Cách Hà Nội chừng 70km, đảo cò ở xã Chi Lăng Nam, Thanh Miện, Hải Dương là một điểm du lịch sinh thái có một không hai ở miền Bắc.
Hải Dương là tỉnh có tiềm năng du lịch dồi dào, một miền đất trù phú với phong cảnh thiên nhiên hữu tình và tài sản vô giá là hàng trăm di tích lịch sử đã được công nhận và xếp hạng. Trong một ngày về miền đất này, chúng tôi đã ghé thăm hai địa danh.
Uy nghi Văn Miếu Mao Điền
Khu văn miếu cổ kính nằm cạnh đường Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng, thế nên bất cứ du khách nào đi qua cũng muốn dừng chân ghé lại. Từ giữa thế kỷ thứ XV, với chủ trương mở mang việc học hành và đào tạo nho sĩ, quan lại… nhà Lê đã cho xây dựng một loạt những trường quốc lập, trong đó có Văn Miếu Mao Điền - công trình kiến trúc văn hóa bề thế, uy nghi.
Qua cổng Tam Quan đồ sộ, du khách dễ dàng nhìn thấy cây gạo cổ thụ hàng trăm năm tuổi in bóng dưới hồ nước xanh mát tôn vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch cho văn miếu. Tương truyền, cây gạo cổ thụ này được trồng từ năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) là thời điểm tái thiết văn miếu trấn Hải Dương tại Mao Điền.
Phía trong hậu cung của văn miếu thờ cả thảy chín bài vị. Chính giữa thờ Khổng Tử, ông tổ của đạo Nho. Lần lượt hai bên là bài vị của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, thầy giáo Chu Văn An, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Danh sĩ Phạm Sư Mạnh, Nhà toán học Vũ Hữu, Danh y Tuệ Tĩnh, nữ tiến sĩ đầu tiên Nguyễn Thị Duệ.
Đến Văn Miếu Mao Điền, lòng người như thư thái và tự hào về một bề dày truyền thống hiếu học của người nước Nam. Hàng năm, từng đoàn sĩ tử tụ hội về đây lòng thành kính khâm phục, quyết tâm noi theo các bậc tiên hiền để trở thành những người con hữu dụng của quê hương, đất nước.
Hấp dẫn đảo cò Chi Lăng Nam
Cách Hà Nội chừng 70km, đảo cò ở xã Chi Lăng Nam (huyện Thanh Miện) là một điểm du lịch sinh thái có một không hai ở miền Bắc. Đây được xem là vương quốc của những cánh cò, nơi tụ hội của chín loại cò quý hiếm với số lượng lên tới hàng nghìn con.
Theo kinh nghiệm của người dân địa phương thì để quan sát cò tốt nhất thì nên chọn một chiếc thuyền cỡ nhỏ để không làm náo động không gian sống của cò. Thời điểm để xem được nhiều cò nhất là lúc hoàng hôn.
Đất lành chim đậu, người dân ở đây vẫn kể cho nhau và cho du khách nghe truyền thuyết về đảo cò và hồ An Dương. Chuyện rằng, vào thế kỷ XV, nơi đây còn là những đồng ruộng trũng mênh mông, nổi trên giữa cánh đồng trũng ấy là một gò cao, bên trên có dựng một ngôi đền.
Bỗng một năm, một trận đại hồng thủy đã làm vỡ đê sông Luộc, nước tràn vào ngập trắng cả một vùng. Xung quanh gò đất nhô cao giữa cánh đồng trũng bỗng nổi lên những xoáy nước khổng lồ. Qua một đêm, ngôi đền trên đỉnh gò cao đó bỗng dưng biến mất. Nước không bao giờ rút nữa tạo thành một hồ lớn, nơi trước kia là ngôi đền hình thành một đảo nhỏ.
Người dân trong vùng xem đây là vùng nước thiêng, không bao giờ tát cạn được, nên đã sống dạt ra phía ven ngoài của hồ. Theo thời gian, cò vạc bắt đầu đến trú ngụ ở đảo mỗi ngày một nhiều. Và đảo cò Chi Lăng Nam cũng bắt đầu được hình thành từ đó.
Đò chầm chậm trôi trong ánh hoàng hôn. Du khách say mê ngắm từng đàn cò nối nhau về tổ. Mỗi đàn có số lượng từ dăm bảy chục tới hàng trăm con. Sau khi lượn nhiều lòng che kín cả khoảng không gian mặt hồ, chúng lần lượt hạ cánh an toàn xuống những lùm cây xanh xào xạc trong ánh nắng cuối ngày giữa biển nước mênh mông.
Trong nắng chiều vàng như mật, ngồi trên thuyền nhỏ bập bềnh giữa lòng hồ bao la sóng nước, những người chèo đò xứ Đông sẽ kể cho khách nghe những truyền thuyết hấp dẫn kỳ bí về đảo cò...
Du lịch, GO! - Theo Danviet, intrnet
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012
Thứ Tư, 4 tháng 1, 2012
Khám phá rừng nguyên sinh Khe Rỗ - Bắc Giang
Nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, cách Hà Nội khoảng 150 Km về phía đông bắc, rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu của cả vùng Đông Bắc Việt Nam. Khu rừng cấm có diện tích 7.153ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 5.092 ha với hệ thống động, thực vật phong phú.
Khe Rỗ nằm giữa hai con suối: nước Vàng và khe Đin, chạy ở giữa khu rừng nguyên sinh là suối Khe Rỗ, cũng vì thế mà khu rừng này mang tên Khe Rỗ; độ cao tăng dần từ Đông Bắc đến Tây Nam, chênh nhau đến 600 -700m, tiếp giáp với huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ở phía Nam và Đông Nam, với huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn ở phía Đông và Đông Bắc.
Rừng Khe Rỗ là nơi sinh tồn của 786 loài thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: pơmu, thông tre (la hán), trầm hương, lát lim, thông làng, sa nhân, ba tích,...226 loài động vật thuộc 81 họ, 24 bộ, trong đó có một số loài quý hiếm đã có tên trong sách đỏ: Gấu ngựa, sơn dương, Gấu chó, báo, rùa vàng, tê tê...
Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách thích mạo hiểm và muốn khám phá sự kỳ thú của thiên nhiên hoang dã.
Cảnh sắc của Khe Rỗ rất hoang sơ và thú vị với những tán rừng rậm rập, những suối nước, thác nước, ghềnh đá, đặc biệt là những hồ nước nhỏ trong xanh giữa rừng, nơi bạn có thể bơi lội hay tắm mát thỏa thích. Người dân tộc sống ở vùng này chủ yếu là người Tày, ngoài ra còn có người Dao, người Hoa và người Kinh. Hàng ngày họ vào rừng khai thác các cây thuốc và nguồn dược liệu, chiều về ra suối giặt giũ và tắm táp, cuộc sống luôn giản dị và trôi đi một cách bình lặng.
Du khách đến Khe Rỗ tham quan thường nghỉ đêm tại nhà sàn của kiểm lâm, những người gác rừng thân thiện và mến khách. Tham quan du ngoạn rừng Khe Rỗ, du khách còn có dịp giao lưu với bà con các dân tộc ít người giàu lòng mến khách, nhâm nhi chút mật ong rừng đậm đặc vàng quánh thơm dậy cùng nếm trái cây chín thơm ngọt quyến rũ tới xao lòng.
Vào bản mua gà, ra suối câu con cá, xin nắm rau dền ở nhà dân, với một chai rượu trắng nút chuối là chủ - khách có thể khề khà tâm sự đến đêm. Trong sự yên tĩnh của núi rừng, tha hồ ngồi nhớ đến những khoảnh khắc đôi chân băng qua con đường mòn vắt vẻo trên sườn núi hay lội qua những khe suối uốn khúc quanh co, nước trong vắt nhìn rõ đám đá cuội nằm im dưới đáy dòng…
Do đặc trưng địa hình núi cao, khí hậu trong lành, mát mẻ của khu rừng nguyên sinh, những suối nước trong mát, thích hợp cho những chuyến picnic, leo núi khám phá khu rừng nguyên sinh. Đặc biệt, trong Khe Rỗ có 2 con suối lớn và rất đẹp. Một là suối nước Vàng quanh năm như mật ong, những viên đá nổi lên đủ màu sắc, kích cỡ; một là Khe Đin chảy dài với những đoạn thác cao đến 3, 4 tầng mỗi tầng khoảng 30-40m.
Nơi những thác nước đổ xuống là những vũng nước trong vắt nhìn thấu đáy như: vũng tròn, vũng soong...thích hợp cho bơi lội hay tắm mát.
Đến với Khu bảo tồn Tây Yên Tử là về với thiên nhiên, hòa mình trong bầu không khí trong lành và cảm nhận từng nhịp sống vừa nguyên sinh nhưng cũng rất thú vị và bí ẩn. Đến nơi đây không thể không thể bỏ qua khu Rừng nguyên sinh Khe Rỗ giàu giá trị thiên nhiên. Những phút giây thư thái, những cảm giác sảng khoái sẽ mang chúng ta về gần với thiên nhiên hơn, và chỉ khi đó cảm nhận về thiên nhiên mới chân thật và thuần túy.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ web Bắc Giang, TCDL và nhiều nguồn ảnh khác.
Khe Rỗ nằm giữa hai con suối: nước Vàng và khe Đin, chạy ở giữa khu rừng nguyên sinh là suối Khe Rỗ, cũng vì thế mà khu rừng này mang tên Khe Rỗ; độ cao tăng dần từ Đông Bắc đến Tây Nam, chênh nhau đến 600 -700m, tiếp giáp với huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ở phía Nam và Đông Nam, với huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn ở phía Đông và Đông Bắc.
Rừng Khe Rỗ là nơi sinh tồn của 786 loài thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: pơmu, thông tre (la hán), trầm hương, lát lim, thông làng, sa nhân, ba tích,...226 loài động vật thuộc 81 họ, 24 bộ, trong đó có một số loài quý hiếm đã có tên trong sách đỏ: Gấu ngựa, sơn dương, Gấu chó, báo, rùa vàng, tê tê...Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách thích mạo hiểm và muốn khám phá sự kỳ thú của thiên nhiên hoang dã.
