Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Đèo Khánh Lê: con đường nối biển và hoa

Con đèo dài nhất Việt Nam từ Nha Trang đi Đà Lạt, nối liền hoa và biển, có nhiều tên, nhưng chỉ có một sườn. Khánh Lê đúng là một con đường đèo đầy chất thơ và nhiều cảm xúc.

1.Đường tỉnh 723 / 652 nối đoạn cuối tỉnh lộ 723 tại huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng với tỉnh lộ 652 tại huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa. Do đó nó cũng là đường nối thẳng biển Nha Trang với cao nguyên Lâm Đồng, nối Quốc lộ 20 trên cao nguyên với Quốc lộ 1A ven biển.
Vì vậy nó  còn được gọi là "con đường nối biển và hoa". Đây là con đường liên tỉnh mới mở nên tên gọi cũng chưa thống nhất. Lâm Đồng coi nó là tỉnh lộ 723 của Lâm Đồng nối dài.

Còn Khánh Hòa coi nó là tỉnh lộ 652 nối dài. Con đường ra đời rút ngắn khoảng cách từ Nha Trang đến Đà Lạt gần 80km, chỉ còn gần 140km so với con đường vượt đèo Ngoạn Mục, Ninh Thuận dài 220km trước đây.

2.Tên con đèo cũng đa dạng. Người Khánh Hòa gọi là đèo Khánh Lê theo tên của xã Khánh Lê thuộc huyện Khánh Vĩnh nằm dưới chân đèo. Người Lâm Đồng gọi là đéo Bi Đoup theo tên đỉnh núi  Bi Đoup  cao 2287 m của cao nguyên Lang Biang Lâm Đồng mà con đèo cắt qua gần đó.

Cũng có người gọi là đèo Hòn Giao theo tên dãy núi Hòn Giao nằm xế phía bắc con đèo, tuy đỉnh Hòn Giao cao 2062m nằm trên cao nguyên Lang Biang của Lâm Đồng nhưng cái tên Hòn Giao lại là tên kiểu Khánh Hòa đặt cho dãy núi ranh giới này (cùng các dãy núi khác của Khánh Hòa có tên bắt đầu bằng chữ Hòn như Hòn Bà, Hòn Sạn,…). Dù tên là gì thì con đèo vẫn là con đường du lịch đầy chất thơ và cảm xúc, cả ngẩn ngơ vì vẻ đẹp lẫn lo ngại vì sự cheo leo hiểm trở bậc nhất Việt Nam

3.Theo hướng từ Đà Lạt về Nha Trang, rời khỏi những cánh rừng lá kim giá lạnh trên lập địa thoai thoải của cao nguyên Lang Biang là tới những cánh rừng lá rộng nhiệt đới xanh ngắt trên sườn dốc dựng đứng thuộc địa phận Khánh Hòa. Đỉnh đèo có độ cao tuyệt đối so với mặt nước biển 1.700m.

< Thác trên đèo Khánh Lê.

Đây cũng là khu vực của Vườn quốc gia Bi Đoup - Núi Bà với diện tích đến 64.800ha, nơi duy nhất trên thế giới được xác định còn sót lại loài thực vật thông hai lá dẹt (Pinus krempfii) có tổ tiên xuất hiện cùng thời với khủng long. Do VQG giữ nước tốt nên cung đường đèo có rất nhiều thác nước trong vắt. Ở độ cao trên 1000m ( vùng đỉnh đèo) - nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa, sương mù luôn xuất hiện vào bất cứ thời gian nào trong năm.

4. Đèo Khánh Lê dài 33 km là con đèo dài nhất Việt Nam (con đèo dài thứ hai là đèo Pha Đin 32 km) , thực chất là đèo một sườn. Sườn phía Khánh Hòa chiếm đại bộ phận chiều dài con đèo, từ cao trình khoảng 200m ở Khánh Lê lên đến 1700m. Sườn phía Lạc Dương thoai thoải tử độ cao 1700m xuống 1500m nên du khách có cảm giác con đèo chỉ là một con dốc lớn. Con dốc vĩ đại này cũng chính là sườn đông của Trường Sơn Nam.

5.Các đợt phun trào basalt dữ dội kể từ cuối kỷ Neogen (chừng 5 triệu năm trước) đến gần đây đã đẩy trồi vùng đất Tây Nguyên lên cao, hình thành các cao nguyên phân bậc mà Lâm Đồng là một trong số đó. Các cao nguyên Tây Nguyên có dạng lệch sườn: sườn tây thoải dần về phía sông Mekong, còn sườn đông dốc tuột thẳng xuống dải đồng bằng hẹp ven biển Đông.

Đường đèo Khánh Lê cắt qua sườn dốc vĩ đại này, làm phơi bày các tầng đá móng của một cung đảo núi lửa cổ. Đó là các đá phun trào andesite và daxite, nạc mịn như những khối bánh đúc màu đen hay xám, chồng chất lên nhau. Những chủ nhân của “thánh địa” Cát Tiên (Lâm Đồng) và tháp Chăm xưa đã sử dụng loại nndesite rắn chắc này để tạc ra những khối Linga – Yoni và tượng thần hàng ngàn năm đã qua mà vẫn như mới tạc.

6.Đèo Khánh Lê là một bảo tàng thiên nhiên vĩ đại về cảnh quan, về đất đá, về các quá trình địa chất xa xưa, về tính đa dạng sinh học của VQG Bi Đoup – Núi Bà, và cả về văn hóa bản địa của người Lạch ở Lạc Dương vốn trước đây là chủ nhân vùng đất Đà Lạt được người Pháp tái định cư về Lạc Dương để lấy đất xây dựng thành phố Đà Lạt.

Thiên nhiên kỳ thú và con người nhân hậu, cảm giác hứng thú và sợ hãi khi đi trên con đèo hiểm trở ẩn hiện trong mây, những khao khát được trải nghiệm, được hiểu biết, …đã tạo ra sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách trong và ngoài nước. Rất thường gặp những nhóm du khách đi xe máy thậm chí xe đạp vượt đèo. Đường đèo Khánh Lê không chỉ nối hoa với biển mà chính nó cũng là một đối tượng du lịch đắt giá.

Du lịch, GO! - Theo Vacne, internet

Bạn tìm trong Du lịch, GO! với từ khóa "đèo Hòn Giao" để có thêm nhiều thông tin liên quan khác về con đèo này.

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

"Phượt"... về nhà.

Có những chuyến phượt đầu năm xuất hành, đón xuân trên những nẻo đường. Còn với tôi, chuyến phượt lớn nhất trong năm là lúc này, trên chuyến tàu trở về nhà, với mẹ!

Quê tôi, nằm ở ngoài Bắc xa xôi. Người ta vào Nam ra Bắc, mình cũng xuôi Nam về Bắc ăn Tết. Vé máy bay những ngày cuối năm vừa khó kiếm, vừa đắt, thế là mua được đôi vé tàu, nhảy lên xe và về cho kịp mùa xuân.

Những người đi trên chuyến tàu cũng cùng một niềm vui giống tôi, những đứa con phương xa trở về nhà đoàn tụ cùng gia đình sau một năm xa cách. Trên tàu toàn người Bắc, chật ních những balo, túi nải, chật ních quà bánh, đủ khuôn mặt già trẻ, gái trai.

Lần đầu tiên đi xa làm ăn rồi về nhà ăn tết, háo hức vô cùng. Tôi đã đi dọc đất nước không dưới một lần, nhưng cái cảm giác nô nức trở về thật khác lạ. Lang thang cả năm trời, nơi xa ấy có nhà, có cha có mẹ, có anh em đang chờ đợi, sum vầy.

Chuyến tàu chạy dài 2 ngày, chạy xuyên qua biết bao mảnh đất đang vào xuân. Đâu đâu cũng là quê hương của một ai đó. Tàu dừng ga nào, một vài người lại bước xuống với bao đôi bàn tay ôm đón và một vài người khác bước lên tàu với những bàn tay vẫy. Không khí xuân theo cái nắng ấm của miền Nam chạy dần ra Bắc.

Qua đèo Hải Vân, thời tiết đã lạnh hơn. Hoàng hôn lộng lẫy rơi trên mặt biển Lăng Cô. Vạn vật nhuộm tím một sắc màu huyền ảo. Mọi người đã lại xuýt xoa đôi bàn tay và khoác tấm áo cho ấm. Nắng đã nhạt màu và mưa xuân phấp phới trên những cánh đào hồng phai.

Người trên tàu nói đủ thứ chuyện, nào Tết năm nay được thưởng gì, nào công việc ra sao, nào mọi năm ở nhà giờ này chắc đã sắp gói bánh chưng, nào là đặc sản quê tôi ngày Tết, nào quà bánh mang về, nào khó khăn đã trải qua…

Tôi ngồi lắng nghe những miền ký ức, vòng tay ôm chặt hơn tấm áo mỏng, nghe tiếng pháo nổ lẹt đẹt trong tâm tưởng, tiếng hò reo của lũ trẻ khi được lì xì Tết, nghe tiếng xuân phảng phất trong gió.

