biển như sáng hơn và trời như cao hơn. Thi thoảng lại gặp một chú cua từ biển lên nghênh ngang bò. Thiên nhiên quả thực đã ưu ái cho Lý Sơn. Thế mới hiểu, tại sao cái đảo bé nhỏ Lý Sơn với diện tích chỉ non 10 km vuông mà vòng tay ôm trọn gần 21 ngàn người.

 ************

Mới sáng ra mà nắng đã chói chang. Cả khu vực cầu cảng mặn mòi mùi tôm cá và ngào ngạt hương vị biển trong cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền. Mọi người xúm lại gỡ lưới. Cá mắt đen nhánh. Tôm thuyền mắt như ngọc bích, hai hàng chân khua khua như mái chèo. Ghẹ vẫn dựng đứng hai mắt, cẳng khua lạo rao.

Vừa rảo tay gỡ lưới một ngư dân trẻ vừa tiếp chuyện tôi. Tôi không nghĩ dân biển hay chuyện đến thế. Mãi sau mới hiểu chả là đêm canh lưới giữa biển khơi chỉ mong người tiếp chuyện. Những đêm ở ngoài khơi không có sóng mà chỉ yên ả, lặng phắt. Cả đêm ngồi như thế. Có lấy một lần di động reo thì mừng quá – hóa ra lại là cuộc gọi lỡ. Sóng điện thoại ra tận đấy ư? Tôi hỏi mà không ngờ người tự hào lại chính là anh dân bản địa: “Chứ còn sao nữa!”.

Bên cạnh hành tỏi, nhờ biển mà những người con làng vạn chài Lý Sơn lớn lên những biển cũng rất nghiệt ngã và bạc bẽo… những người đàn ông làng chài, sống chết cũng chẳng biết đâu mà lường. Nhiều người đã bỏ mạng ngoài biển cả vì lốc xoáy. Ngay đầu năm nay thôi, tàu do ông Lê Minh Tân (thôn Đông – xã An Vĩnh) cùng 6 ngư dân đi khai thác rau chân vịt tại vùng biển Hoàng Sa đã mất tích do biển động. Giờ lại thêm nỗi lo “tàu lạ”.

Cho đến giờ, chiều chiều vẫn có những người đàn bà đứng ở đầu ghềnh nhìn ra biển. Có người mất con, mất chồng còn chạy như điên dại dưới bãi cát, trong tiếng sóng chồm, gió hú đến rợn người.

Là nói vậy thôi chứ từ chủ tịch đến dân ai ai cũng với giọng đặc sệt Quảng Ngãi, âm nọ tiếp âm kia, âm nào cũng như dao chém vào đá đều quyết tâm bám biển, bám giữ ngư trường để khẳng định chủ quyền lãnh hải. Và như một quy luật tự nhiên, tại nơi đây, hầu hết trai tráng trở thành ngư dân và đàn bà ở nhà trồng tỏi.

Thì cũng biết nguồn lợi rất lớn từ những chuyến biển xa, nhưng cũng phải có một tình yêu quê biển từ trong máu, người Lý Sơn mới chắc tay lưới trên vùng lãnh hải thiên liêng của tổ quốc đến thế.

Chuyến hành trình của chúng tôi bị rút ngắn lại, theo lệnh của trường đoàn: phải vào bờ ngay để tránh cơn bão đang sầm sập đổ. Bên cầu tầu, đoạn nhoai về đất liền, vẫn những con người quả cảm và hồn hậu ấy tiễn chúng tôi ra tận bến. Chia tay tôi, Thắm cứ nắm chặt như chẳng muốn rời. Bàn tay chàng trai thư sinh nhất Lý Sơn ấy cũng vẫn chắc như gọng kìm và đôi mắt quắc lên ngời ngợi…

Tôi im lặng bởi lát nữa thôi sẽ trở về đất liền. Trong đầu tôi toàn là những "câu hỏi lớn không lời đáp" (thơ Huy Cận). Và bỗng nhận ra vì sao mỗi lần tới một bờ biển nào đó, bước chân tôi lại rụt rè...

Gần cầu tàu, sau bao năm sóng gió, đến nay, người ta vẫn thấy rất nhiều cây bàng vuông. Lại gần thì thấy: Trên mình nó còn loang lổ hằng hà những phong ba bão táp. Nhưng chúng vẫn hiên ngang. Rồi sóng. Rồi gió. Rồi vẫn là sự trường tồn với thời gian.