Cảnh sắc của Khe Rỗ rất hoang sơ và thú vị với những tán rừng rậm rập, những suối nước, thác nước, ghềnh đá, đặc biệt là những hồ nước nhỏ trong xanh giữa rừng, nơi bạn có thể bơi lội hay tắm mát thỏa thích. Người dân tộc sống ở vùng này chủ yếu là người Tày, ngoài ra còn có người Dao, người Hoa và người Kinh. Hàng ngày họ vào rừng khai thác các cây thuốc và nguồn dược liệu, chiều về ra suối giặt giũ và tắm táp, cuộc sống luôn giản dị và trôi đi một cách bình lặng.Du khách đến Khe Rỗ tham quan thường nghỉ đêm tại nhà sàn của kiểm lâm, những người gác rừng thân thiện và mến khách. Tham quan du ngoạn rừng Khe Rỗ, du khách còn có dịp giao lưu với bà con các dân tộc ít người giàu lòng mến khách, nhâm nhi chút mật ong rừng đậm đặc vàng quánh thơm dậy cùng nếm trái cây chín thơm ngọt quyến rũ tới xao lòng.
Vào bản mua gà, ra suối câu con cá, xin nắm rau dền ở nhà dân, với một chai rượu trắng nút chuối là chủ - khách có thể khề khà tâm sự đến đêm. Trong sự yên tĩnh của núi rừng, tha hồ ngồi nhớ đến những khoảnh khắc đôi chân băng qua con đường mòn vắt vẻo trên sườn núi hay lội qua những khe suối uốn khúc quanh co, nước trong vắt nhìn rõ đám đá cuội nằm im dưới đáy dòng…Do đặc trưng địa hình núi cao, khí hậu trong lành, mát mẻ của khu rừng nguyên sinh, những suối nước trong mát, thích hợp cho những chuyến picnic, leo núi khám phá khu rừng nguyên sinh. Đặc biệt, trong Khe Rỗ có 2 con suối lớn và rất đẹp. Một là suối nước Vàng quanh năm như mật ong, những viên đá nổi lên đủ màu sắc, kích cỡ; một là Khe Đin chảy dài với những đoạn thác cao đến 3, 4 tầng mỗi tầng khoảng 30-40m.
Nơi những thác nước đổ xuống là những vũng nước trong vắt nhìn thấu đáy như: vũng tròn, vũng soong...thích hợp cho bơi lội hay tắm mát.
Đến với Khu bảo tồn Tây Yên Tử là về với thiên nhiên, hòa mình trong bầu không khí trong lành và cảm nhận từng nhịp sống vừa nguyên sinh nhưng cũng rất thú vị và bí ẩn. Đến nơi đây không thể không thể bỏ qua khu Rừng nguyên sinh Khe Rỗ giàu giá trị thiên nhiên. Những phút giây thư thái, những cảm giác sảng khoái sẽ mang chúng ta về gần với thiên nhiên hơn, và chỉ khi đó cảm nhận về thiên nhiên mới chân thật và thuần túy.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ web Bắc Giang, TCDL và nhiều nguồn ảnh khác.
Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011
Đón năm mới giữa rừng Pù Luông
Đã bao lần đón năm mới xa nhà, khi lang bạt trên các cung đường Tây Bắc bạt ngàn hoa đào, hoa mận trong giá lạnh tê tái, lúc rong ruổi cùng nắng gió hào sảng của đất miền Trung…, nhưng cái Tết dương lịch đáng nhớ nhất với chúng tôi là ở Pù Luông – với hai chiếc bánh chưng, một nồi cơm nửa sống nửa chín và một soong… thịt chó trong căn lều canh sắn chơ vơ giữa rừng hoang cùng những con người hồn hậu, thân thiện.
< Bản nhỏ mến khách ven đường.
Tết dương lịch năm ấy, chúng tôi chọn Pù Luông – khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn hai huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa để trốn khỏi phố phường ồn ào, mở hàng cho hành trình phiêu du năm mới.
Bỏ túi hai chiếc bánh chưng để cho tiệc tất niên, cả lũ hơn chục chiếc xe máy hăm hở lên đường vào ngày cuối cùng của năm cũ.
Sáng đầu tiên tới Mai Châu êm ả, nhẹ nhàng và một bữa trưa ngon miệng cùng cơm lam, gà đồi, xôi nếp nương thơm lừng cùng vò rượu cần sóng sánh giữa bản Lác khiến chúng tôi càng thêm phấn chấn. Cho tới khi rẽ vào đường 15C – con đường gập ghềnh nổi tiếng khó đi xuyên ngang khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, những bánh xe quay đều vẫn còn hăm hở lắm.
Những tia nắng lọt qua tán luồng xanh rậm rì nhảy nhót trên mặt đường, còn chúng tôi nhảy nhót trên yên xe qua đoạn đường lổn nhổn đá dăm lẫn đá hộc.
Thử thách đầu tiên là suối Pưng. Vào mùa khô, lòng suối cạn đầy đá cuội to hơn nắm tay cũng chẳng là gì với những kẻ đang háo hức. Đường ngày càng khó đi hơn, dốc cao, trơn trượt, đầy bùn đất cũng không làm những kẻ “say” đường bận tâm. Tất cả còn đang mê mải với cảnh rừng hùng vĩ mở ra trước mắt với bãi cỏ xanh mướt như trên thảo nguyên, những nếp nhà sàn tỏa khói yên bình và con đường mòn ngoằn ngoèo uốn lượn giữa lưng núi.
Cứ vẩn vơ với mây gió, núi rừng, chợt mọi người đều giật mình bởi nhận ra mình đã lọt vào một bãi bùn nhão hằn sâu hai vệt bánh xe tải như hai luống cày kéo dài bất tận. Đã là gần 4 rưỡi chiều. Rừng hoang hiu quạnh, không một nóc nhà. “Ác mộng” Pù Luông bắt đầu.
Những bước chân bị bùn nhão dính chặt. Những chiếc xe máy đã trở thành những khối sắt nặng ngàn cân, đứng thẳng chẳng cần chân trống giữa bãi bùn ngập gần hết bánh xe. Mệt mỏi, rét mướt, lo sợ, trong đầu chúng tôi lởn vởn hiện lên một đêm tất niên nhịn đói giữa rừng hoang tê tái lạnh với ánh đèn pha xe máy, đèn pin thay ánh nến lung linh.
Giữa bóng đêm hoang mang ấy, bỗng thấy ánh đèn le lói, chập chờn phía xa, chỉ nhỏ xíu như con đom đóm, nhưng ấm áp và rực rỡ hơn cả pháo hoa đêm giao thừa. Lại còng lưng bì bõm đẩy xe giữa bãi bùn nhão nhoét. Rồi chúng tôi tròn mắt khi thấy “thiên đường” của mình hiện ra - một căn nhà sàn trống hơ hoác, vách nứa thủng lỗ chỗ gió thổi hun hút bốn bề, mà sáng hôm sau chúng tôi mới biết đó là một cái lều canh sắn. Chàng thanh niên chủ nhà tên Sáng thì tròn mắt trước đám “ma bùn” không hiểu từ đâu chui ra giữa rừng với lỉnh kỉnh máy ảnh, balô. Sáng còn kinh ngạc hơn nữa khi “những người thành phố” chen chúc bên bếp lửa leo lét trong căn lều tuềnh toàng mà hỉ hả như thể đang được ở trong lâu đài.
Chàng thanh niên trẻ ấy cứ ái ngại vì cái lâu đài giữa rừng ấy chỉ có một lu nước nhỏ chẳng đủ cho mọi người rửa sạch đôi chân dính đầy bùn đất, cũng chỉ có những cái chăn đơn dùng để trùm sắn bết đất mà lũ chúng tôi tranh nhau co kéo và vài ba cái bát sứt mẻ, dăm đôi đũa bên bếp lửa nhỏ xíu khiến mọi người đều phải ăn bốc. Nhưng mặc kệ, chúng tôi vẫn “mở tiệc” tất niên với hai cái bánh chưng mang theo từ nhà, một nồi cơm nửa sống nửa chín và một soong... thịt chó vừa được Sáng đi kiếm gần một tiếng đồng hồ mới mang về được đã bị chúng tôi xào cháy sém chỉ trong vài phút. Bữa tiệc tất niên ấy cứ kéo dài suốt đêm bên bếp lửa hồng bập bùng với những câu chuyện rôm rả bất tận, những tràng cười vang cả núi rừng.
Sáng sớm, Sáng cùng vài người bạn chặt cây lót đường cho chúng tôi đẩy xe qua cái “đầm lầy” dài đến gần trăm mét ngay trước cửa lều. Không chỉ có Sáng, hình như cả bản nhỏ cách đó gần năm cây số cũng biết sự có mặt của chúng tôi, chẳng biết bằng cách nào, không có điện thoại, không sóng di động, không loa phát thanh. Suốt dọc con đường đất đi ngang chừng chục nóc nhà sàn lợp lá đơn sơ, những đứa trẻ má đỏ hồng vì nẻ tíu tít chạy theo xe chúng tôi, những bà cụ nheo nheo mắt cười trìu mến, những chàng thanh niên vẫy tay chào vui vẻ. Bữa tiệc đón năm mới trong căn lều canh sắn với Sáng và ánh mắt, nụ cười của những con người hồn hậu ở miền rừng heo hút, nghèo khó ấy đã theo suốt chúng tôi trong những ngày đầu năm mới tê tái lạnh ngoài trời, nhưng ấm áp trong lòng giữa đại ngàn Pù Luông.
Du lịch, GO! - Theo Ngân Hà (Laodong), internet
< Bản nhỏ mến khách ven đường.
Tết dương lịch năm ấy, chúng tôi chọn Pù Luông – khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn hai huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa để trốn khỏi phố phường ồn ào, mở hàng cho hành trình phiêu du năm mới.
Bỏ túi hai chiếc bánh chưng để cho tiệc tất niên, cả lũ hơn chục chiếc xe máy hăm hở lên đường vào ngày cuối cùng của năm cũ.Sáng đầu tiên tới Mai Châu êm ả, nhẹ nhàng và một bữa trưa ngon miệng cùng cơm lam, gà đồi, xôi nếp nương thơm lừng cùng vò rượu cần sóng sánh giữa bản Lác khiến chúng tôi càng thêm phấn chấn. Cho tới khi rẽ vào đường 15C – con đường gập ghềnh nổi tiếng khó đi xuyên ngang khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, những bánh xe quay đều vẫn còn hăm hở lắm.
Những tia nắng lọt qua tán luồng xanh rậm rì nhảy nhót trên mặt đường, còn chúng tôi nhảy nhót trên yên xe qua đoạn đường lổn nhổn đá dăm lẫn đá hộc.