Một năm chạy đôn chạy đáo, kiếm tiền, làm việc, nhiều lo lắng bộn bề, nhiều buồn nhiều vui, những cuộc gặp gỡ rồi chia tay, những tan tan hợp hợp.

Từ núi cao cho đến biển sâu, từ những bản làng trong sâu thẳm cùng cốc chìm trong cái lạnh cắt da cắt thịt đến những làng chài ven biển hứng chịu những trận bão dập vùi, giờ này mọi mái nhà cuối cùng đều đang vun vén cho mình một cái Tết đủ đầy nhất, để khói lam chiều vương vất trên mái gianh và lửa ấm bập bùng cùng nồi bánh chưng lục bục reo vui trong gian bếp ấm cúng.

Và tôi, trên dặm dài bước đường sóng gió, trên chuyến “phượt” cuối cùng của một năm bôn ba, trở về nhà, với mẹ cha, với người thân yêu trong những vòng tay ấm áp.
Tàu hụ còi! Đêm Hà Nội mưa lây phây, Tết đến, Xuân sang. Trở về!

Du lich,GO! - Theo Afarmily, internet

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

Điều chỉnh lộ trình xe khách đi đường Hồ Chí Minh

Ông Nguyễn Văn Quyền, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường bộ cho biết: từ ngày 1/2 sẽ thực hiện lựa chọn điều chỉnh xe vận tải khách tuyến cố định tuyến Bắc Nam đi đường Hồ Chí Minh. 

< Từ 1/2/2012, lộ trình một phần xe khách tuyến Bắc - Nam sẽ chuyển sang đường Hồ Chí Minh.

Cụ thể, Tổng Cục Đường bộ đã đề nghị 22 Sở GTVT lựa chọn 30% xe khách tuyến cố định từ 300 – 1.000km tuyến Bắc Nam.
Đối tượng được đề nghị điều chỉnh sang lộ trình mới là các doanh nghiệp, hợp tác xã hiện đang hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định có hành trình đi qua đoạn tuyến Hà Nội – QL1A – TP Vinh có bến đi từ các tỉnh Tây Bắc, Đông Bắc, Hà Nội và bến đến từ TP Vinh trở vào phía Nam có cự ly từ 300km đến 1.000km.

Địa bàn thuộc 22 tỉnh, TP: Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Đà Nẵng, Điện Biên, Hà Nội, Hà Giang, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Thừa Thiên - Huế, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái.

Ông Quyền cho biết: “Các Sở GTVT sẽ lựa chọn DN để điều chỉnh lộ trình, thông báo rộng rãi tại bến xe cho hành khách được biết. Nếu xe nào không thực hiện đúng lộ trình, luồng tuyến đã đăng ký sẽ bị xử lý theo Nghị định 34”.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet, internet

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

Dưới chân Ô Tà Sóc…

Ai đã từng có dịp ghé thăm Ô Tà Sóc (xã Lương Phi, Tri Tôn, An Giang), ngồi uống nước trong một quán cóc, nghe nước suối chảy róc rách dưới chân, mới thấm hết cái yên bình của nơi này. 

< Núi Dài, trong cụm Thất Sơn, An Giang.

Lân la hỏi vài ba câu về cuộc sống của người dân ở đây, tôi mới vỡ lẽ: Bình yên như thế, nhưng nhọc nhằn vẫn in dấu trên mỗi con người. Dựa lưng vào núi mà sống, có mấy khi an nhàn…

Người dân địa phương quen gọi mấy nóc nhà dưới chân núi Ô Tà Sóc là bến chuối, do trước đây là bãi tập kết chuối bán cho bạn hàng, cũng là nơi nghỉ chân của nhiều loại khách: Khách tham quan, khách du lịch, khách… nghèo. Nhưng có lẽ, chiếm đông nhất vẫn là loại khách cuối cùng. Nói là khách cho sang, chứ họ là dân lao động, dân địa phương nhà trên núi, qua lại mưu sinh từng ngày.

< Đường vào phum sóc dưới chân núi Dài.

Sà vào quán, leo lên võng nằm, kêu ly cà phê đá và gói thuốc, anh Nguyễn Hữu Phước (38 tuổi) cảm thấy khỏe hơn khi đã trốn được cái nắng oi nồng ban trưa: “Nắng quá, từ trên núi xuống chịu không xiết! Nhưng được cái là dạo này trời hay mưa, nên cũng không đến nỗi nào”.

Rồi anh kể cho chúng tôi nghe chuyện đời mình và những người ở đây. Đa số đều từ nơi khác đến, do muốn vứt cái đói nghèo sau lưng, họ quyết tâm đến Ô Tà Sóc lập nghiệp.

“Lúc trước vợ chồng tui ở Châu Phú, không có đất đai, tài sản chỉ là hai đứa con. Bàn tính kỹ, cả nhà cố gắng mua hơn 7 công đất trên núi, với giá 11 triệu đồng, rồi dựng tạm mái nhà, bỏ công sức khai hoang, trồng rẫy. Biết là cuộc sống sẽ cực, nhưng rồi mình cũng vượt qua, chứ ở đồng bằng cũng có hơn gì đâu. Nông dân mà chẳng có đất, khổ trăm bề!”. Vậy là, 7 công đất của anh được trồng theo công thức “lấy ngắn nuôi dài”: Trồng đậu rồng, rau cải, chuối… để ăn qua bữa, còn cây lâm nghiệp, xoài thì vun vén từng ngày.

< Học sinh xuống núi đi học cùng gà-mên cơm.

Nếu thiên nhiên miền Nam chia ra hai mùa rõ rệt, thì nhịp sống nơi đây cũng thế. Mùa mưa xanh cây tốt lá, người mua bán nườm nượp, tất tả nhưng có miếng cơm ngon, bởi rẫy lên tươi tốt, hầu như ngày nào cũng thu hoạch để gánh xuống núi bán. Còn mùa nắng, cái nóng dội lên từng phiến đá, hắt lên trên từng mảnh đời cơ cực. Hơn 20 hộ dân nơi đây phải bươn chải đủ việc: Gánh củi, gánh xoài… theo yêu cầu của người mua hàng.

Cũng phải nói thêm, giống như núi Cấm, gánh thuê cũng trở thành “đặc sản” nơi đây. 2km đường núi từ chân lên đỉnh Ô Tà Sóc đầy hiểm trở, cheo leo, nhưng không thể cản được bước chân con người.

Chị Nguyễn Thị Bé Năm, 30 tuổi, người sống gần chót đỉnh cho chúng tôi biết: “Gánh hàng vất vả lắm, nhưng ở đây ai cũng phải làm. Nhẹ nhẹ thì 60kg, nặng thì hơn 100kg. Con nít 15, 16 tuổi cũng có thể gánh phụ hơn 30kg mỗi bận. Sức đàn ông khỏe mạnh thì từ 7 giờ sáng tới 2 giờ chiều cũng chỉ gánh được 3 gánh. Giá rẻ, mình không ráng gánh nhiều lần thì đâu có tiền. Chưa kể, mỗi lần xuống núi lại phải nghỉ mệt, uống nước, hoặc ăn chút gì đó lấy sức”.

< Oằn lưng gánh hàng xuống núi.

Thấy tôi há hốc miệng khi biết giá gánh thuê chỉ 500 đồng/kg, chị cười: “Có hàng gánh là mừng lắm rồi, tụi tui chỉ mong vậy thôi”. Tính ra, tối đa một ngày họ có thể kiếm được khoảng 100.000 đồng.

Thấy tôi nhẩm tính như thế, chị Nhứt, chủ quán nước nói với ra: “Cuộc sống ở đây là vậy đó. Đường lên xuống núi chỉ đi mình ên còn mệt đứt hơi, huống chi là gánh nặng! Tui bán quán nước này lấy tiền cũng rẻ, chủ yếu là cho bà con nghỉ ngơi thôi. Ly nước giá 2.000-3.000 đồng, vậy mà nhiều khi họ cũng hổng có tiền uống…”. Tiếng nói của chị xa dần, khi chị thoăn thoắt bưng nước ra cho mấy người đàn ông mới xuống núi.

Dưới chân Ô Tà Sóc tôi còn nghe nhiều chuyện rất đặc trưng của người dân. Không có điện, họ sử dụng bình ắc- quy. Không có nước, họ cùng nhau chuyền dây từ mạch suối trên núi xuống, ngọt lành đến lạ. Con nít (đặc biệt nhiều ở khu vực này, chắc trên 30 đứa!) 5 giờ sáng rọi đèn pin đi học, tay ôm cặp, tay xách theo gà – mên cơm tới trường, chiều tối mới lọ mọ về nhà. Xe máy, xe đạp của mọi người cứ tập trung gửi ở quán nước, bảo đảm không mất (mà mất gì được mấy chiếc xe cà tàng, cũ kỹ.