Du lịch, GO! - Theo Tuanvietnam, internet

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Ra Hòn Nghệ viếng chùa Liên Tôn

Về Hà Tiên, du khách ghé Ngã Ba Hòn lên tàu ra Hòn Nghệ để viếng Liên Tôn cổ tự. Đây là một ngôi chùa cổ kính, hoang sơ với cảnh quan tuyệt đẹp.

< Trên đường ra hòn Nghệ: đây như “Tiểu Hạ Long” phương Nam.

Sau hai giờ hải hành trên biển với gió thường cỡ cấp 2, cấp 3, tàu cập bãi Nam của Hòn Nghệ. Từ phía biển, du khách sẽ được chiêm ngưỡng bức tranh non nước hữu tình của hòn đảo xinh đẹp này. Ấn tượng đầu tiên là tượng Phật Bà Quan Âm cao 20m đứng uy nghi, tự tại giữa lưng chừng núi Lầu Chuông. Đây là ngọn núi đá vôi bị xâm thực nên có hình dáng đẹp, kỳ vĩ với nhiều hang động bí hiểm.

Khách sang thuyền nhỏ vào bờ. Sau mươi phút nghỉ ngơi đã có thể bắt đầu khám phá Hòn Nghệ. Chùa cổ Liên Tôn là điểm đến chủ yếu của chuyến đi.

Liên Tôn cổ tự có từ rất lâu đời, nằm cheo leo dựa lưng vào vách núi. Bạn phải qua hàng trăm bậc đá ngoằn ngoèo, quanh co, lúc lên cao, khi xuống thấp. Gần tượng Phật Bà có Hòn Đá Chuông kỳ lạ, dùng một cục đá nhỏ gõ vào, đá sẽ vang lên tiếng “boong... boong... boong...”, như tiếng chuông chùa ngân nga, đồng vọng.

Đến gần chùa, bên trái vách núi là một quần thể tượng các vị La Hán bằng đá trắng được tạc đẽo, tạo dáng rất công phu, tỉ mỉ và thanh thoát. Trên bề mặt của một tảng đá to sau lưng vườn tượng, nước mưa chảy, gió biển mài mòn, xâm thực lâu ngày tạo thành những dòng chữ lạ lùng.

< Liên Tôn cổ tự.

Chánh điện chùa cổ nằm sâu trong hang đá chừng 20m, phải đi theo một lối mòn hẹp mới đến được chỗ thờ Phật, nơi đây nở rộng ra chừng 80m2. Quanh vách động có nhiều hình tượng lạ lùng do nước xoi vào đá tạo nên như  rồng, voi, sư tử, beo, cọp...

Trên nóc động có vài lỗ thông gió, ánh sáng rọi xuống hang tạo thành những vệt sáng xiên xiên mờ ảo... Ở sân chùa, có một cây bồ đề cổ thụ cành lá sum sê.

< Tượng Phật Bà Quan Âm ở núi Lầu Chuông.

Đêm trên chùa Liên Tôn sẽ cho bạn nhiều cảm xúc. Vào những ngày có trăng từ mồng 10 đến sau rằm, cảnh vật núi Lầu Chuông và biển Hòn Nghệ đẹp như chốn non bồng. Biển sáng lấp lánh với muôn vàn vẩy bạc ánh lên từ những ngọn sóng có khi lăn tăn, yên ắng, cũng có lúc trắng xóa, bạc đầu. Chùa cổ như trầm tư trong làn sương mỏng huyền hoặc, thâm u. Du khách mơ màng trong tiếng trống mõ, chuông chùa hòa với tiếng sóng biển vỗ xào xạc vào những ghềnh đá hoang sơ...

Chúng tôi theo sư Thích Minh Công khám phá hang Phật Cô Đơn. Đường đi qua nhiều ngóc ngách quanh co lắt léo, có khi phải bò qua những mỏm đá. Hang nhỏ bằng một gian phòng khách, có một tượng Phật lẻ loi bằng đá, khoác áo cà sa màu gạch tôm mà ai đó đã đặt chẳng biết tự bao giờ. Từ cửa hang có thể nhìn thấy biển đẹp như bức tranh thủy mặc...

Tiếp đến là hành trình dài chừng 100m khám phá hang Gia Long dành cho những ai thích mạo hiểm. Hang nằm sát biển ở độ cao trên 10m, vách gần như thẳng đứng. Có hai con đường đi đến hang, một dọc theo mép biển, hai vượt qua đỉnh núi đá tai mèo cheo leo. Cả hai con đường này rất hiểm trở với gành đá, vực sâu, núi cao, gây cảm giác mạnh cho khách.