Thử thách đầu tiên là suối Pưng. Vào mùa khô, lòng suối cạn đầy đá cuội to hơn nắm tay cũng chẳng là gì với những kẻ đang háo hức. Đường ngày càng khó đi hơn, dốc cao, trơn trượt, đầy bùn đất cũng không làm những kẻ “say” đường bận tâm. Tất cả còn đang mê mải với cảnh rừng hùng vĩ mở ra trước mắt với bãi cỏ xanh mướt như trên thảo nguyên, những nếp nhà sàn tỏa khói yên bình và con đường mòn ngoằn ngoèo uốn lượn giữa lưng núi.
Cứ vẩn vơ với mây gió, núi rừng, chợt mọi người đều giật mình bởi nhận ra mình đã lọt vào một bãi bùn nhão hằn sâu hai vệt bánh xe tải như hai luống cày kéo dài bất tận. Đã là gần 4 rưỡi chiều. Rừng hoang hiu quạnh, không một nóc nhà. “Ác mộng” Pù Luông bắt đầu.
Những bước chân bị bùn nhão dính chặt. Những chiếc xe máy đã trở thành những khối sắt nặng ngàn cân, đứng thẳng chẳng cần chân trống giữa bãi bùn ngập gần hết bánh xe. Mệt mỏi, rét mướt, lo sợ, trong đầu chúng tôi lởn vởn hiện lên một đêm tất niên nhịn đói giữa rừng hoang tê tái lạnh với ánh đèn pha xe máy, đèn pin thay ánh nến lung linh.
Giữa bóng đêm hoang mang ấy, bỗng thấy ánh đèn le lói, chập chờn phía xa, chỉ nhỏ xíu như con đom đóm, nhưng ấm áp và rực rỡ hơn cả pháo hoa đêm giao thừa. Lại còng lưng bì bõm đẩy xe giữa bãi bùn nhão nhoét. Rồi chúng tôi tròn mắt khi thấy “thiên đường” của mình hiện ra - một căn nhà sàn trống hơ hoác, vách nứa thủng lỗ chỗ gió thổi hun hút bốn bề, mà sáng hôm sau chúng tôi mới biết đó là một cái lều canh sắn. Chàng thanh niên chủ nhà tên Sáng thì tròn mắt trước đám “ma bùn” không hiểu từ đâu chui ra giữa rừng với lỉnh kỉnh máy ảnh, balô. Sáng còn kinh ngạc hơn nữa khi “những người thành phố” chen chúc bên bếp lửa leo lét trong căn lều tuềnh toàng mà hỉ hả như thể đang được ở trong lâu đài.
Chàng thanh niên trẻ ấy cứ ái ngại vì cái lâu đài giữa rừng ấy chỉ có một lu nước nhỏ chẳng đủ cho mọi người rửa sạch đôi chân dính đầy bùn đất, cũng chỉ có những cái chăn đơn dùng để trùm sắn bết đất mà lũ chúng tôi tranh nhau co kéo và vài ba cái bát sứt mẻ, dăm đôi đũa bên bếp lửa nhỏ xíu khiến mọi người đều phải ăn bốc. Nhưng mặc kệ, chúng tôi vẫn “mở tiệc” tất niên với hai cái bánh chưng mang theo từ nhà, một nồi cơm nửa sống nửa chín và một soong... thịt chó vừa được Sáng đi kiếm gần một tiếng đồng hồ mới mang về được đã bị chúng tôi xào cháy sém chỉ trong vài phút. Bữa tiệc tất niên ấy cứ kéo dài suốt đêm bên bếp lửa hồng bập bùng với những câu chuyện rôm rả bất tận, những tràng cười vang cả núi rừng.
Du lịch, GO! - Theo Ngân Hà (Laodong), internet
Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011
Lần theo kho báu giữa rừng Xuân Sơn
Cách Hà Nội khoảng 120km, hành trình đến rừng Xuân Sơn thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay rất dễ dàng, nếu có chút mạo hiểm với những phút giây trải nghiệm cùng vẻ hoang sơ của cung đường, của núi rừng, có thể dùng phương tiện xe máy để đi về trong ngày nếu khởi hành từ Hà Nội. Từ Hà Nội lên Sơn Tây, theo quốc lộ 32 để đến địa phận Thanh Sơn sẽ đến lối rẽ vào vườn quốc gia Xuân Sơn.
^ Bản Cỏi của người Dao, người Mường.
Rừng Xuân Sơn là quê hương của gà chín cựa, là đất sống của chuối cô đơn, có cánh rừng chò chỉ đẹp nhất nhì Tây Bắc, có hệ thống hang động đá vôi đầy bí ẩn… Những lý do đó đã hấp dẫn tôi tìm về cánh rừng Xuân Sơn để khám phá những nét độc đáo ấy.
Với diện tích hơn 15.000 ha, Xuân Sơn là rừng quốc gia hiếm hoi có rừng nguyên sinh tồn tại trên rặng núi đá vôi, nằm ở đoạn cuối của dãy Hoàng Liên Sơn trên địa phận tỉnh Phú Thọ. Được thiên nhiên ban tặng cho một địa thế độc đáo, có thể gọi Xuân Sơn như một kho báu giữa trời. Là một điểm đến đầy hấp dẫn gắn liền với những câu chuyện truyền thuyết, lịch sử, những giống loài động thực vật quý hiếm cùng đời sống văn hoá đặc sắc của cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa.
Khung cảnh các bản làng yên bình
Đường vào rừng Xuân Sơn quanh co đèo dốc, cũng có những cổng trời với khung cảnh đầy nguyên sơ, rất ít người qua lại và còn khá lạ trong bản đồ của khách du lịch thông thường. Khác với những vườn quốc gia khác, Xuân Sơn có con đường trải nhựa nối đến giữa rừng, thuộc địa phận bản Cỏi, một bản nhỏ của người Dao nằm ven suối, bao phủ quanh bởi rặng núi đá vôi, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên thật kỳ vĩ, đẹp mắt.

< Gà chín cựa ở núi rừng Xuân Sơn.
Trước khi đến bản Cỏi có một trạm kiểm lâm, muốn được vào rừng du khách phải trình báo, và cũng để có thêm những kiến thức sơ bộ về Xuân Sơn qua hình ảnh, những hiện vật sưu tầm, và những thông tin mà anh em kiểm lâm cung cấp. Từ trạm kiểm lâm, cứ dong xe chạy đến bản Na, bản Dù, bản Cỏi… mỗi bản làng lại mang một sắc thái, một nét độc đáo riêng của các dân tộc Dao, Mường bản địa.
Bản Cỏi, nơi sinh sống của hơn 100 nóc nhà người Dao từ bao đời qua, là điểm cuối của con đường trải nhựa, nơi đây còn nuôi giống gà chín cựa độc đáo – lễ vật thách cưới của vua Hùng trong câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh khi xưa. Muốn vào được bản phải vượt qua con suối đầy đá cuội, chào đón khách phương xa là nhịp chày đều đặn từ những chiếc cối giã gạo, giã ngô mượn từ sức nước được người bản địa đặt rải rác bên bờ suối, tạo nên khung cảnh thật bình yên, đơn sơ giữa núi rừng. Dòng nước quanh năm mát lạnh ấy lại xuất phát từ một hệ thống hang động đá vôi độc đáo, một báu vật của rừng Xuân Sơn mà tôi mong muốn được một lần chạm mặt.
Hang động kỳ bí giữa rừng
Những người giữ rừng Xuân Sơn ở trạm kiểm lâm cho biết, hệ thống núi đá vôi ở đây có đến bảy hang động, hầu hết chưa có tên gọi cụ thể. Người địa phương lấy luôn tên gọi của các bản làng kế cận, hoặc những đặc tính để đặt tên cho hang như hang Lạng, hang Na, hang Cỏi, hang Dơi, hang Thổ thần… cùng những dòng thác như thác Bạc, thác Ngọc… đã hình thành nên một nét độc đáo và quyến rũ của Xuân Sơn.

< Lối vào hang Cỏi - một hang đẹp và ký bí bậc nhất ở rừng Xuân Sơn.
Khám phá được hết chuỗi hang động của rừng Xuân Sơn thực là một ao ước, bởi mỗi hang lại mang một vẻ đẹp riêng, nếu như hang Dơi như một lỗ hổng giữa lưng chừng núi, muốn đến phải thòng dây từ đỉnh để tiếp cận miệng hang, trong đó là nơi cư trú của hàng triệu con dơi, thì hang Lạng lại như một địa đạo ngầm với vòm trần cao đến 10m, độ dài ước chừng gần chục cây số, là nơi sinh sống của vô số các loài cá đặc sản như cá chép, cá quất, cá măng xanh, cá trê... Động Tiên với vô vàn nhũ đá đầy lung linh huyền ảo…
Trong số hang động kỳ vĩ ấy, hang Cỏi vẫn là một ẩn số lớn bởi ngay cả với những người Dao, Mường bản địa vẫn chưa ai đi hết chiều dài của lòng hang. Với những phương tiện hạn hữu mang theo, tôi theo chân những thanh niên bản Cỏi đi sâu vào lòng hang với mục đích khám phá một phần vẻ đẹp của hang động kỳ vĩ này.
Cửa hang như một con quái vật khổng lồ há miệng đen ngòm, lởm chởm các khối đá không theo một trật tự sắp đặt, nằm ngổn ngang như tạo thêm cho đường vào hang thêm phức tạp và khó khăn hơn.
Bước qua miệng hang chưa đầy 20m, dòng sông ngầm đã ngay trước mặt, phả hơi nước mát lạnh. Tôi như đang đứng giữa một toà thiên nhiên đầy bí ẩn, bao quanh là vẻ đẹp của những khối thạch nhũ ngàn năm khi ẩn khi hiện theo ánh đèn pin.
Lần từng bước vào lòng hang, dòng sông ngầm càng sâu và lạnh hơn, chảy êm ả qua các bức tường thạch nhũ. Dưới lòng hang là lớp cát trắng mịn, nước trong vắt dưới ánh đèn, thấy rõ cả những đàn cá tung tăng lội. Có những đoạn nước sâu, vòm hang rộng tối om, vẻ bí ẩn ấy đem lại một cảm giác thật khó tả, pha lẫn chút lo sợ khi trầm mình dưới làn nước lạnh để lặng người nghe từng nhịp rơi của nước từ nhũ đá trên trần xuống mặt nước, vang vọng trong lòng hang.