< Phong cảnh Ô Tà Sóc còn hoang sơ, thơ mộng.

Mọi người sống dựa vào nhau, như đã dựa vào núi vậy, bởi trong cái khổ, tình người càng trở nên ấm áp. Nhà nào càng ở trên cao thì càng… nghèo (vì nếu có tiền đã mua đất ở dưới chân núi cho tiện), chỉ có thể sống khỏe khi mảnh đất trồng cây lâu năm cho thu hoạch.

Anh Phước giúp tôi kết thúc bài viết này bằng câu nói: “Tui và mọi người ở đây cũng xác định sẽ bám trụ lâu dài với mảnh đất của mình, ráng một thời gian nữa sẽ khá lên thôi. Vả lại, ở ngay trên ngọn núi anh hùng, ai cũng rành lịch sử đấu tranh của quê hương hết, cũng tự dặn mình phải sống thật vững vàng như cái thời cha anh đi trước”.

Du lịch, GO! - Theo An Giang Online. internet

Nhà nông mở đường lên núi Dài

Ở xã Lương Phi (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang), có những con đường bê tông chạy dọc theo triền núi Dài do chính nông dân tự thiết kế, đầu tư và cùng nhau xây dựng.

< Sắp xếp hàng hóa chuẩn bị đưa xuống núi bằng xe máy.

Thiếu đường vận chuyển nông sản

Phía sau khu di tích lịch sử cách mạng Ô Tà Sóc (xã Lương Phi) có con đường nhỏ nối dài đến tận chân núi Dài (còn gọi là Ngọa Long Sơn), một trong những ngọn núi lớn nằm trong dãy Thất Sơn hùng vĩ. Vừa qua khỏi những trại tập kết nông sản, chúng tôi bắt gặp tấm bảng được viết nguệch ngoạc bằng sơn đỏ với dòng chữ: “Con đường này do nông dân trồng rừng và trồng vườn hùn vốn”. Đồng thời, trên tấm bảng cũng ghi rõ “Bốn điều cấm”: Không được uống rượu. Không chở củi khúc cồng kềnh khi lưu thông trên đường. Không đổ cây trên đường. Thắng xe phải bảo đảm an toàn.

Ông Nguyễn Thời Lai - một trong những người phát động làm đường lên núi giải thích: “Sở dĩ phải đặt ra những quy định này là do đường lên núi khá hẹp (chiều ngang từ 1-2m), lại thêm đường có nhiều đoạn khúc khuỷu quanh co, chủ yếu để phục vụ vận chuyển nông sản xuống núi”.

Dọc theo triền núi Dài, đoạn thuộc ấp Ô Tà Sóc hiện có hơn 60 hộ dân làm vườn và nương rẫy với diện tích rất lớn, chủ yếu trồng xoài, mít, chuối, gừng, nghệ, ngãi bún, cây thuốc Nam… Mỗi hộ canh tác từ vài chục đến cả trăm công đất.

Hồi trước, khi chưa có con đường này, cứ đến mùa thu hoạch, các chủ vườn ở đây thường phải thuê người gánh nông sản từ triền núi xuống chân núi để đưa đi tiêu thụ với giá 500-1.200 đồng/kg. “Mỗi mùa xoài, tôi thu hoạch khoảng 3 tấn trái, chưa kể mít và chuối thu hoạch thường xuyên. Tính ra tiền thuê người gánh hết hơn 4 triệu đồng. Những hộ canh tác diện tích lớn thì tiền thuê cả chục triệu đồng” - ông Lai nói.

Tuy vậy, người khỏe nhất cũng chỉ gánh được 70 – 80kg/ngày. Việc vận chuyển nông sản với số lượng lớn không thể thực hiện, hàng bị ùn ứ...

Hơn nghìn ngày công phá đá, mở đường

Những khó khăn đó đã khiến các hộ dân làm vườn và trồng rừng ở xã Lương Phi đi đến quyết định hùn vốn, cùng góp sức làm đường lên núi. Cứ vào thứ 7, Chủ nhật hàng tuần lại có hơn 30 người tập trung đến làm việc. Họ dùng xà beng và ròng rọc di chuyển những tảng đá ra khỏi đường. Sau khi mặt đường được san phẳng, họ trộn bê tông trong những chiếc phuy nhựa và bắt đầu đổ, được khoảng 200m thì ngừng lại, qua tuần sau mới thi công tiếp.
“Làm như vậy để mặt đường bê tông khô hoàn toàn. Sau đó, chúng tôi dùng xe chuyển vật liệu những đoạn vừa đổ bê tông xong để làm tiếp những đoạn còn lại, chỉ có như vậy mới mang được bê tông lên núi” - ông Lai cho biết.

Thời gian làm đường, tuy gặp không ít khó khăn, nhưng những nhà nông ấy đều không nản chí. Công việc được chia ra rành mạch, cơm nước thì chị em phục vụ tại chỗ, việc nặng nhọc do đàn ông làm. Cuối cùng, sau hơn 4 tháng thi công, con đường đã hoàn thành trong niềm vui khôn tả của người dân. Để làm được con đường dài 1.750m này, các hộ dân đã phải bỏ ra gần 53 triệu đồng cùng 1.110 ngày công tình nguyện. Nhờ có con đường, một người có thể vận chuyển xuống núi bằng xe máy từ 150 – 170kg nông sản/ngày, gấp đôi so với gánh bằng vai.

Nhờ có con đường, một người có thể vận chuyển xuống núi bằng xe máy từ 150 - 170kg nông sản/ngày, gấp đôi so với gánh bằng vai và cũng đỡ vất vả hơn. Anh Thái Văn Chẳng, Trưởng ban ấp Ô Tà Sóc, cho biết, thấy được hiệu quả của đường bê tông lên núi, nông dân ấp Ô Tà Sóc đang tiếp tục hùn vốn và góp công xây dựng thêm một con đường bê tông mới với quy mô tương đương đường Ô Thổ Phi.

Vào thứ bảy và chủ nhật hàng tuần, hàng chục người lại tập hợp đến làm đường. Ai cũng nhiệt tình và vui vẻ bởi họ biết rằng, khi con đường hoàn thành thì việc vận chuyển nông sản của họ sẽ dễ dàng hơn, thu nhập tăng lên và cuộc sống được tốt hơn...

Bên cạnh tạo thuận lợi cho nông dân, những con đường lên núi Dài còn tạo thành đường băng ngăn chặn rừng bị cháy lan, huy động lực lượng và di chuyển dụng cụ chữa cháy được nhanh hơn. Theo Hạt kiểm lâm huyện Tri Tôn, nhờ có đường bê tông lên núi, việc vận chuyển vật tư xây dựng các giếng nước phòng, chống cháy rừng khu vực Ô Tà Sóc được dễ dàng hơn, không phải tốn kém nhiều tiền thuê người gánh cát, đá, xi măng lên núi như trước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Danviet, Nongthonmoi

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Đường Tây Bắc mùa này đẹp lắm

Tháng hai, xuân rạng rỡ. Tây Bắc lại như một lời mời gọi hấp dẫn lôi cuốn người lữ khách. Lễ hội, núi rừng, hoa cỏ và tấm chân tình mộc mạc người miền núi là những lý do để bước chân du xuân đặt lên mọi nẻo đường. Tháng hai, xuân rạng rỡ.

Tây Bắc lại như một lời mời gọi hấp dẫn lôi cuốn người lữ khách. Lễ hội, núi rừng, hoa cỏ và tấm chân tình mộc mạc người miền núi là những lý do để bước chân du xuân đặt lên mọi nẻo đường. Dọc theo đường biên giới từ phía Tây theo vòng cung hướng Bắc, bất cứ một điểm đến nào, một cái tên lạ lẫm nào cũng mang đến cho dân du xuân bất ngờ và thú vị.

Nếu như cao nguyên Mộc Châu cuốn hút du khách gần xa bởi vẻ đẹp mượt mà của những cánh đồng cỏ xanh ngút ngàn miên man dọc theo chân núi, những vườn đào, vườn mận rạng rỡ khoe sắc giữa bản làng người H'Mông thanh bình và mộc mạc...

... thì dọc theo bờ sông Mã đi lên Điện Biên Đông, ta sẽ gặp những bản làng của người Thái đang say sưa múa hát đón xuân về dưới gốc cây gạo đầu làng.
Những người con gái Thái tóc vấn cao, cổ trắng ngần, váy nhung đen óng ánh, đôi bàn tay xoay vòng mê mải sẽ khiến bất kỳ người lãng khách nào cũng phải ngẩn lòng.