Vào các dịp lễ hội hoặc những ngày rằm lớn, khách hành hương từ các nơi vượt biển đến với chùa Liên Tôn khá đông đúc, nhộn nhịp. Mọi người như trút hết những phiền não, tĩnh tâm chiêm nghiệm lời kinh tiếng kệ ấm trầm ngân vọng giữa chốn thiền lam u nhã...

Hòn Nghệ với Liên Tôn cổ tự và các hang động như hang Phật Cô Đơn, điện Sư Tổ Đạt Ma, hang Quýt, hang Gia Long với những truyền thuyết và huyền thoại ly kỳ vẫn còn ẩn giấu rất nhiều điều bí mật, lạ lùng đang chờ được du khách khám phá!

Du lịch, GO! - Theo TTO, internet

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Ký ức Tết Trường Sa

Trong hành trình làm báo của mình, tôi đi công tác Trường Sa nhiều lần. Và cũng tại nơi ấy, tôi có những trải nghiệm Tết mà có lẽ chẳng nơi đâu có được.

Đón Giao thừa với giá xào… dầu

Năm 2000, tôi cùng anh em bộ đội Hải quân tàu HQ-996 chuyển hàng Tết ra Trường Sa. Gió chướng cuối năm thổi ràn rạt. Tôi và anh Trần Văn Lương, Thuyền phó chính trị Tàu HQ-996 đang ngồi uống nước trên boong, bỗng nhiên bộ ấm chén chao đi rồi nhảy tót xuống sàn sắt, vỡ tan.
Anh Lương lầm bầm: “Lại mấy con sóng hỗn đây, lát nữa tàu lắc phải biết. May mà cơm nước đã xong, không thì lại khổ mấy anh nuôi”.

Gặp “sóng hỗn”, các anh nuôi rất vất vả. Trong ngăn bếp chật hẹp, tàu cứ nghiêng bên nọ, hất bên kia, thành thử anh nuôi luôn phải giữ thăng bằng cho... đồ ăn. Lắm lúc, phải nhấc bổng nồi canh lên kẻo sóng tát hết nước ra ngoài. Trông các anh nuôi lúc ấy chẳng khác gì diễn viên xiếc.

Sau hai đêm một ngày hành xác, uống hết nửa lít rượu để... chống say sóng, chúng tôi cũng đến được đảo Song Tử Tây. Sóng to, gió lớn, vào được đảo không phải chuyện đùa. Với chúng tôi, những người cũng đã được rèn luyện chút ít ở đơn vị trước khi đi làm báo thì không nói làm gì, còn với các anh nhà báo ngoài quân đội thì quả là nỗi khiếp sợ thực sự.

Chuẩn bị xuống xuồng chuyển tải, các nhà báo vai đeo ba lô, ngực mang máy ảnh, lủng lẳng đồ nghề, chầu chực ở hành lang với khuôn mặt nhợt nhạt vì say sóng nhưng hào hứng vô cùng. Từng người một, cả bốn chân tay túm chặt vào lan can tàu, lủng lẳng như một quả đu đủ treo trên cao, chờ cho con sóng dềnh lên thì nhảy vào lòng xuồng.

Khối anh chậm chân, nên khi xuồng đã tụt xuống rồi thì “quả đu đủ” mới... rụng xuống, đầu va vào thành xuồng đánh cốp, mặt mũi nhăn nhó, nhưng miệng lại hềnh hệch cười “không sao, không sao”.

Lên Song Tử Tây, tôi may mắn làm sao khi gặp ngay được thằng bạn thân thời còn cơm nắm, nằm sương ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Thượng úy Nguyễn Duy An, Cụm phó cụm chiến đấu số 1. Tối ấy, An kéo tôi về cụm của nó “đón giao thừa trước”. Nó lôi trong tủ súng ra mấy hộp thịt rồi gọi cậu liên lạc bảo “Đem đi xào giá!”.

Ái chà, ở đây mà cũng có giá (đỗ) cơ à? Thì ra lính ta cũng khôn thật. Sau gần một tháng gió chướng, bao nhiêu rau cỏ trong vườn chết sạch vì bụi muối bay vào, trên mâm cơm chỉ còn thịt hộp và cá khô. Xót ruột không chịu được.

Một hôm, có anh lính tình cờ đi khơi cống rãnh sau bếp phát hiện ngay ra mấy mầm đỗ xanh đang vươn lên trong lòng cống. Sau nhiều ngày “vỡ óc suy nghĩ, chúng tôi mới nghĩ ra cách ngâm giá đỗ bằng cát và bao tải, mặt mũi mới phởn phơ thế này. Chứ không thì thằng nào thằng ấy đều nhăn nhó, nhất là lúc đi từ... toa-lét ra” –An nói vậy khi trịnh trọng gắp một đũa giá xào thịt hộp bỏ vào bát tôi.