Cứ mỗi bước khám phá hang Cỏi, lại là những cảm giác đầy lý thú khi được thoả chí tưởng tượng, cảm nhận và trải nghiệm những hấp dẫn của các khối hình thạch nhũ trong hang sâu, dễ khiến những bước chân lữ hành phải chùn lại, nghiêng mình trước vẻ đẹp mà tạo hoá đã dành tặng cho hệ thống hang động trong núi rừng Xuân Sơn thương yêu.
Du lịch, GO! - Theo SGTT.VN, internet
Xuân Sơn, kỳ thú trong từng góc cạnh
Các món bánh dân dã Xuân Sơn
Xuân Sơn phiêu lưu ký
^ Bản Cỏi của người Dao, người Mường.
Rừng Xuân Sơn là quê hương của gà chín cựa, là đất sống của chuối cô đơn, có cánh rừng chò chỉ đẹp nhất nhì Tây Bắc, có hệ thống hang động đá vôi đầy bí ẩn… Những lý do đó đã hấp dẫn tôi tìm về cánh rừng Xuân Sơn để khám phá những nét độc đáo ấy.
Với diện tích hơn 15.000 ha, Xuân Sơn là rừng quốc gia hiếm hoi có rừng nguyên sinh tồn tại trên rặng núi đá vôi, nằm ở đoạn cuối của dãy Hoàng Liên Sơn trên địa phận tỉnh Phú Thọ. Được thiên nhiên ban tặng cho một địa thế độc đáo, có thể gọi Xuân Sơn như một kho báu giữa trời. Là một điểm đến đầy hấp dẫn gắn liền với những câu chuyện truyền thuyết, lịch sử, những giống loài động thực vật quý hiếm cùng đời sống văn hoá đặc sắc của cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa.Khung cảnh các bản làng yên bình
Đường vào rừng Xuân Sơn quanh co đèo dốc, cũng có những cổng trời với khung cảnh đầy nguyên sơ, rất ít người qua lại và còn khá lạ trong bản đồ của khách du lịch thông thường. Khác với những vườn quốc gia khác, Xuân Sơn có con đường trải nhựa nối đến giữa rừng, thuộc địa phận bản Cỏi, một bản nhỏ của người Dao nằm ven suối, bao phủ quanh bởi rặng núi đá vôi, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên thật kỳ vĩ, đẹp mắt.

< Gà chín cựa ở núi rừng Xuân Sơn.
Trước khi đến bản Cỏi có một trạm kiểm lâm, muốn được vào rừng du khách phải trình báo, và cũng để có thêm những kiến thức sơ bộ về Xuân Sơn qua hình ảnh, những hiện vật sưu tầm, và những thông tin mà anh em kiểm lâm cung cấp. Từ trạm kiểm lâm, cứ dong xe chạy đến bản Na, bản Dù, bản Cỏi… mỗi bản làng lại mang một sắc thái, một nét độc đáo riêng của các dân tộc Dao, Mường bản địa.
Bản Cỏi, nơi sinh sống của hơn 100 nóc nhà người Dao từ bao đời qua, là điểm cuối của con đường trải nhựa, nơi đây còn nuôi giống gà chín cựa độc đáo – lễ vật thách cưới của vua Hùng trong câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh khi xưa. Muốn vào được bản phải vượt qua con suối đầy đá cuội, chào đón khách phương xa là nhịp chày đều đặn từ những chiếc cối giã gạo, giã ngô mượn từ sức nước được người bản địa đặt rải rác bên bờ suối, tạo nên khung cảnh thật bình yên, đơn sơ giữa núi rừng. Dòng nước quanh năm mát lạnh ấy lại xuất phát từ một hệ thống hang động đá vôi độc đáo, một báu vật của rừng Xuân Sơn mà tôi mong muốn được một lần chạm mặt.
Hang động kỳ bí giữa rừng
Những người giữ rừng Xuân Sơn ở trạm kiểm lâm cho biết, hệ thống núi đá vôi ở đây có đến bảy hang động, hầu hết chưa có tên gọi cụ thể. Người địa phương lấy luôn tên gọi của các bản làng kế cận, hoặc những đặc tính để đặt tên cho hang như hang Lạng, hang Na, hang Cỏi, hang Dơi, hang Thổ thần… cùng những dòng thác như thác Bạc, thác Ngọc… đã hình thành nên một nét độc đáo và quyến rũ của Xuân Sơn.

< Lối vào hang Cỏi - một hang đẹp và ký bí bậc nhất ở rừng Xuân Sơn.
Khám phá được hết chuỗi hang động của rừng Xuân Sơn thực là một ao ước, bởi mỗi hang lại mang một vẻ đẹp riêng, nếu như hang Dơi như một lỗ hổng giữa lưng chừng núi, muốn đến phải thòng dây từ đỉnh để tiếp cận miệng hang, trong đó là nơi cư trú của hàng triệu con dơi, thì hang Lạng lại như một địa đạo ngầm với vòm trần cao đến 10m, độ dài ước chừng gần chục cây số, là nơi sinh sống của vô số các loài cá đặc sản như cá chép, cá quất, cá măng xanh, cá trê... Động Tiên với vô vàn nhũ đá đầy lung linh huyền ảo…
Trong số hang động kỳ vĩ ấy, hang Cỏi vẫn là một ẩn số lớn bởi ngay cả với những người Dao, Mường bản địa vẫn chưa ai đi hết chiều dài của lòng hang. Với những phương tiện hạn hữu mang theo, tôi theo chân những thanh niên bản Cỏi đi sâu vào lòng hang với mục đích khám phá một phần vẻ đẹp của hang động kỳ vĩ này.
Cửa hang như một con quái vật khổng lồ há miệng đen ngòm, lởm chởm các khối đá không theo một trật tự sắp đặt, nằm ngổn ngang như tạo thêm cho đường vào hang thêm phức tạp và khó khăn hơn.
Bước qua miệng hang chưa đầy 20m, dòng sông ngầm đã ngay trước mặt, phả hơi nước mát lạnh. Tôi như đang đứng giữa một toà thiên nhiên đầy bí ẩn, bao quanh là vẻ đẹp của những khối thạch nhũ ngàn năm khi ẩn khi hiện theo ánh đèn pin.Lần từng bước vào lòng hang, dòng sông ngầm càng sâu và lạnh hơn, chảy êm ả qua các bức tường thạch nhũ. Dưới lòng hang là lớp cát trắng mịn, nước trong vắt dưới ánh đèn, thấy rõ cả những đàn cá tung tăng lội. Có những đoạn nước sâu, vòm hang rộng tối om, vẻ bí ẩn ấy đem lại một cảm giác thật khó tả, pha lẫn chút lo sợ khi trầm mình dưới làn nước lạnh để lặng người nghe từng nhịp rơi của nước từ nhũ đá trên trần xuống mặt nước, vang vọng trong lòng hang.
Cứ mỗi bước khám phá hang Cỏi, lại là những cảm giác đầy lý thú khi được thoả chí tưởng tượng, cảm nhận và trải nghiệm những hấp dẫn của các khối hình thạch nhũ trong hang sâu, dễ khiến những bước chân lữ hành phải chùn lại, nghiêng mình trước vẻ đẹp mà tạo hoá đã dành tặng cho hệ thống hang động trong núi rừng Xuân Sơn thương yêu.
Du lịch, GO! - Theo SGTT.VN, internet
Xuân Sơn, kỳ thú trong từng góc cạnh
Các món bánh dân dã Xuân Sơn
Xuân Sơn phiêu lưu ký
Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011
Kỳ lạ những cổ thụ tại Lam Kinh
Lam Kinh (hay còn gọi là Tây Kinh) thuộc địa bàn xã Xuân Lam huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hoá 52km về phía Tây Bắc. Khu di tích lịch sử Lam Kinh rộng khoảng 30 ha, gồm những lăng phần, đền miếu và một hành cung của các vua nhà Hậu Lê mỗi lần về bái yết tổ tiên.
Ngoài các đền, điện, miếu..., dấu tích của một thời đời các vua Lê thì tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh này có những cây ổi quái dị (bởi hễ cứ gãi vào là “cười”) và đặc biệt này còn nhiều loại cây kỳ lạ khác.
Cây đa và thị cổ chung một gốc
Cô hướng dẫn viên du lịch Lê Thị Lan thướt tha tà áo dài, tự hào giới thiệu mãi với du khách về một cây cổ thụ có tên nôm na là cây Đa Thị, nằm ngay phía Tây Nam sân rồng của di tích Lam Kinh.
Cây đa này cao chừng 50m, cành gốc xum xuê, phủ bóng rợp một góc sân. Cứ theo lời Lan, cây Đa Thị đặc biệt ở chỗ gốc đa ôm lấy gốc thị. Tuy là hai cây cho hai loại quả nhưng chỉ có chung một gốc, cùng bạc phếch màu như đã lẫn thân vào thành một khối.
< Cô hướng dẫn viên du lịch tên Lan giới thiệu về cây đa và cây thị chung gốc.
Những năm trước đây, cây thị vẫn cho nhiều quả, tuy nhỏ và có vị chát nhưng rất thơm. Căn cứ theo những biến cố thăng trầm của Lam Kinh, cây đa được ước tính chừng 300 tuổi.
Cây thị được cho là có trước, già hơn cây đa, đã chết năm 2007, chỉ còn lại thân gỗ khô. Người xưa cho rằng, chim chóc thường về đậu trên cây thị, có mang theo quả đa về ăn nên rơi hạt mà mọc lên cây đa. Đa lớn nhanh, ôm lấy gốc thị.
Theo lời những người gắn bó lâu năm với khu di tích, chuyện hai thân cây ôm lấy nhau rồi hóa thành một không hiếm ở Lam Kinh. Ở vùng đất cổ kính này, còn có nhiều gốc cây là đa, si ôm chặt lấy một thân cây cổ thụ nào đó trong các khu rừng cổ, tương tự như cây Đa Thị nổi tiếng kia.
Lam Kinh có “cây ổi cười”
< "Cù" vào cành, thì chỉ lá ở cành đó "cười".
Cây ổi cười nằm khiêm tốn ở góc phải khuôn viên Vĩnh Lăng, phía sau hàng quan hầu và linh thú hiền từ đang chầu trước mộ vua. Lê Thái Tổ. Cây ổi này trông không khác gì một cây ổi bình thường, cành khẳng khiu, có vẻ rất già cỗi và nằm một góc lặng lẽ trong khu lăng mộ. Điều đặc biệt là chỉ cần bạn dùng móng tay cào nhẹ vào bất cứ điểm nào trên thân cây từ gốc đến ngọn là lập tức toàn bộ cành lá của nó rung lên như đang cười.