Ẩm thực ngày xuân ở hội Say Sán (Simacai, Lào Cai):

Rời Điện Biên theo con đường dọc bờ sông Nậm Na, qua bao lễ hội của những người H'Mông Hoa, H'Mông Xanh, qua thị trấn Sa pa bồng bềnh sương mùa tết, để đến được với mảnh đất Simacai nhọc nhằn cách trở, ta lại được chìm đắm vào khúc giao duyên dưới gốc cây nêu của đồng bào Sín Chéng, bị hớp hồn bởi những chiếc váy H'Mông Si bồng bềnh trên đường đi vui hội Say Sán mỗi dịp xuân về, háo hức khám phá ẩm thực mùa tết của đồng bào dân tộc với phở chua, thắng cố, mèn mén (bắp xay), bánh bắp, bánh gạo...

Hát giao duyên dưới gốc cây nêu ở Sín Chéng (Simacai, Lào Cai):

Rồi qua sông Chảy ngược lên đỉnh Pha Long để vui hội Gầu Tào với người H'Mông ở Mường Khương, nơi những ngọn đồi sa mộc vươn mình kiêu hãnh. Cung đường Lùng Khấu Nhin đi Cao Sơn ngợp gió giữa trập trùng sa mộc, đâu đó có những chàng trai cô gái người H'Mông đang say mê giao duyên, những nụ cười toả nắng của du khách và dân bản địa, những chiếc váy H'Mông thấp thoáng dưới vòm cây.

Người Thái say mê với điệu múa đón xuân (Sông Mã - Điện Biên):

Và đi về phía tận cùng của địa đầu cực Bắc, ta choáng ngợp trước giang sơn hùng vỹ, một Mã Pì Lèng lạnh lùng trở nên ấm áp đến lạ thường trong sắc màu của váy áo lấp lánh. Hàng trăm trẻ em H'Mông ùa ra trên con đường Hạnh phúc nối Đồng Văn và Mèo Vạc (Hà Giang) làm cao nguyên đá tai mèo trở nên hân hoan và sáng bừng giữa mùa giá rét. Trẻ em đi du xuân thành từng tốp nhỏ, hồn nhiên nô đùa và chạy nhảy, đánh cầu và tán gái. Những sắc màu Mèo Vạc toả sáng trên cao nguyên đá khiến bước chân người lữ khách không muốn rời đi. Có phải hạnh phúc chỉ là những khoảnh khắc du xuân như thế này không?

Hướng dẫn:

Phương tiện di chuyển: Ôtô riêng hoặc xe máy, hoặc kết hợp ôtô và xe máy. Các điểm đến ở Mộc Châu (Sơn La), Sông Mã (Điện Biên), Sa Pa, Mường Khương, Pha Long, Simacai (Lào Cai) hay Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) đều nằm cách xa Hà Nội từ 200 - 500km. Có thể gửi xe máy lên ôtô chạy đêm để tiết kiệm thời gian chạy xe.

Du khách chụp hình với các cô gái H'Mông Khương:

Nếu đi về phía Lào Cai có thể di chuyển bằng tàu hoả ban tối, gửi xe máy đi cùng hoặc lên Lào Cai thuê xe máy để khám phá các địa điểm lân cận. Chi phí thuê xe khoảng 200.000 - 250.000 đồng/ngày. Ở Hà Giang cũng có thể thuê xe máy với chi phí tương đương. Xe khách đi về Tây Bắc chất lượng rất tốt, thường xuất phát buổi đêm ở Mỹ Đình và tới điểm đến vào buổi sáng, rất thuận lợi.

Niềm vui gặp gỡ trên đỉnh Pha Long:

Hành trang: Ngoài những đồ dùng căn bản cho chuyến đi, trong hành trang của bạn không nên thiếu:

- Máy ảnh để ghi lại những ấn tượng và kỷ niệm của chuyến đi. Một chiếc điện thoại hiện đại có kết nối 3G là phương tiện hữu hiệu để chia sẻ hình ảnh về chuyến đi lên mạng internet với bạn bè ngay trong hành trình. Điều này sẽ tạo ra những cảm xúc vô cùng thú vị. 3G của Mobi hay Viettel đều bắt sóng tốt nhưng độ phủ sóng của 3G Viettel rộng hơn và nét hơn trên vùng núi cao.

- Âm nhạc qua một chiếc loa chuyên dụng dành cho dân đi: bạn có thể chìm đắm trong âm nhạc ở lưng chừng đèo, dưới một vườn đào, vườn mận hay giữa phiên chợ tết của đồng bào dân tộc. Một trải nghiệm ấn tượng.

Các em bé nhảy dây ở Cao Sơn (Mường Khương, Lào Cai):

- Những chiếc khăn màu rực rỡ: khi lên Tây Bắc, thời tiết thường khá rét, những chiếc khăn vừa có tác dụng giữ ấm bạn khi lên Tây Bắc, vừa "làm đẹp" cho các chàng trai, cô gái trong hành trình khám phá mùa xuân.

- Du xuân với những chiếc phong bao lì xì xinh xinh và những chiếc kẹo làm quà cho trẻ con miền biên giới sẽ giúp bạn thêm gần gũi và gắn bó tình cảm hơn với những bản làng ta qua.

Du lịch, GO! - Theo SGTT

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

Tây Nguyên - đường 14C... (P2)

Tây Nguyên ơi - tôi biết mình sẽ còn quay lại!
.
Đêm trên biên giới. Thông tin về đường 14C trên địa phận tỉnh Gia Lai và nối sang Đăk Lăk khá mờ mịt. Biên phòng cho biết, chưa có cầu bắc qua con sông Ia lốp vốn là địa giới giữa hai tỉnh, phải hẹn tàu thuyền trong mỗi lần đi tuần tra. Hỏi dân địa phương tại Chư Ty thì hầu hết đều lắc đầu không biết và nói phải đi Đăk Lăk theo ngả Hàm Rồng qua quốc lộ 14B. Bản đồ lại được lật lên lật xuống, bàn tính rất nhiều.
.
Chư Ty là thị trấn của huyện Đức Cơ, khá sầm uất và đông đúc. Nhà trên mặt phố chính hầu hết đều dùng làm cửa hàng buôn bán. Bao quanh thị trấn là những đồi cao su bát ngát. Chư Ty cách cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh (Gia Lai - Việt Nam) - Oyadao (Ratanakiri - Campuchia) 25km đường tráng nhựa uốn lượn trên bình nguyên mênh mông.

Cửa khẩu mới khai trương ngày 15-12-2007 và vẫn đang trong quá trình hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Trong tương lai, khi cặp cửa khẩu chính thức đi vào hoạt động sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế vùng và giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia.
.
Sau khi tới thăm và chụp ảnh kỷ niệm tại Lệ Thanh, chúng tôi quay xe trở lại thôn Mooc Đen, xã Ia Dom, nơi mà theo bản đồ giao thông đường bộ có lối rẽ vào quốc lộ 14C. Trong lúc hỏi đường, tình cờ một người lái xe ôm quê ở Nghệ An chú ý tới đám đông đứng lố nhố ven quốc lộ 19. Anh khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng tất cả các sông suối trên đường 14C đều đã được bắc cầu và tả đường cho chúng tôi về Easup, sau đó còn nhiệt tình dắt cả bọn đến lối rẽ vào đường mòn Hồ Chí Minh.
Hành trình 14C thêm một lần nữa chính thức được mở ra.
.
Con đường đất đỏ dắt chúng tôi chạy qua một hồ nước xanh ngắt nằm lặng trên cao nguyên, cây cối nhuộm bụi vàng và rừng cao su cuối trời trông như một bức tranh. Những nhóm công nhân đang túm tụm trong nhà mủ để chuẩn bị cho một ngày làm việc.
.
Một Tây nguyên thực sự khoáng đạt và ngợp nắng, đỏ rực và bụi mờ trời. Những con người săn chắc rắn rỏi, nước da đen bóng, giọng nói đậm âm sắc địa phương, cách giao tiếp vừa nhiệt tình vừa rụt rè, mộc mạc và chân thành. Những ngôi nhà gỗ giản dị bám dọc tuyến đường liên xã Ia Nan và Ia Pnon.
.
Làng Bò là làng dân sinh cuối cùng mà chúng tôi có thể mua được xăng và hỏi đường. Từ đây con đường 14C độc đạo chạy qua những rừng khộp - một loại cây họ dầu có tán rộng và những đồng cỏ dày đặc dưới tán rừng. Vào mùa khô, lá rụng nhiều và rừng bắt đầu khô lại. Rừng khộp là loại rừng thưa điển hình của Tây nguyên, đặc biệt phổ biến dọc theo tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Loại rừng này rất dễ cháy nhưng lại có sức sống vô cùng mãnh liệt, vào mùa mưa phát triển mạnh với thảm thực vật phong phú, là nơi thích hợp cho các loài thú lớn hoang dã sinh sống.
.
Quãng đường 14C từ làng Bò đến hết địa giới tỉnh Gia Lai dài khoảng 50km đang được đầu tư cải tạo và xây dựng. Suối đã được bắc cầu, những hố nước đọng ở bên rừng, xanh ngợp dưới ánh nắng gay gắt. Hoa dại vẫn kiên cường lan theo mép đường và bung cánh khoe sắc.
.
Nơi cả nhóm dừng lại ăn trưa, những dây hoa leo bò ngang ra cả mặt đường đầy sỏi đá. Bữa trưa chỉ có bánh tét mua từ tận Pleikần mang theo và một bếp café tan tự nấu. Rừng âm u, thăm thẳm, chỉ có tiếng gió hun hút và những câu chuyện phiếm, xua tan đi bao mệt nhọc của chặng đường dài. Từ đây đến biên giới Việt Nam - Campuchia rất gần, chỉ khoảng 2km đường chim bay.