Vừa nhấm nháp chút giá xào của bạn mặt tôi đã nhăn tít. Trời ạ, nó vừa cay nồng, vừa... hôi rình, toàn mùi dầu hỏa. Tôi nói điều đó với An, nó còn lớn tiếng: “Bậy nào, rau sạch hoàn toàn đấy” và nó cũng thử một miếng rõ to. Quai hàm nó vừa cử động đến lượt thứ hai thì bỗng trợn mắt, lắc đầu: “Hỏng, hỏng. Mấy thằng này mắt mũi để đâu mà nhầm lẫn kiểu này”. Thì ra trong bếp có chai dầu hỏa để cạnh chai mỡ nước, lại chả có đèn đóm gì, nên cậu liên lạc trong phút lơ đễnh đã dốc tuột chai dầu hỏa vào chảo giá xào.

Không còn giá xào với thịt hộp, chỉ còn lại chai rượu trắng tôi thủ được từ trên tàu, chúng tôi “đón giao thừa trước” giữa Trường Sa bằng chén rượu suông nhắm với... những câu chuyện về đồng đội. Đúng 0 giờ, tôi và An đi ra mép biển thắp hương cho ba đồng đội đã hy sinh ở Trường Sa mà chưa đưa về đất liền được. 1 giờ sáng, chúng tôi cấp tốc ra tàu bởi lúc ấy sóng yên...

Tết trồng cây bằng… thó

Giờ đây, ra các đảo nổi ở Trường Sa, chỗ nào cũng thấy cây xanh ngút mắt. Để có được những hàng cây ấy cán bộ, chiến sĩ trên các đảo đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức. Tôi được nghe Thiếu tá Trần Văn Tài, Quyền cụm trưởng Cụm chiến đấu số 3 kể về việc phát động “Tết trồng cây” trên đảo Trường Sa Lớn với những chi tiết không thể quên khi tôi ra Trường Sa vào năm 2007.

“... Sáng mồng hai Tết chúng tôi đã phát động “Tết trồng cây”. Buổi sáng, cứ hai người được phát một chiếc thó mới tinh cộng với một chiếc búa. Chỉ tiêu đưa ra là mỗi người trồng một cây sống. Phần thưởng là 10 cân... rau xanh cho bộ phận nào trồng được nhiều cây sống nhất. Mấy anh lính trẻ vừa từ đất liền ra thay quân, tay cứ mân mê chiếc thó, mặt mũi ngẩn ngơ.

Trồng cây thì phải mang xẻng, cuốc ra chứ, ai lại mang cái thó sắt ngắn tũn ra, kiểu như trẻ con đi ngoáy dế thế này thì trồng cây sao được. Ngay sau lễ phát động, cánh lính trẻ đã quăng thó, bỏ búa, mỗi anh một cái xẻng hăng hái phóng ra bãi cát san hô phía sau cột mốc chủ quyền. Sức khỏe tốt, lưỡi xẻng sắc, vậy mà không sao ấn được xuống cát. Thì ra trên bề mặt đảo chỉ có lớp cát khoảng hai chục phân, còn bên dưới toàn đá san hô.

Bấy giờ, mấy chàng mới cuống cuồng đi tìm thó, tìm búa. Cái giống đá san hô ngấm nước biển lâu ngày dẻo như kẹo kéo, thành thử các chiến sĩ phải nậy từng tí một. Đến chiều, đầu những chiếc thó đã xòe ra như rau muống chẻ mà cái hố trồng cây vẫn nông choèn.
Thế nhưng đến ngày mồng 5 Tết, cụm của Tài đã đào được gần hai chục hố sâu lút đầu người. Bấy giờ cát, lá cây mới được cho vào hố ủ, chờ đến giữa xuân bắt đầu trồng cây.

Khi chúng tôi ra đảo, gần hai chục cây phong ba do Tài và các chiến sĩ trồng đã nhú những mầm xanh mướt. Tài lôi dưới gầm giường ra một ba lô nặng chịch khoe với tôi “của chìm” toàn những chiếc thó cũ chỉ còn ngắn cỡ ngón tay. Tài bảo: “Tôi sẽ đem về đất liền làm kỷ niệm...”.
Cho đến hè vừa rồi (2011), Tài (quê Bắc Giang) đưa vợ xuống Hà Nội chơi. Gặp chúng tôi, vợ cậu ta chưa hết xúc động “Cứ mỗi lần nhìn những chiếc thó cũ của anh Tài, em lại rưng rưng cảm phục ý chí của bộ đội Trường Sa. Cũng vì thế mà em yêu chồng hơn...”.