Trạng thái “cười” của cây ổi này không phải do có gió thổi hay bị tác động như rung, lắc. Chính vì vậy mà người ta liên tưởng rằng cây ổi đang cười và chỉ cười khi bị “thọc lét”.
< Chưa ai giải thích được vì sao cây "ổi Tàu" này lại biết "cười".
Vào các buổi sáng yên tĩnh, lặng gió thì rất dễ dàng thấy cây cười rung rinh, cười như nắc nẻ khi có người chạm vào. Dường như cây cũng có linh cảm như con người, bị chạm vào “da thịt” chỗ nhạy cảm thì có phản ứng. Trước đây, có một nhà thơ người Phú Thọ đến viếng lăng, bảo rằng, đây là giống ổi Tàu, do thân nhỏ cành nhỏ nên dễ rung rinh. Nhưng giải thích làm sao đây khi cây ổi Ta bên trái kia cũng biết cười?
Kỳ lạ là nếu đem cành chiết của các cây đó trồng ra ngoài khuôn viên khu mộ thì không có hiện tượng đó. Nghe nói, đã có nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu để tìm nguyên nhân gây ra hiện tượng này.
Sét sợ cây sui
Cây cổ thụ được cho là cổ kính nhất, đặc biệt nhất và cao lớn nhất ở Lam Kinh chính là một cây sui ở trung tâm di tích, ngay phía sau tòa Thái miếu.
< Cây sui khổng lồ trong Khu Di tích Lam Kinh.
Người xưa, nhất là đồng bào vùng cao coi trọng cây sui vì vỏ cây bóc ra làm chăn giữ ấm mùa đông (“Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”– Tố Hữu).
Theo ông Trịnh Đình Dương, trong cuốn Đại Việt sử kí toàn thư có chép nhiều chuyện sét đánh ở Lam Kinh, cháy nhà, cháy cây. Chuyện sét đánh khá bình thường đối với những vùng đất được coi là hội tụ linh khí như vẫn gặp ở đàn Tế giao của vương triều nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) hay chính ngôi thành thành đá kỳ vĩ.
Ông Dương cho biết thêm: “Hiện nay sét vẫn thường đánh ầm ầm ở Khu Di tích Lam Kinh, nhiều khi làm hỏng cả thiết bị máy móc của Ban Quản lý. Có những chiếc máy tính mới mua, được vài hôm sét đã làm cháy khét lẹt, vác đi sửa không ăn thua, phải bỏ.
Cứ nghe tiếng “đùng, đoàng” khủng khiếp là y như rằng có những cây cối xanh tươi trong Khu Di tích bị đánh chết cháy giữa ngày không mưa.
< Dù cây sui rất cao lớn, nhưng hàng trăm năm nay sét chỉ đánh vào những cây nhỏ xung quanh.
Mỗi năm kiểu gì cũng có dăm ba cây bị sét đánh chết khô.
Nhưng cây sui cao lớn nhất vùng, dễ phải hơn 60m, tuổi đời có lẽ chừng 600- 700 tuổi, lại không hề bị sét đánh bao giờ, dù ở đây mỗi năm có vài ba cây xung quanh nó, dù thấp hơn nhiều, vẫn bị sét đánh chết”.
Mọi người dự đoán, cây sui như một cột thu lôi hút linh khí vần vũ giao hòa của trời đất truyền vào lòng đất được người xưa lựa chọn đặc biệt kỳ công về phong thủy này chăng?
Lại có ý kiến cho rằng: Cây sui được trồng để đánh dấu một vị trí đặc biệt quan trọng của khu tông miếu nhà Hậu Lê, rất có thể là ngôi mộ thực an táng Bình Định Vương Lê Lợi.
Cây lim 600 năm tuổi “tự thoát xác”
< Gốc cây lim vừa khít với tiết diện tảng kê chân cột này.
Nhưng sự ngạc nhiên gần đây nhất thuộc về một cây vừa được lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa quyết định hạ trong dịp giỗ Lê Lợi tháng 8 âm lịch vừa qua.
Đó là cây lim cổ thụ, khoảng 600 tuổi, cao nhất nhì rừng Lam Kinh, được người dân địa phương gọi là cây Lim Cò, do trước đây cò thường về đậu trắng trên ngọn cây.
Cô hướng dẫn viên du lịch Lê Thị Lan hồ hởi giới thiệu: “Trong ngày 21 và 22- 8 âm lịch vừa qua, nhân dịp giỗ Bình Định Vương Lê Lợi, tỉnh Thanh Hóa đã làm lễ “phạt mộc”, hạ một cây lim khoảng 600 năm tuổi để khởi công phỏng dựng Chính điện.
Điều kỳ lạ hay trùng hợp thì chưa rõ, nhưng cây lim cổ thụ vốn đang sống tươi tốt trong khuôn viên di tích, gần đây bỗng trút lá một lần, rồi khô đi mà chết, như một sự tự nguyện hiến thân cho công việc này”.
Mấy năm trước, thân cây còn tráng kiện, lá cây xanh mướt mát, tưởng như bất tử, nhưng từ mùa xuân năm ngoái, bỗng ào ào rụng lá đến khi không còn một chiếc nào. Cây khô lá, khô cành chừng dăm bảy tháng sau thì chết.
Ông Trịnh Đình Dương cho biết thêm: “Điều trùng hợp là thời điểm cây Lim Cò trút lá trùng với thời điểm dự án phục hồi phỏng dựng Chính điện Lam Kinh được phê duyệt, và khi cây chết là lúc thiết kế thi công vừa hoàn thành.
Ngoài ra còn có hai điều trùng hợp nữa.
< Tam quan Chính điện Lam Kinh được phục dựng theo nguyên mẫu với những cây lim cổ thụ.
Thứ nhất, thường thì các cây lim cổ thụ thường bị tiêu tâm (rỗng ruột), nhưng riêng cây lim này thì không, rất thuận lợi để làm trụ cột các tòa nhà lớn như công trình phỏng dựng Chính điện với quy mô 9 tòa nhà gỗ lim đồ sộ nhất Việt Nam.
Thứ hai, sau khi làm lễ “phạt mộc”, rồi tiến hành gọt bỏ phần vỏ cây, pha được 4 khúc gỗ lớn thì riêng phần thân cây đủ làm một cột cái, một cột quân, hai nhánh cây đủ làm một cột con và một thượng lương.
Đường kính phần gốc cây lim gần như trùng khớp với gương tảng cột cái (xấp xỉ 0,8m), phần ngọn khoảng 0,65 cm, vừa với gương tảng cột quân”.
Tất nhiên, việc phỏng dựng Chính điện cần rất nhiều gỗ lim, phải nhập ngoại, chứ không phải chỉ rừng lim xanh cổ thụ ở Lam Kinh có thể cung cấp đủ.
Nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên này khiến người dân địa phương vốn đã thấy rất nhiều chuyện lạ trong khu vực linh thiêng này cho rằng, dường như cây Lim Cò từ 600 năm trước được sinh ra là để phục vụ cho việc phỏng dựng Chính điện này.
Trên tấm bia Vĩnh Lăng đẹp nhất nhì Việt Nam được làm bằng đá trầm tích nguyên khối còn đặt tại Lam Kinh do quan Vinh Lộc đại phu Nhập nội hành khiển Tri tam quản sự Nguyễn Trãi phụng soạn, có đoạn chép về cụ tổ Lê Hối của Thái tổ Lê Lợi:
“… Một ngày kia đi chơi Lam Sơn, thấy có đàn chim bay lượn ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho rằng chỗ này là đất tốt liền dời nhà đến đây, được ba năm thành sản nghiệp, con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều, việc dựng nước mở đất thực gây nền từ đấy”.
Lam Kinh hiện nay có 97ha rừng trên tổng diện tích 200ha, với rất nhiều rừng cổ, cây cổ thụ, chim chóc, rắn, thú, mỗi năm đón hàng trăm ngàn du khách về khói nhang, vãn cảnh.
Rắn hiện ở Lam Kinh có rất nhiều, đủ loại lớn nhỏ khác nhau. Những ngày đẹp trời, rắn thường bò ra thảnh thơi phơi nắng khắp sân Chính điện, nhưng tuyệt nhiên chưa cắn ai bao giờ.
Những chuyện kỳ lạ chúng tôi lượm lặt về cây xung quanh khu tông miếu Lam Kinh, để thấy, không phải người dân muốn tô vẽ chuyện hoang đường, mà như sự kính ngưỡng với người xưa và chốn thâm nghiêm mà gần gũi của một vương triều hiển hách trong lịch sử nước Nam.
Du lịch, GO! - Theo Gia Linh/VTC News
Khám phá rừng Lam Kinh
Khu di tích lịch sử Lam Kinh
Ngoài các đền, điện, miếu..., dấu tích của một thời đời các vua Lê thì tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh này có những cây ổi quái dị (bởi hễ cứ gãi vào là “cười”) và đặc biệt này còn nhiều loại cây kỳ lạ khác.
Cây đa và thị cổ chung một gốc
Cô hướng dẫn viên du lịch Lê Thị Lan thướt tha tà áo dài, tự hào giới thiệu mãi với du khách về một cây cổ thụ có tên nôm na là cây Đa Thị, nằm ngay phía Tây Nam sân rồng của di tích Lam Kinh.
Cây đa này cao chừng 50m, cành gốc xum xuê, phủ bóng rợp một góc sân. Cứ theo lời Lan, cây Đa Thị đặc biệt ở chỗ gốc đa ôm lấy gốc thị. Tuy là hai cây cho hai loại quả nhưng chỉ có chung một gốc, cùng bạc phếch màu như đã lẫn thân vào thành một khối.
< Cô hướng dẫn viên du lịch tên Lan giới thiệu về cây đa và cây thị chung gốc.
Những năm trước đây, cây thị vẫn cho nhiều quả, tuy nhỏ và có vị chát nhưng rất thơm. Căn cứ theo những biến cố thăng trầm của Lam Kinh, cây đa được ước tính chừng 300 tuổi.
Cây thị được cho là có trước, già hơn cây đa, đã chết năm 2007, chỉ còn lại thân gỗ khô. Người xưa cho rằng, chim chóc thường về đậu trên cây thị, có mang theo quả đa về ăn nên rơi hạt mà mọc lên cây đa. Đa lớn nhanh, ôm lấy gốc thị.