Buổi chiều, chúng tôi phải đối mặt với khó khăn lớn nhất của hành trình: con đường cát.
.
Có khoảng 30km đường 14C trên địa phận tỉnh Gia Lai chưa được ủi phẳng và làm nền, con đường ngập trong cát bụi dày hàng chục cm. Tài xế gồng mình lên giữ tay lái và chân đạp, chân chống nhích xe từng đoạn đường. Với những tay lái của thanh niên thành phố như chúng tôi thì đây chả khác gì giải đua xe Paris - Dakar mở rộng (một giải đua xe trên sa mạc nổi tiếng toàn thế giới). 
.
Đồn 729 nằm bên đông của con đường cát, trú mình dưới tán cây rừng, lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trên vọng gác thanh niên. Đã sang địa phận của xã Iamơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, vẫn không một bóng người và không làng bản. Từ đồn 729 xuôi tiếp về nam chừng 1 giờ đồng hồ chạy xe máy thì gặp làng thanh niên lập nghiệp Iamơr. Làng kinh tế mới với những nóc nhà gạch nhỏ bé nằm giữa một cánh đồng cỏ bạc màu, một vài người dân đang ngồi trước hiên nhà, có khúc gỗ đang cháy dở tỏa khói nghì ngụt, dây điện lưới chăng ngang dọc trên trời.
.
Qua khỏi khúc quanh có hai vết bánh xe tải sâu hoắm đất đã khô lại thành tảng lớn, con đường trở thành một lối mòn ngợp trong cỏ, cuối đường là một gian nhà gỗ có lá cờ đỏ treo trước sân. Đó chính là trạm kiểm soát biên phòng của đồn 731 thuộc tỉnh Gia Lai. Vài luống rau cải xanh mới gieo trong vườn, gà quanh quẩn kiếm ăn bên bờ rào, những chồng củi ngay ngắn xếp bên chái nhà... Yên tĩnh trong chiều tắt nắng.
.
Đường 14C đến đây là gặp sông Ia Lốp - phụ lưu cấp I của dòng Ia H’Leo chảy theo hướng đông bắc tây nam, là địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk. Trụ cầu đã đổ, nhưng mặt cầu chưa có, đường cũng chưa mở xong. Cách duy nhất để sang sông là xuống bến đò. Một chiếc thuyền gỗ nhỏ sẽ lần lượt chở từng người và xe qua sông. 
.
Chiều biên giới. Bên ấm trà xanh, câu chuyện với người lính biên phòng làm chúng tôi dùng dằng mãi không thể rời chân.
.
Nơi đây, đoàn quân giải phóng năm xưa đã từng đi qua để vào giải phóng Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất hai miền Nam Bắc. Bao người lính đã ngã xuống và nằm lại mãi mãi ở nơi này. Bao người lính vẫn còn ở đây giữa thời bình, kiên nhẫn bám đất, giữ rừng, sát cánh với đồng bào Tây nguyên để bảo vệ mảnh đất biên cương. Lẫn trong những nụ cười có cả tiếng thở dài và những giọt nước mắt. Cái siết tay tạm biệt không nói thành lời, nhưng chất chứa những đồng cảm và chia sẻ của tuổi trẻ thành phố với người chiến sĩ trên tuyến đầu.
.
Chúng tôi theo con đường mòn vạch đám cỏ gianh tìm xuống bến đò. Dòng Ia Lốp lặng lẽ trôi. Con thuyền bồng bềnh, chỉ cần mất bình tĩnh là cả chiếc xe máy dựng đứng có thể lao xuống sông bất cứ lúc nào. Từ đây, chúng tôi tách khỏi 14C, tạm chia tay với con đường huyền thoại.
.
Đường về thị trấn Easup - Đăk lăk ngang qua những làng kinh tế mới. Ở phía tây biên giới, vẫn còn cả một chặng dài 14C chạy về cửa khẩu Bu Đrăng mà chúng tôi chưa tới. Tây nguyên ơi, tôi biết mình sẽ còn quay lại...
.
Chitto
.
Tây Nguyên - đường 14C... (P1)
.
Du lịch, GO! - Theo Phuot.vn, internet

Tây Nguyên - đường 14C... (P1)