“Trưởng nhớ… u”

Đêm 30 Tết, trời trên đảo nhờ nhờ tối. Sóng biển vẫn ì oạp đập vào thềm san hô. Thiếu tá Phạm Văn Hiến, Đảo trưởng đảo Phan Vinh đi kiểm tra một vòng quanh đảo trước khi về sở chỉ huy chuẩn bị cho bộ đội đón giao thừa. Khi đến gần trạm canh gác phía Tây của đảo, anh bỗng nghe tiếng sụt sịt lẫn vào tiếng sóng biển.
Chẳng lẽ trời rét thế này mà bọn vích cũng mò vào đảo hay sao? Hướng tai ra phía biển, Hiến chẳng nghe thấy gì. Quay về phía vọng gác, tiếng sụt sịt có vẻ rõ hơn. Hiến tiến về phía vọng gác và thấy một chiến sĩ trẻ, vai mang súng, tay cầm thứ gì giống như một tấm ảnh.

Nhìn hình dáng, anh nhận ngay ra Trung sĩ Bùi Đình Trưởng, Khẩu đội trưởng pháo 23mm. Cậu này mới ra đảo nhận nhiệm vụ chưa được 1 tháng. Trưởng quê Nam Định, cao ráo, đẹp trai, nói năng khá trôi chảy, hình như đã có bạn gái ở quê, bởi lần nào tàu ra cũng thấy Trưởng nhận được một xấp thư, nét chữ mượt mà. Gia đình cậu ta bố mẹ còn khỏe. Trưởng là con út, trên còn có anh và chị gái.

Hiến gõ nhẹ vào vách vọng gác. Trung sĩ Trưởng giật mình, giấu ngay vật đang cầm trên tay vào ngực áo. Nhìn thấy đảo trưởng, anh chàng quệt ngang mắt rồi nức nở: “Anh ơi...ơ... i! Em nhớ... nhớ... u em quá”. Hiến nhẹ nhàng động viên: “Nào bình tĩnh đi, chiến sĩ Trường Sa phải cứng cáp như cây phong ba trên đảo. Ai lại như đào, như liễu thế kia. Ở nhà mà biết chuyện thì xấu hổ chết...”. “Dưng mà, dưng mà em nhớ...”. “Nhớ u chứ gì? Hoàn thành nhiệm vụ trên đảo, cậu sẽ tha hồ ở cạnh u. Chỉ sợ lúc ấy cậu lại nhớ chúng tớ ở đảo thì khó mà ra được...”.

Sáng mồng một Tết, Hiến đi kiểm tra các phân đội trước khi tổ chức chấm giải trang hoàng nơi đón Tết. Khi đến chỗ Trưởng nghỉ, Hiến phát hiện ra trong yếm ba lô của Trưởng có tấm hình một cô gái khá xinh. Anh chợt hiểu ra câu chuyện của Trưởng trong vọng gác tối qua.
Lúc ấy Trưởng cũng đi rửa mặt về, Hiến vờ như không biết hỏi nhỏ: “Trưởng này, sao u cậu... trẻ thế?”. “Dạ... dạ đấy là... là ảnh... u em hồi trẻ đấy ạ”. Biết là cậu chiến sĩ của mình nói dối, anh bèn bâng quơ: “Ừ, u... xinh thế nên nhớ là phải”. Nghe câu nói của đảo trưởng, mặt mũi Trưởng đỏ lựng...

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ trên đảo, ngày chuẩn bị theo tàu vào đất liền nhận nhiệm vụ mới, Trưởng mới khai thật với đảo trưởng Hiến: “Đêm giao thừa ấy, bất chợt bị anh bắt gặp nên em ngượng, đành nói dối là... nhớ u. Chuyện này, em xin anh đừng nói cho ai biết, kẻo em xấu hổ chết...”.

Giữ lời hứa với Trưởng, mãi sau này Hiến mới kể cho mình tôi nghe. Thế nhưng không hiểu tại sao, ngay sau khi Trưởng về đất liền thì anh em trong phân đội thuộc Lữ đoàn 146 đã gọi Trưởng bằng biệt danh “Trưởng nhớ u”. Đến bây giờ ở Lữ đoàn 146 vẫn còn cái biệt danh ấy...

Du lịch, GO! - Theo báo Suckhoe, internet
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...