Theo lời những người gắn bó lâu năm với khu di tích, chuyện hai thân cây ôm lấy nhau rồi hóa thành một không hiếm ở Lam Kinh. Ở vùng đất cổ kính này, còn có nhiều gốc cây là đa, si ôm chặt lấy một thân cây cổ thụ nào đó trong các khu rừng cổ, tương tự như cây Đa Thị nổi tiếng kia.
Lam Kinh có “cây ổi cười”
< "Cù" vào cành, thì chỉ lá ở cành đó "cười".
Cây ổi cười nằm khiêm tốn ở góc phải khuôn viên Vĩnh Lăng, phía sau hàng quan hầu và linh thú hiền từ đang chầu trước mộ vua. Lê Thái Tổ. Cây ổi này trông không khác gì một cây ổi bình thường, cành khẳng khiu, có vẻ rất già cỗi và nằm một góc lặng lẽ trong khu lăng mộ. Điều đặc biệt là chỉ cần bạn dùng móng tay cào nhẹ vào bất cứ điểm nào trên thân cây từ gốc đến ngọn là lập tức toàn bộ cành lá của nó rung lên như đang cười.
Trạng thái “cười” của cây ổi này không phải do có gió thổi hay bị tác động như rung, lắc. Chính vì vậy mà người ta liên tưởng rằng cây ổi đang cười và chỉ cười khi bị “thọc lét”.
< Chưa ai giải thích được vì sao cây "ổi Tàu" này lại biết "cười".
Vào các buổi sáng yên tĩnh, lặng gió thì rất dễ dàng thấy cây cười rung rinh, cười như nắc nẻ khi có người chạm vào. Dường như cây cũng có linh cảm như con người, bị chạm vào “da thịt” chỗ nhạy cảm thì có phản ứng. Trước đây, có một nhà thơ người Phú Thọ đến viếng lăng, bảo rằng, đây là giống ổi Tàu, do thân nhỏ cành nhỏ nên dễ rung rinh. Nhưng giải thích làm sao đây khi cây ổi Ta bên trái kia cũng biết cười?
Kỳ lạ là nếu đem cành chiết của các cây đó trồng ra ngoài khuôn viên khu mộ thì không có hiện tượng đó. Nghe nói, đã có nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu để tìm nguyên nhân gây ra hiện tượng này.
Sét sợ cây sui
Cây cổ thụ được cho là cổ kính nhất, đặc biệt nhất và cao lớn nhất ở Lam Kinh chính là một cây sui ở trung tâm di tích, ngay phía sau tòa Thái miếu.
< Cây sui khổng lồ trong Khu Di tích Lam Kinh.
Người xưa, nhất là đồng bào vùng cao coi trọng cây sui vì vỏ cây bóc ra làm chăn giữ ấm mùa đông (“Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”– Tố Hữu).
Theo ông Trịnh Đình Dương, trong cuốn Đại Việt sử kí toàn thư có chép nhiều chuyện sét đánh ở Lam Kinh, cháy nhà, cháy cây. Chuyện sét đánh khá bình thường đối với những vùng đất được coi là hội tụ linh khí như vẫn gặp ở đàn Tế giao của vương triều nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) hay chính ngôi thành thành đá kỳ vĩ.
Ông Dương cho biết thêm: “Hiện nay sét vẫn thường đánh ầm ầm ở Khu Di tích Lam Kinh, nhiều khi làm hỏng cả thiết bị máy móc của Ban Quản lý. Có những chiếc máy tính mới mua, được vài hôm sét đã làm cháy khét lẹt, vác đi sửa không ăn thua, phải bỏ.
Cứ nghe tiếng “đùng, đoàng” khủng khiếp là y như rằng có những cây cối xanh tươi trong Khu Di tích bị đánh chết cháy giữa ngày không mưa.
< Dù cây sui rất cao lớn, nhưng hàng trăm năm nay sét chỉ đánh vào những cây nhỏ xung quanh.
Mỗi năm kiểu gì cũng có dăm ba cây bị sét đánh chết khô.
Nhưng cây sui cao lớn nhất vùng, dễ phải hơn 60m, tuổi đời có lẽ chừng 600- 700 tuổi, lại không hề bị sét đánh bao giờ, dù ở đây mỗi năm có vài ba cây xung quanh nó, dù thấp hơn nhiều, vẫn bị sét đánh chết”.
Mọi người dự đoán, cây sui như một cột thu lôi hút linh khí vần vũ giao hòa của trời đất truyền vào lòng đất được người xưa lựa chọn đặc biệt kỳ công về phong thủy này chăng?
Lại có ý kiến cho rằng: Cây sui được trồng để đánh dấu một vị trí đặc biệt quan trọng của khu tông miếu nhà Hậu Lê, rất có thể là ngôi mộ thực an táng Bình Định Vương Lê Lợi.
Cây lim 600 năm tuổi “tự thoát xác”
< Gốc cây lim vừa khít với tiết diện tảng kê chân cột này.
Nhưng sự ngạc nhiên gần đây nhất thuộc về một cây vừa được lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa quyết định hạ trong dịp giỗ Lê Lợi tháng 8 âm lịch vừa qua.
Đó là cây lim cổ thụ, khoảng 600 tuổi, cao nhất nhì rừng Lam Kinh, được người dân địa phương gọi là cây Lim Cò, do trước đây cò thường về đậu trắng trên ngọn cây.
Cô hướng dẫn viên du lịch Lê Thị Lan hồ hởi giới thiệu: “Trong ngày 21 và 22- 8 âm lịch vừa qua, nhân dịp giỗ Bình Định Vương Lê Lợi, tỉnh Thanh Hóa đã làm lễ “phạt mộc”, hạ một cây lim khoảng 600 năm tuổi để khởi công phỏng dựng Chính điện.
Điều kỳ lạ hay trùng hợp thì chưa rõ, nhưng cây lim cổ thụ vốn đang sống tươi tốt trong khuôn viên di tích, gần đây bỗng trút lá một lần, rồi khô đi mà chết, như một sự tự nguyện hiến thân cho công việc này”.
Mấy năm trước, thân cây còn tráng kiện, lá cây xanh mướt mát, tưởng như bất tử, nhưng từ mùa xuân năm ngoái, bỗng ào ào rụng lá đến khi không còn một chiếc nào. Cây khô lá, khô cành chừng dăm bảy tháng sau thì chết.
Ông Trịnh Đình Dương cho biết thêm: “Điều trùng hợp là thời điểm cây Lim Cò trút lá trùng với thời điểm dự án phục hồi phỏng dựng Chính điện Lam Kinh được phê duyệt, và khi cây chết là lúc thiết kế thi công vừa hoàn thành.
Ngoài ra còn có hai điều trùng hợp nữa.
< Tam quan Chính điện Lam Kinh được phục dựng theo nguyên mẫu với những cây lim cổ thụ.
Thứ nhất, thường thì các cây lim cổ thụ thường bị tiêu tâm (rỗng ruột), nhưng riêng cây lim này thì không, rất thuận lợi để làm trụ cột các tòa nhà lớn như công trình phỏng dựng Chính điện với quy mô 9 tòa nhà gỗ lim đồ sộ nhất Việt Nam.
Thứ hai, sau khi làm lễ “phạt mộc”, rồi tiến hành gọt bỏ phần vỏ cây, pha được 4 khúc gỗ lớn thì riêng phần thân cây đủ làm một cột cái, một cột quân, hai nhánh cây đủ làm một cột con và một thượng lương.
Đường kính phần gốc cây lim gần như trùng khớp với gương tảng cột cái (xấp xỉ 0,8m), phần ngọn khoảng 0,65 cm, vừa với gương tảng cột quân”.
Tất nhiên, việc phỏng dựng Chính điện cần rất nhiều gỗ lim, phải nhập ngoại, chứ không phải chỉ rừng lim xanh cổ thụ ở Lam Kinh có thể cung cấp đủ.
Nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên này khiến người dân địa phương vốn đã thấy rất nhiều chuyện lạ trong khu vực linh thiêng này cho rằng, dường như cây Lim Cò từ 600 năm trước được sinh ra là để phục vụ cho việc phỏng dựng Chính điện này.
Trên tấm bia Vĩnh Lăng đẹp nhất nhì Việt Nam được làm bằng đá trầm tích nguyên khối còn đặt tại Lam Kinh do quan Vinh Lộc đại phu Nhập nội hành khiển Tri tam quản sự Nguyễn Trãi phụng soạn, có đoạn chép về cụ tổ Lê Hối của Thái tổ Lê Lợi:
“… Một ngày kia đi chơi Lam Sơn, thấy có đàn chim bay lượn ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho rằng chỗ này là đất tốt liền dời nhà đến đây, được ba năm thành sản nghiệp, con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều, việc dựng nước mở đất thực gây nền từ đấy”.
Lam Kinh hiện nay có 97ha rừng trên tổng diện tích 200ha, với rất nhiều rừng cổ, cây cổ thụ, chim chóc, rắn, thú, mỗi năm đón hàng trăm ngàn du khách về khói nhang, vãn cảnh.
Rắn hiện ở Lam Kinh có rất nhiều, đủ loại lớn nhỏ khác nhau. Những ngày đẹp trời, rắn thường bò ra thảnh thơi phơi nắng khắp sân Chính điện, nhưng tuyệt nhiên chưa cắn ai bao giờ.
Những chuyện kỳ lạ chúng tôi lượm lặt về cây xung quanh khu tông miếu Lam Kinh, để thấy, không phải người dân muốn tô vẽ chuyện hoang đường, mà như sự kính ngưỡng với người xưa và chốn thâm nghiêm mà gần gũi của một vương triều hiển hách trong lịch sử nước Nam.
Du lịch, GO! - Theo Gia Linh/VTC News
Khám phá rừng Lam Kinh
Khu di tích lịch sử Lam Kinh
Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011
Khám phá Xuân Thủy
Con đường nhỏ uốn mình trên đê cuốn theo vị mặn của gió biển như người dẫn đường đưa chúng tôi đến với vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định). Bất chợt vang lên những tiếng đập cánh, một đàn cò bợ lao về phía rặng sú gần đó khi tiếng động cơ xe máy của chúng tôi phá vỡ không gian yên tĩnh của làng quê...