Đêm Trường Sơn.
Gió xào xạc bứt đám lá khô thả tung lên trời, rồi lại cuốn đi rào rào trên con đường đất đỏ. Con đường huyền thoại giữa đêm tối như chất chứa những bí ẩn khó tả. Có thể, ngày ấy, nơi này, những người lính đã ngã xuống để hôm nay chúng tôi có cơ hội được thử sức mình... 
.
Tạm biệt vườn Quốc gia Chư Mom Ray, bốn chiếc xe máy tiếp tục hành trình chinh phục 14C, bụi bám trắng xóa lên áo khoác ngoài và balô.
Trạm kiểm soát của đồn biên phòng 707 cách trạm kiểm lâm cuối rừng Mo Ray chừng 5km. Tại đây, chúng tôi được chỉ dẫn tới làng K’Đin để ăn trưa. Theo đó, chạy tiếp đến địa phận xóm Mới, nơi có những căn nhà gỗ đơn sơ và giản dị của công nhân trồng rừng thì phải vòng về phía bên trái để qua cầu. Ở khu vực này, nếu không chú ý sẽ dễ dàng đi lạc về phía biên giới hoặc sang cả địa phận Campuchia.
Làng K’Đin thuộc xã Mo Ray còn rất nghèo, nhà sàn được ghép từ gỗ, mảnh phên và ống nứa, lợp ngói và có cùng một kiểu kiến trúc hình chữ T, thân ngắn, nằm rải rác bám dọc hai bên đường quốc lộ.
.
“512” là tên một quán ăn duy nhất nằm chéo trước cổng doanh trại của binh đoàn 15. Cách đó không xa là căn nhà rông văn hóa điển hình của buôn làng Tây nguyên do Công ty 78 tặng nhân dân làng K’Đin với những khúc gỗ còn tươi nguyên. Mái nhà lợp bằng tôn thay vì tết bằng thảm rơm. Hai bên cầu thang có hai thanh cột chống, phía trên có tượng hai chú voi bằng gỗ trông rất độc đáo.
Giữa trưa, người dân đi lên nương cả nên làng khá vắng vẻ và trầm lặng. Đàn lợn say sưa nằm dưới gốc tre, ngủ yên lành.
.
Trong lúc lang thang, tình cờ tôi gặp một cụ già người dân tộc Gia Rai đang ngồi chiết nước vào những chai nhựa rỗng bên giếng khoan. Bà cụ có màu da nâu sẫm và rắn rỏi "rất Tây nguyên", thùy tai chảy xệ xuống tạo thành một lỗ hổng lớn do thời trẻ bà đã đeo rất nhiều đồ trang sức. Ngay cả lúc này, bà cũng đang đeo rất nhiều vòng trên cổ và tay. Bà cụ không nhớ mình bao nhiêu tuổi, nói được ít tiếng Kinh, chỉ biết thể hiện thái độ thân thiện với chúng tôi qua nụ cười mộc mạc.
.
Có vẻ như bộ quần áo truyền thống lấp lánh chỉ thêu được để dành cho những dịp lễ hội, nên ngày thường những người phụ nữ dân tộc chúng tôi gặp trên đường chỉ mặc váy hoa quấn giản dị với một chiếc áo vải kiểu hiện đại. Đàn ông thì khá "Kinh hóa", hầu như ai cũng mặc quần áo như người dưới xuôi, thay vì đóng khố và ở trần.
.
Chỉ vào một khúc gỗ lấm đất nằm lẫn trong đống củi bên gốc mít, một người địa phương cho biết đó chính là quan tài của đồng bào người dân tộc. Nó được khoét một lỗ vuông từ một khúc gỗ nguyên bản và đặt úp xuống để bảo quản, nhà nào cũng có một vài chiếc để dưới sàn nhà hoặc trong vườn, dành sẵn cho người già.
.
Dọc đường, gặp căn nhà có dựng hai cây nêu lớn bằng tre khá kỳ công và độc đáo trước sân, cả nhóm rủ nhau dừng lại chụp ảnh. Cây nêu của đồng bào người Tây nguyên là một loại cây không thể thiếu trong các dịp lễ hội hay mừng năm mới. Cây nêu thường được làm từ cây tre hoặc lồ ô có lá ở trên ngọn và được trang trí đặc biệt bằng những thanh tre, nứa cắm xòe như tua hoa xung quanh. Dưới gốc còn cắm những thẻ bài với mục đích yếm quỉ trừ tà, cầu mong cho mọi gia đình luôn được ấm no và hạnh phúc, hàng xóm láng giềng vui sống thuận hòa. Một số nơi còn trang trí cây nêu bằng những dải lá phướn nhiều màu rực rỡ. 
.
Gặp khúc quanh đầu tiên của suối Nam Sa Thầy tại đúng trạm kiểm soát biên phòng của đồn 709, và tình cờ chúng tôi cũng gặp cả bí thư xã Mo Ray. Con đường vắng vẻ, ít người đi lại khiến những người lính và dân nơi đây đều kinh ngạc khi biết mục đích đi du lịch của nhóm qua vùng này. Bên dòng suối róc rách, chúng tôi đã cùng nhau uống cạn những ly rượu trắng, mừng cho cuộc gặp gỡ hiếm hoi chốn biên thùy. 
.
Càng đi, quốc lộ 14C càng trở nên hoang sơ và bí ẩn. Con đường vẫn lúc ẩn lúc hiện dưới tán cây rừng nguyên sinh, lúc chạy xiên qua những đồi trồng cỏ chăn nuôi gia súc, lúc lại bị cắt ngang bởi một khúc suối lớn, bên những cây cầu đang xây dựng dở dang. Suối mùa khô nên ít nước, trong leo lẻo nhìn rõ cả những viên đá cuội nằm ngổn ngang dưới đáy dòng. Những người công nhân làm cầu cho biết nếu có một trận mưa rừng thì không thể vượt qua những đoạn suối thế này, kể cả bằng xe U-oát chuyên chạy đường rừng của biên phòng và kiểm lâm.
.
Từ đồn 711 nằm bên cạnh Suối Cát, chúng tôi được chỉ dẫn sẽ phải chạy xuyên rừng Trường Sơn sát biên giới để tới Chư Ty bằng đường tránh Sesan 4 vì thủy điện Sesan 3 sẽ xả nước hằng ngày từ 12g trưa, ngầm sẽ ngập nước ngang ngực suốt cả chiều và đêm, không xe nào có thể đi qua. 
.
Hơn một chục kilômet từ Suối Cát ra đến Sesan 4 quả là ấn tượng và khó quên. Con đường rất xấu bởi những tảng đá lớn đã bị bóc hết lớp đất sét bao quanh, trồi lên khấp khểnh trên mặt đường, cỏ ẩm ướt trơn trượt và ban đêm trở thành một cái bẫy nguy hiểm. Không một bóng người, không nhà dân và không đồn biên phòng. Gặp những ngã ba, chúng tôi đành phải chọn lựa bằng cảm giác đường, bằng những kinh nghiệm mà các chiến sĩ biên phòng đã hướng dẫn tỉ mỉ lúc chiều.
.
Đêm Trường Sơn. Rừng âm u và lạnh lẽo, chỉ có tiếng động cơ xe máy nổ ầm ầm và những ánh đèn xe loang loáng bám sát nhau. Góc rừng huyền thoại trong chiến tranh, giữa đêm tối trở nên chất chứa những bí ẩn khó tả. Có thể, ngày ấy nơi này, những người lính đã ngã xuống để hôm nay chúng tôi có cơ hội được thử sức mình.
.
Những chiếc xe lầm lũi và cần mẫn vượt qua những đoạn đường dốc ngược hay bùn đất lê lết, vượt qua những con suối hoang dại giữa thung sâu, sương mù ma quái và bồng bềnh ngay trước ánh đèn xe. Dường như chính đại ngàn đã âm thầm tiếp thêm sức mạnh để chúng tôi băng qua bóng tối với một chút liều lĩnh của tuổi trẻ.
.
Những ánh sáng từ công trình thủy điện Sesan 4 lấp lánh trong đêm cho chúng tôi biết mình đã không sai đường. Với một địa hình bị chia cắt mạnh, sườn núi có độ dốc cao và một hệ thống sông suối dày đặc đã hình thành nên một dòng Sesan hoang dại có tiềm năng thủy điện lớn thứ 3 trong cả nước sau sông Đà và sông Đồng Nai.
.
Cả nhóm dừng xe trên mặt đập, nghe gió lồng lộng trên đỉnh đầu trong khi tiếng nước chảy ầm ì dưới chân, cảm thấy sự vĩ đại của thiên nhiên đã và đang được bàn tay tài hoa của con người chinh phục. Cảm xúc vừa dữ dội vừa dịu êm, khó để diễn tả thành lời.
.
Từ Sesan 4, chúng tôi tìm đường tắt qua hai xã Ia O và Ia Chia thuộc huyện Ia Grai về thị trấn Chư Ty huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai. Con đường dài khoảng 40km chạy xuyên qua những đồn điền cao su mênh mông bát ngát của binh đoàn 15.
.
Đêm, vẫn là đêm Trường Sơn. Gió xào xạc bứt đám lá khô trên cành thả tung lên trời, rồi lại cuốn rào rào trên con đường đất đỏ. Như một lời chào tốt đẹp nhất dành cho cung đường 14C trên địa phận tỉnh Kontum.
.
Chitto
.
Còn tiếp:
Tây Nguyên - đường 14C... (P2)
.
Du lịch, GO! - Theo Phuot.vn, internet

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

10 cây cầu 'độc và lạ' nhất Việt Nam

Những cây cầu mang kỷ lục Việt Nam luôn là điểm nhấn cảnh quan tại nơi mà chúng bắc qua, rất thu hút sự chú ý của người dân và du khách quốc tế.

Cầu vượt biển dài nhất Việt Nam

Cầu Thị Nại là cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội, nối thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai (khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định), dài gần 7 km, với tổng số vốn đầu tư là 582 tỷ đồng.

Được khởi công xây dựng vào tháng 11/2002 và khánh thành vào ngày 12/12/2006, cầu Thị Nại có phần chính dài 2.477,3 m, rộng 14,5 m (kể cả hệ thống cầu gom) với 5 cầu ngắn, gồm 54 nhịp, có khẩu độ mỗi nhịp là 120 m. Cầu chịu xe trọng tải 30 tấn và xe bánh xích trọng tải 80 tấn.

< Cầu Thị Nại chụp từ trên không.

Cầu Thị Nại ứng dụng công nghệ thi công hiện đại, dùng cọc khoan nhồi có đường kính từ 1,2-1,5 m, dầm hộp bê tông liên tục, dầm supper T ứng suất trước.

5 nhịp chính thi công theo phương pháp đúc hẫng cân bằng đối xứng, bê tông dầm hộp có cáp dự ứng lực trong và ngoài, còn 49 nhịp dẫn sử dụng dầm Supper T ứng suất trước.

Từ khi đưa vào hoạt động, cầu Thị Nại đã giúp giảm thiểu tối đa thời gian qua lại từ bán đảo Phương Mai và thành phố Quy Nhơn, giúp phát triển mạnh khu kinh tế Nhơn Hội. Tuy nhiên, đến tối 19/11 vừa qua, ông Nguyễn Hà Đông, Giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định, xác nhận cầu Thị Nại bị đứt cáp một nhịp, nhưng do dây cáp thay thế phải chờ nhập từ nước ngoài nên thời gian hạn chế tải trọng ô tô qua lại nhanh nhất sẽ là hai tháng.

Hiện tại, Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định đã lập hai trạm barie hai bên đầu cầu và một trạm kiểm soát ở đầu cầu phía bắc, chỉ cho phép các xe có tải trọng từ 15 tấn trở xuống qua lại.

Cầu dây văng có nhịp chính dài nhất Việt Nam và Đông Nam Á

Cầu Cần Thơ là cây cầu bắc qua sông Hậu, nối thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long. Tại thời điểm hoàn thành vào tháng 4/2010, đây là cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Được khởi công ngày 25/9/2004, cầu Cần Thơ có chiều dài toàn tuyến là 15,85 km, chiều rộng 23,1 m với bốn làn xe với tốc độ thiết kế 80 km/h, mỗi làn rộng 3,5m cùng hai làn dành cho người đi bộ 2,75 m. Cầu có tĩnh không thông thuyền cao 39 m, đảm bảo cho tàu 10.000 DWT qua lại.

Điểm khởi đầu cầu tại km 2061 trên Quốc lộ 1 huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long, điểm cuối cầu tại km 2077 Quốc lộ 1 quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Tổng mức đầu tư của công trình là 4.832 tỷ đồng (thời điểm năm 2001 là khoảng 342,6 triệu USD) bằng nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ Nhật Bản và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam.

Hiện, cầu Cần Thơ đang góp phần thông thương tuyến TP HCM đi về thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Hậu Giang. Nhờ chiếc cầu này, các loại phương tiện giao thông và hàng hóa không phải mất bình quân 15 phút để sang sông theo những chuyến phà, chưa kể nhiều ngày lễ, tết… phải mất cả buổi vì kẹt phà như trước đây.

Cầu treo dây võng hiện đại và dài nhất Việt Nam

Cầu Thuận Phước là cây cầu treo dây võng hiện đại và dài nhất Việt Nam, được thiết kế với 2 trụ tháp cao 92 m, cách nhau 405 m, tĩnh không thông thuyền 27 m, kết cấu dầm hộp thép hợp kim suốt toàn bộ nhịp treo dài 650 m, được chế tạo bằng công nghệ dầm tăng cứng theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tổng chiều dài cây cầu nối 2 bờ vịnh Đà Nẵng là 1.850 m (dài hơn cầu Mỹ Thuận 300 m), rộng 18 m, với mức đầu tư gần 1.000 tỷ đồng do thành phố Đà Nẵng làm chủ đầu tư từ nguồn ngân sách.

Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng 533 liên danh với Viện Thiết kế cầu đường số 2 Trung Quốc thiết kế. Công ty Cơ khí xây dựng công trình 623 và tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 6 là nhà thầu chính. Cầu khởi công xây dựng vào ngày 16/1/2003; thông xe kỹ thuật ngày 25/3/2009 và khánh thành ngày 19/7/2009.

Cầu nằm ngay cửa sông, cách sông Hàn 2.700 m về phía hạ lưu. Điểm đầu cầu phía quận Hải Châu, nối với tuyến đường Liên Chiểu - Thuận Phước. Điểm cuối cầu phía quận Sơn Trà, nối với tuyến đường từ khu công nghiệp đóng tàu đến khu công nghiệp dịch vụ thủy sản.

Là công trình trọng điểm của thành phố Đà Nẵng, cầu Thuận Phước đang được xem là “chìa khóa vàng” mở cửa cho du lịch Sơn Trà.

Cầu quay dây văng đầu tiên và duy nhất Việt Nam

Cầu sông Hàn là một trong những cây cầu bắc qua sông Hàn ở Đà Nẵng, là cây cầu quay đầu tiên do kỹ sư, công nhân Việt Nam tự thiết kế, thi công và là cây cầu quay duy nhất ở Việt Nam hiện nay.

Được khởi công xây dựng ngày 2/9/1998 và đưa vào sử dụng đúng ngày 29/3/2000, so với nhiều cây cầu khác trong nước, thì cầu sông Hàn không có tầm vóc quy mô, bề thế, hay hoành tráng nhưng lại có những đặc điểm riêng được nhiều người nói đến…

Hàng đêm, khoảng 1 - 2h sáng, phần giữa của cây cầu sẽ quay quanh trục một góc vuông 90 độ, nằm song song với dòng chảy để tàu bè lớn có thể chạy từ sông ra biển và ngược lại.
Thời gian để cầu quay mất khoảng 15 đến 20 phút. Sau khi mở cửa khoảng 4 giờ, cầu Sông Hàn sẽ được xoay về vị trí cũ.

Cầu dài nhất bắc qua sông Hồng

Mới đây, sáng 18/12, tại thị xã Sơn Tây (Hà Nội), cầu Vĩnh Thịnh vượt sông Hồng trên quốc lộ 2C, nối thị xã Sơn Tây với huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) đã chính thức được khởi công. Đây là cây cầu chính trên tuyến đường vành đai 5, là cây cầu dài nhất bắc qua sông Hồng tính đến thời điểm hiện nay, kết nối chuỗi các đô thị vệ tinh, các khu công nghệ cao, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Cầu có tổng chiều dài gần 5,5km, trong đó, phần cầu dài gần 4,5km, đường hai đầu cầu dài hơn 1 km. Cầu được thiết kế vĩnh cửu bằng bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực. Mặt cầu có bề rộng 16,5m, gồm 4 làn xe với tốc độ thiết kế 80km/g. Dự án do BQL dự án Thăng Long làm đại diện chủ đầu tư, với tổng mức đầu tư 137 triệu USD, trong đó vốn vay ODA của Hàn Quốc là 100 triệu USD thông qua Quỹ EDCF và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 37 triệu USD. Thời gian thi công là 36 tháng.

Cầu có thiết kế độc đáo và mới lạ nhất

Với thiết kế thể hiện hình ảnh một con rồng đang bay trên sông Hàn, đầu ngẩng cao, thân uốn lượn... cầu Rồng được Hiệp hội cầu đường thế giới ghi nhận là độc đáo và mới lạ nhất Việt Nam.

Cầu Rồng bắc qua sông Hàn có mức đầu tư 1.498 tỷ đồng, khởi công năm 2009 và dự kiến hoàn thành năm 2013; được Hiệp hội cầu đường thế giới ghi nhận là một trong những cây cầu có thiết kế độc đáo và mới lạ nhất Việt Nam.

Theo đó, cầu Rồng được xây dựng tại khu vực nút giao thông gần Cổ Viện Chàm nối với nút giao thông Nguyễn Văn Linh nối dài, phía đông là nút giao thông đường Trần Hưng Đạo, kéo dài đến đường Sơn Trà - Điện Ngọc.

Cầu Rồng do Công ty Louis Berger Group, Inc. (Mỹ) thiết kế, với quy mô vĩnh cửu, chịu được chấn động cấp 6, tĩnh không thông thuyền 7m; tổng chiều dài 666,6m, bao gồm một nhịp chính dài 200m, hai nhịp bên mỗi nhịp dài 128m, phần nhịp đuôi rồng dài 64,15m, nhịp đầu rồng dài 72m. và phần dẫn phía Đông kết cấu dầm bê tông cốt thép 122,565m. Chiều rộng cầu là 37,5m gồm 6 làn đường, 1 dải ngăn cách là thân rồng và hành lang đi bộ 2 bên.

Theo thiết kế, cầu Rồng thể hiện hình ảnh một con rồng đang bay trên sông Hàn, đầu rồng ngẩng cao, thân rồng uốn lượn và cùng với hệ thống đèn chiếu sáng trang trí, kiến trúc cảnh quan. Cầu Rồng kỳ vọng trở thành điểm nhấn kiến trúc Đà Nẵng.

“Đà Nẵng đã nghĩ ra được cây cầu độc đáo này. Cũng là cầu mái vòm nhưng hình dáng thì đúng là ở Việt Nam chưa từng có. Anh em trong nghề chúng tôi thỉnh thoảng lại nói với nhau, phen này rồng… bay vào Đà Nẵng rồi”, ông Cấn Hồng Lai, Tổng giám đốc Tổng công ty xây dựng Công trình giao thông 1, cho biết.

Cầu sắt nhiều tuổi nhất

Cầu Long Biên là cây cầu sắt thép nhiều tuổi nhất bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, do Pháp xây dựng, từ năm 1899 - 1902, đặt tên là cầu Doumer, theo tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Hiện, trên đầu cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ 1899 -1902 - Daydé & Pillé - Paris.

Vào đầu thế kỷ XX, Long Biên là một trong 4 cây cầu lớn nhất thế giới, một công trình sắt thép đồ sộ nhất bán đảo Đông Dương. Dân gian còn gọi là cầu sông Cái, còn tên Long Biên được đặt sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Trước khi xây dựng, một cuộc thi thiết kế cầu Long Biên đã được tổ chức vào năm 1897 và phương án của Gustave Eiffel (người thiết kế xây tháp Eiffel) được chọn, với tổng vốn đầu tư 10,5 triệu quan Pháp. Hãng Daydé & Pillé thi công phần chính, Nha công chính Đông Dương xây dựng phần cầu dẫn. Cầu chính qua sông dài 1.682 m và cầu dẫn dài 896 m, gồm 19 nhịp đặt trên 20 trụ cao hơn 40m (kể cả móng). Cầu chia thành 9 khung khổng lồ, mỗi khung dài 61 m. Giữa là đường xe lửa, hai bên là là đường dành cho các loại xe (rộng 2,6 m) và người đi bộ (rộng 0,4 m).