Tấm biển "Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng" hiện ra trước mắt chúng tôi. Chiều muộn, từng đàn chim lạ chúng tôi chưa nhìn thấy bao giờ cùng những bầy cò, vịt trời... bay về tổ trên những rặng sú, khóm trang... tạo nên một bức tranh sinh động phản chiếu trên mặt nước yên bình. Hàng ngàn tiếng kêu của các loài chim tạo thành một sóng âm lớn khiến Xuân Thủy như sân khấu của một khúc hòa tấu lạ thường.
Chỉ kịp rút chìa khóa khỏi xe máy, chúng tôi bước thật nhanh về hướng có nhiều chim nhất. Anh Tuấn, một người bạn đam mê nhiếp ảnh và động vật hoang dã đi cùng đoàn, chợt ra hiệu rồi đưa tay chỉ về những rặng sú nhỏ sát chúng tôi. Một đàn cò lạo Ấn Độ (loài cò lớn gấp năm lần cò bợ VN) đang "tâm sự" gần đó.

< Trên triền cát bãi Cồn Lu là một rừng gỗ lũa tuyệt đẹp.
Rón rén cúi thấp người sau những bụi cây, chúng tôi bấm liên tục những tấm ảnh về loài cò ít người từng thấy.
Tiếp tục đi sâu vào khu vực Cồn Lu, chúng tôi phải xắn ống quần cao hơn một chút khi lội xuống bùn. Dưới mặt bùn chi chít những "ngôi nhà" của loài cáy - các hang tròn nhỏ bằng đầu ngón chân; chúng vác chiếc càng to quá khổ so với thân hình chạy rất nhanh vào hang.
Men theo những triền đê chắn sóng, chúng tôi bắt gặp vài chiếc thuyền nan nhỏ của ngư dân bỏ lại. Trong khung cảnh hoang dã, những chiếc thuyền phủ kín những con hà nhỏ bé với vỏ sắc khiến chúng tôi có cảm giác như đang đi khảo cổ. Cứ thế chúng tôi đi mãi cho tới khi gió biển se lạnh thổi vào đất liền mới quay lại điểm xuất phát khi trời sụp tối, lúc này trên những rặng sú chỉ nghe được tiếng kêu của các loài chim.

< Rừng ngập mặn tại vườn quốc gia Xuân Thủy.
Đi quãng đường gần 150km bằng xe máy từ Hà Nội rồi lại lăn lê bò toài chụp ảnh khiến chúng tôi thấm mệt. Anh Dũng, cán bộ vườn quốc gia, cho biết: "Những đoàn khách nước ngoài cũng lăn lê như các anh, họ đi suốt mấy ngày và sung sướng khi quan sát động thực vật nơi đây. Nhưng cũng không bằng mấy tay "phượt". Có khi họ trở về tôi không nhận ra nữa: quần áo, mặt mũi bê bết bùn đất, giày dép chiếc mất chiếc còn...".
Sau giấc ngủ tại vườn quốc gia, bản hòa tấu ríu rít của bao loài chim báo thức chúng tôi dậy sớm. Nhờ anh Dũng liên hệ với một bác ngư dân, chúng tôi lên chiếc thuyền nhỏ đi sâu vào khu vực rừng ngập mặn. Bác ngư dân cho biết một số ít hộ dân sống trong khu vực vườn quốc gia mưu sinh bằng nghề cào nghêu, câu mực và nuôi hà. Bác chỉ những đám hà to bằng nắm tay nằm lăn lóc trên bãi bùn: "Chúng tôi gom hà lại rồi vứt ở đây, một năm sau là thu hoạch được".

< Cò mỏ thìa ở Xuân Thủy.
Trong khi chiếc thuyền chèo tay chậm rãi trôi dọc sông Vọp, bác ngư dân giải thích đặc điểm của từng loài chim cũng như điều kiện sống của động thực vật ở đây. Mái chèo khuấy nước lộ ra những đàn cá gần bằng bàn tay. Bác ngư dân nói: "Cá, chim nhiều như vậy nhưng chúng tôi không đụng đến một cọng lông hay cái vảy của chúng".
Con thuyền đưa chúng tôi ra tới cửa Ba Lạt, thăm hải đăng Tiền Hải, đài quan sát cồn Ngạn và cồn Xanh, một đảo cát pha mới bồi đắp.
Bạn có thể đi theo tour du lịch đến đây, ngồi xuồng máy thăm thú vùng cửa sông ngập mặn, xem các loại chim trời, tham quan đời sống sinh hoạt của ngư dân trên bến cá Giao Hải, thăm làng dệt lưới, làm nước mắm và chợ quê... nhưng thú vị hơn vẫn là tự khám phá một vùng thiên nhiên hoang dã với một người dân bản địa dẫn đường.

< Con thuyền bị hà bao phủ trông như thuyền cổ.
Vườn quốc gia Xuân Thủy là khu rừng ngập mặn thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Đây là rừng ngập mặn đầu tiên ở VN được quốc tế công nhận theo công ước Ramsar và là rừng ngập mặn thứ 50 của thế giới.
Vườn nằm ở phía đông nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay cửa Ba Lạt của sông Hồng. Diện tích toàn bộ vườn khoảng 7.100ha, gồm 3.100ha diện tích đất nổi có rừng và 4.000ha đất rừng ngập mặn.
Hằng năm có tới khoảng 100 loài chim di cư chọn nơi đây là điểm lưu trú trên đường di cư về phương Nam trú đông, trong đó tới 1/5 số lượng cò mỏ thìa của toàn thế giới.
Tại vườn ước tính có 215 loài chim nước sinh sống, nhiều loài gần như tuyệt chủng có tên trong sách đỏ thế giới như: rẽ mỏ thìa, bồ nông, cò thìa, choi choi mỏ thìa, mòng biển, diệc đầu đỏ... Dưới làn nước thủy triều có khoảng 165 loài động vật nổi và 154 loài động vật đáy, tổng cộng khoảng 500 loài động vật. Vườn hiện có 120 loài thực vật bậc cao, trong đó nhiều loài rong tảo có giá trị kinh tế cao.
Du lịch, GO! - Theo TTCN
Tấm biển "Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng" hiện ra trước mắt chúng tôi. Chiều muộn, từng đàn chim lạ chúng tôi chưa nhìn thấy bao giờ cùng những bầy cò, vịt trời... bay về tổ trên những rặng sú, khóm trang... tạo nên một bức tranh sinh động phản chiếu trên mặt nước yên bình. Hàng ngàn tiếng kêu của các loài chim tạo thành một sóng âm lớn khiến Xuân Thủy như sân khấu của một khúc hòa tấu lạ thường.
Chỉ kịp rút chìa khóa khỏi xe máy, chúng tôi bước thật nhanh về hướng có nhiều chim nhất. Anh Tuấn, một người bạn đam mê nhiếp ảnh và động vật hoang dã đi cùng đoàn, chợt ra hiệu rồi đưa tay chỉ về những rặng sú nhỏ sát chúng tôi. Một đàn cò lạo Ấn Độ (loài cò lớn gấp năm lần cò bợ VN) đang "tâm sự" gần đó.

< Trên triền cát bãi Cồn Lu là một rừng gỗ lũa tuyệt đẹp.
Rón rén cúi thấp người sau những bụi cây, chúng tôi bấm liên tục những tấm ảnh về loài cò ít người từng thấy.
Tiếp tục đi sâu vào khu vực Cồn Lu, chúng tôi phải xắn ống quần cao hơn một chút khi lội xuống bùn. Dưới mặt bùn chi chít những "ngôi nhà" của loài cáy - các hang tròn nhỏ bằng đầu ngón chân; chúng vác chiếc càng to quá khổ so với thân hình chạy rất nhanh vào hang.
Men theo những triền đê chắn sóng, chúng tôi bắt gặp vài chiếc thuyền nan nhỏ của ngư dân bỏ lại. Trong khung cảnh hoang dã, những chiếc thuyền phủ kín những con hà nhỏ bé với vỏ sắc khiến chúng tôi có cảm giác như đang đi khảo cổ. Cứ thế chúng tôi đi mãi cho tới khi gió biển se lạnh thổi vào đất liền mới quay lại điểm xuất phát khi trời sụp tối, lúc này trên những rặng sú chỉ nghe được tiếng kêu của các loài chim.

< Rừng ngập mặn tại vườn quốc gia Xuân Thủy.
Đi quãng đường gần 150km bằng xe máy từ Hà Nội rồi lại lăn lê bò toài chụp ảnh khiến chúng tôi thấm mệt. Anh Dũng, cán bộ vườn quốc gia, cho biết: "Những đoàn khách nước ngoài cũng lăn lê như các anh, họ đi suốt mấy ngày và sung sướng khi quan sát động thực vật nơi đây. Nhưng cũng không bằng mấy tay "phượt". Có khi họ trở về tôi không nhận ra nữa: quần áo, mặt mũi bê bết bùn đất, giày dép chiếc mất chiếc còn...".
Sau giấc ngủ tại vườn quốc gia, bản hòa tấu ríu rít của bao loài chim báo thức chúng tôi dậy sớm. Nhờ anh Dũng liên hệ với một bác ngư dân, chúng tôi lên chiếc thuyền nhỏ đi sâu vào khu vực rừng ngập mặn. Bác ngư dân cho biết một số ít hộ dân sống trong khu vực vườn quốc gia mưu sinh bằng nghề cào nghêu, câu mực và nuôi hà. Bác chỉ những đám hà to bằng nắm tay nằm lăn lóc trên bãi bùn: "Chúng tôi gom hà lại rồi vứt ở đây, một năm sau là thu hoạch được".

< Cò mỏ thìa ở Xuân Thủy.
Trong khi chiếc thuyền chèo tay chậm rãi trôi dọc sông Vọp, bác ngư dân giải thích đặc điểm của từng loài chim cũng như điều kiện sống của động thực vật ở đây. Mái chèo khuấy nước lộ ra những đàn cá gần bằng bàn tay. Bác ngư dân nói: "Cá, chim nhiều như vậy nhưng chúng tôi không đụng đến một cọng lông hay cái vảy của chúng".
Con thuyền đưa chúng tôi ra tới cửa Ba Lạt, thăm hải đăng Tiền Hải, đài quan sát cồn Ngạn và cồn Xanh, một đảo cát pha mới bồi đắp.
Bạn có thể đi theo tour du lịch đến đây, ngồi xuồng máy thăm thú vùng cửa sông ngập mặn, xem các loại chim trời, tham quan đời sống sinh hoạt của ngư dân trên bến cá Giao Hải, thăm làng dệt lưới, làm nước mắm và chợ quê... nhưng thú vị hơn vẫn là tự khám phá một vùng thiên nhiên hoang dã với một người dân bản địa dẫn đường.