Vào tháng 2/1902, cầu được khánh thành và vua Thành Thái cũng ngự giá Bắc tuần để dự lễ thông cầu. Đến nay, cây cầu đã chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện của cả dân tộc, trong đó có hai sự kiện nổi bật của thế kỷ XX là cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954, trả lại quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam; tiếp đến là những năm tháng chiến tranh ác liệt chống Mỹ, tuy chịu nhiều bom đạn nhưng cầu Long Biên vẫn đứng vững.

Kể từ khi có cầu Chương Dương và Thăng Long, cầu Long Biên chỉ dành cho người đi xe đạp và cho những đoàn tàu. Cầu cơ bản vẫn không thay đổi về kết cấu. Tuy nhiên, mới đây, bà Nguyễn Nga, kiến trúc sư quy hoạch đô thị Paris, đã trình bày đề án quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát triển cầu Long Biên, với tham vọng biến cây cầu sắt thép nhất Việt Nam và 131 vòm cầu dọc phố Phùng Hưng, tháp nước Hàng Đậu, cải tạo bãi giữa sông Hồng... thành một bảo tàng văn hóa lịch sử sống giữa lòng Hà Nội, với số tiền đầu tư dự kiến lên tới 5.000 tỉ đồng (không thực hiện bằng cách kêu gọi nguồn vốn nhà nước).

Đáp lại lời kêu gọi này, dư luận xem tham vọng của bà Nguyễn Nga là "siêu dự án trong mơ". Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính cũng cho rằng, riêng việc thông qua dự án cũng phải trải qua cả rừng thủ tục.

Cầu rộng nhất

Cầu Vĩnh Tuy không chỉ là cây cầu rộng nhất Việt Nam, mà còn giành các kỷ lục khác như: cây cầu hiện đại vào bậc nhất Việt Nam, cây cầu có kết cấu chuỗi nhịp chính vượt sông lớn nhất là tám nhịp liên tục, đúc hẫng dài và chiều dài cầu chính, cầu dẫn bằng bê tông và bê tông cốt thép dự ứng lực dài nhất...

Cầu Vĩnh Tuy được khởi công xây dựng ngày 3/2/2005 và thông xe kỹ thuật vào ngày 2/9/2009, có vốn thi công lớn nhất Việt Nam tính đến hiện tại 5.500 tỷ đồng. Đây là công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội; là cây cầu bắc qua sông Hồng có điểm đầu phía bờ Nam là phường Vĩnh Tuy - Thanh Lương, cách ngã ba dốc Minh Khai 275m về phía cầu Mai Động, quận Hai Bà Trưng (Hà Nội). Điểm cuối phía bờ Bắc là phường Sài Đồng, vượt qua đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và quốc lộ 5 tại km 2+630, nút giao với tuyến chính cùng 3 nhánh đường kết nối quốc lộ 5 và đường nội bộ dân khu công nghiệp Sài Đồng thuộc quận Long Biên.

Cầu Vĩnh Tuy có tổng chiều dài toàn tuyến là 5.830m, trong đó phần cầu chính vượt sông dài 3.778 m. Cầu được kết cấu bằng bê tông cốt thép dự ứng lực gồm 77 nhịp, phần cầu chính được bố trí chuỗi nhịp dài 990m, đặt trên 2 mố và 76 trụ, trong đó 6 nhịp thông thuyền giữa sông dài 135m/nhịp. Quy mô mặt cắt ngang rộng 19,25 m. Mặt cắt ngang của các tuyến đường chính hai đầu cầu rộng 60 m (đây cũng là khổ cầu bê tông lớn nhất hiện nay tại Việt Nam).

Cầu được bố trí cho 2 làn xe cơ giới, 1 làn xe buýt, 1 làn xe hỗn hợp. Đường trên tuyến cũng được xây dựng hoàn chỉnh cho 4 làn xe cơ giới, 2 làn xe buýt và 2 làn xe hỗn hợp.

Kể từ khi được đưa vào sử dụng, cầu Vĩnh Tuy đã phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn, góp phần tăng cường giao lưu và phát triển kinh tế giữa Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác trong khu vực kinh tế trọng điểm. Ngoài ra, nó còn góp phần giải quyết ách tắc giao thông ở cửa ngõ phía Đông Bắc Thủ đô, làm giảm áp lực giao thông cho cầu Chương Dương và đáp ứng nhu cầu vận chuyển từ các tỉnh phía Bắc và Nam vào Thủ đô Hà Nội.

Ngày 5/10 vừa qua, UBND TP Hà Nội đã phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Vĩnh Tuy, giai đoạn II, với tổng mức đầu tư khoảng 2.561 tỷ đồng. Mặt cầu sau khi mở rộng đạt 38 m, gấp đôi so với hiện nay và trở thành cầu rộng nhất Việt Nam.

Cầu Vĩnh Tuy mới sẽ nối quận Hai Bà Trưng với quận Long Biên, có tổng chiều dài cầu khoảng 3.504 m, chiều cao thông thuyền 10 m, bề rộng thông thuyền 80 m, mặt cắt ngang cầu 19,25 m. Diện tích sử dụng đất của giai đoạn II khoảng 42 ha. Điểm đầu dự án giao với đường Trần Quang Khải - Nguyễn Khoái - Minh Khai (quận Hai Bà Trưng); điểm cuối giao với đường Long Biên - Thạch Bàn (quận Long Biên). Tim cầu giai đoạn II nằm song song và cách tim cầu giai đoạn I 21,25 m về phía hạ lưu sông Hồng (mép 2 cầu cách nhau 2 m).

Cầu cao nhất

Cầu Pá Uôn là cây cầu có trụ cao nhất Việt Nam bắc qua sông Đà (tại địa phận xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai), có tổng vốn đầu tư gần 740 tỷ đồng, được khởi công vào ngày 28/5/2007 và đã chính thức được hợp long vào ngày 18/4/2010.


Đây là dự án được xếp vào cấp đặc biệt quan trọng do kết cấu trụ cầu lớn, biện pháp thi công mới và tiến độ thi công rất hết sức gấp rút để phục vụ cho vùng Tây Bắc rộng lớn khi có thủy điện Sơn La, đồng thời tạo ra tuyến kết nối ngắn nhất giữa hai tỉnh Lai Châu và Sơn La. Cầu được thiết kế theo quy mô cầu vĩnh cửu bằng bê tông cốt thép dự ứng lực và thi công theo hệ dầm liên tục, với chiều dài trên 918 m, khổ cầu 9 m gồm 2 mố và 11 trụ.

Vì cầu Pá Uôn nằm trong vùng động đất cấp 8-9 nên kết cấu thân trụ đã được tính toán kỹ trong tổng thể khung dầm, vừa nhằm đảm bảo độ cứng khi chịu lực và mềm dưới tác dụng của lực động đất. Ngoài ra, do cầu nằm trong vùng lòng hồ thủy điện Sơn La, phía thượng lưu là thủy điện Lai Châu nên trụ chính được thiết kế lên đến 98 m, khoan sâu 26 m.

Cầu dây văng một mặt phẳng đầu tiên và dài nhất

Nằm trên quốc lộ 18, nối Hòn Gai với Bãi Cháy qua eo biển Cửa Lục thuộc tỉnh Quảng Ninh, cầu Bãi Cháy khánh thành vào năm 2006, là cây cầu dây văng một mặt phẳng đầu tiên và có nhịp cầu chính dài nhất thế giới.

Cầu Bãi Cháy có vốn đầu tư trên 1.000 tỷ đồng, có chiều dài 903m, chiều cao thông thuyền là 50m, chiều rộng 25,3m (gồm 4 làn xe cơ giới, 2 làn xe thô sơ) cùng 5 nhịp, nhịp chính dài 435 m. Tư vấn thiết kế - giám sát là Viện cầu và kết cấu Nhật Bản, còn nhà thầu thi công là liên danh Shimizu-Simitomo Mitsui.

Đây là loại cầu có dầm hộp bê tông cốt thép dự ứng lực, với khẩu độ nhịp đạt kỷ lục thế giới.

Hai tháp cầu được đặt trên hệ móng giếng chìm hơi ép kích thước cực lớn, lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam với công nghệ thi công hiện đại, tiên tiến. Ngoài ra, cầu còn được thi công bằng công nghệ đúc hẫng cân bằng, tại trụ cầu chính trên độ cao 50m, dầm cầu được vươn ra biển và kết thúc khi nối liền hai cánh hẫng.

Cây cầu đã vượt qua tin đồn dự đoán sập vào ngày 10/10/2010. Tuy nhiên, bà Hằng - được cho là tác giả của nó - đã bác bỏ điều nay.

Du lịch, GO! - Theo Datviet, internet
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...