< Con thuyền bị hà bao phủ trông như thuyền cổ.
Vườn quốc gia Xuân Thủy là khu rừng ngập mặn thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Đây là rừng ngập mặn đầu tiên ở VN được quốc tế công nhận theo công ước Ramsar và là rừng ngập mặn thứ 50 của thế giới.
Vườn nằm ở phía đông nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay cửa Ba Lạt của sông Hồng. Diện tích toàn bộ vườn khoảng 7.100ha, gồm 3.100ha diện tích đất nổi có rừng và 4.000ha đất rừng ngập mặn.
Hằng năm có tới khoảng 100 loài chim di cư chọn nơi đây là điểm lưu trú trên đường di cư về phương Nam trú đông, trong đó tới 1/5 số lượng cò mỏ thìa của toàn thế giới.
Tại vườn ước tính có 215 loài chim nước sinh sống, nhiều loài gần như tuyệt chủng có tên trong sách đỏ thế giới như: rẽ mỏ thìa, bồ nông, cò thìa, choi choi mỏ thìa, mòng biển, diệc đầu đỏ... Dưới làn nước thủy triều có khoảng 165 loài động vật nổi và 154 loài động vật đáy, tổng cộng khoảng 500 loài động vật. Vườn hiện có 120 loài thực vật bậc cao, trong đó nhiều loài rong tảo có giá trị kinh tế cao.
Du lịch, GO! - Theo TTCN
Thứ Ba, 13 tháng 12, 2011
Khám phá rừng Lam Kinh
Qua hàng trăm năm phát triển, do ý thức bảo vệ và bàn tay chăm sóc của con người, rừng Lam Kinh đã trở thành tài sản vô giá nơi núi rừng Lam Sơn. Hàng trăm cây cổ thụ đang trường tồn cùng quần thể lăng tẩm của các vị vua triều hậu Lê trở thành địa chỉ tham quan thú vị cả về tâm linh lẫn phong cảnh.
Từ phía đường Hồ Chí Minh, lữ khách có thể thấy rừng Lam Kinh hiện lên với màu xanh căng tràn sức sống. Cùng với những ngọn đồi lượn sóng, khu rừng Lam Kinh đã tạo cho vùng đất cổ Xuân Lam (Thọ Xuân) và Kiên Thọ (Ngọc Lặc) một cảnh đẹp hiếm thấy.
Dòng sông Chu hiền hòa, lượn quanh và ôm trọn phía tây bắc khu rừng càng tăng thêm vẻ hữu tình của sông núi nơi đây. Tuy không nằm ở những nơi thâm sơn cùng cốc như nhiều khu rừng khác, nhưng “lá phổi xanh” rộng 97 ha này gần như vẫn còn nguyên trạng. Gỗ trong rừng, đa phần là lim xanh và nhiều cây gỗ rất quý như sui, dổi, sến, táu, vàng tâm...
Ven dòng sông Ngọc uốn quanh khu lăng tẩm, những cây gỗ khổng lồ thân phủ đầy rêu phong đã tạo ấn tượng đầu tiên cho du khách. Những tán cây cổ thụ ấy vẫn rủ bóng mát quanh năm cho cây cầu đá hàng trăm năm qua.
Cây cầu với kiến trúc độc đáo theo kiểu “thượng thu hạ thách” bắc qua sông Ngọc là lối chính đi vào Khu Di tích Lam Kinh. Bất kể mùa đông hay hè, khi bước trên cây cầu cong hình yên ngựa này, du khách đều cảm thấy thư thái vì được che chở trong bóng mát của rừng già.
Chỉ tay về phía rừng lim đang tỏa bóng mát sau các tòa thái miếu, cô hướng dẫn viên trẻ Lê Thị Loan tự hào cho biết: “Rừng Lam Kinh giờ đã xứng là nơi có những cây lim cổ thụ bậc nhất của Thanh Hóa”. Những tán rừng già nơi đây còn là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, thú.
Theo con đường mòn đi sâu vào lõi rừng Lam Kinh, hai bên um tùm cây cối như trêu gan những kẻ lữ hành, trong tiếng kêu ríu rít gọi bầy của những loài chim đã gợi cho tôi sự thú vị khi cảm nhận được sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên ngay giữa chốn linh thiêng. Một phút lắng lòng giữa thiên nhiên bao la mà gần gũi, ai đến đây cũng có cảm giác bình yên, thoáng quên đi sự xô bồ của cuộc sống thường nhật.
Sự kỳ thú của rừng Lam Kinh càng được khơi gợi khi chúng tôi được nghe kể những câu chuyện từ những người trong cuộc. Cao nhất khu rừng hiện nay là cây gỗ sui màu trắng, nhẵn bóng với chiều cao khoảng 50m. Các cán bộ của Khu Di tích Lam Kinh, cho biết: cây cổ thụ này có từ thời cụ Lê Hối (cụ tổ 3 đời của Bình định vương Lê Lợi).
Theo quy luật tự nhiên, cây cao nhất thường bị sét đánh. Những tài liệu cổ và thực tế nhiều năm gần đây cũng cho thấy, rừng Lam Kinh và cả khu di tích rất nhiều lần bị sét đánh nhưng cây sui này vẫn là ngoại lệ. Câu chuyện cây lim cổ thụ trút lá và chết như là một sự hiến thân cho việc phục dựng khu di tích càng khơi gợi trí tò mò của du khách.
Theo phân tích đường vân và chất gỗ, cây lim cổ thụ này có tuổi thọ hơn 600 năm và là một trong những cây cao nhất của rừng Lam Kinh.
Vào cuối tháng 2 âm lịch năm 2010, đúng lúc có quyết định phục dựng và trùng tu Khu Di tích Lam Kinh thì cây lim trút lá. Sau nhiều lần tưới và chăm sóc, cây vẫn không ra lộc. Vào cuối tháng 7 âm lịch cùng năm, cây lim chết hẳn.
< Cây đa Lam Kinh huyền thoại.
Đáng nói là, lúc này người ta đang loay hoay chưa biết tìm đâu ra một cây cổ thụ để làm cột chính tòa chính điện. Sau nhiều lần làm đơn kiến nghị, các cơ quan chức năng đã đồng ý cho hạ cây lim vừa chết làm cột phục dựng tòa chính điện Lam Kinh vào 21 và 22 - 8 âm lịch năm 2010.
Ai cũng biết cây lim chết do quá già, nhưng một sự trùng hợp đến kinh ngạc lại được chứng minh. Chiều cao của thân lim đúng bằng với thiết kế cây cột chính điện. Đường kính phần gốc của cây lim gần 1m, lại trùng khít với chân tảng cũ bằng đá. Đường kính phần ngọn cây lim hơn 60 cm cũng vừa bằng chân tảng con của chính điện.
Ngay trước mộ của vua Lê Lợi, từ lâu đã xuất hiện hai cây “ổi cười” thu hút sự tò mò của rất nhiều người. Như một phản xạ tự nhiên gần giống cây trinh nữ (cây xấu hổ), mỗi lần gãi hoặc sờ nhẹ vào thân là toàn cây ổi rung lên bần bật.
Điều đáng nói, chỉ cách đó vài mét, những cành ổi được chiết ra trồng ngoài khu lăng mộ lại không có hiện tượng trên.
< Chỉ cần cào thật khẽ vào thân thì toàn bộ cành lá của cây ổi rung lên như đang cười nắc nẻ.
Nói thêm về hiện tượng “ổi cười” này, ông Trịnh Đình Dương, Trưởng ban Quản lý Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, cho biết: “Tôi đã chứng kiến hiện tượng trên 20 năm nay. Hiện vẫn chưa có công trình khoa học nào kết luận vì sao nhưng theo tôi có lẽ do “gien” đột biến”. Rồi câu chuyện về cây đa thị và quá trình cây đa “bóp cổ” cây thị, hai cây long não cổ thụ, những cây đa, cây si trên bờ thành... đều thu hút sự tò mò của du khách.
Từ năm 1962, Khu Di tích lịch sử Lam Kinh được xếp hạng quốc gia, kể từ đó, ngành lâm nghiệp giao khu rừng cho ngành văn hóa quản lý. Qua hàng chục năm, những “kiểm lâm” ngành văn hóa vẫn làm tốt công tác bảo vệ khu rừng. Những năm qua, nhiều cây lim xanh đã được nhân giống trồng xen để tăng độ che phủ và đa dạng sinh học của khu rừng.
Du lịch, GO! - Theo Lê Đồng (Thanh Hóa Online)
Từ phía đường Hồ Chí Minh, lữ khách có thể thấy rừng Lam Kinh hiện lên với màu xanh căng tràn sức sống. Cùng với những ngọn đồi lượn sóng, khu rừng Lam Kinh đã tạo cho vùng đất cổ Xuân Lam (Thọ Xuân) và Kiên Thọ (Ngọc Lặc) một cảnh đẹp hiếm thấy.
Dòng sông Chu hiền hòa, lượn quanh và ôm trọn phía tây bắc khu rừng càng tăng thêm vẻ hữu tình của sông núi nơi đây. Tuy không nằm ở những nơi thâm sơn cùng cốc như nhiều khu rừng khác, nhưng “lá phổi xanh” rộng 97 ha này gần như vẫn còn nguyên trạng. Gỗ trong rừng, đa phần là lim xanh và nhiều cây gỗ rất quý như sui, dổi, sến, táu, vàng tâm...
Ven dòng sông Ngọc uốn quanh khu lăng tẩm, những cây gỗ khổng lồ thân phủ đầy rêu phong đã tạo ấn tượng đầu tiên cho du khách. Những tán cây cổ thụ ấy vẫn rủ bóng mát quanh năm cho cây cầu đá hàng trăm năm qua.
Cây cầu với kiến trúc độc đáo theo kiểu “thượng thu hạ thách” bắc qua sông Ngọc là lối chính đi vào Khu Di tích Lam Kinh. Bất kể mùa đông hay hè, khi bước trên cây cầu cong hình yên ngựa này, du khách đều cảm thấy thư thái vì được che chở trong bóng mát của rừng già.
Chỉ tay về phía rừng lim đang tỏa bóng mát sau các tòa thái miếu, cô hướng dẫn viên trẻ Lê Thị Loan tự hào cho biết: “Rừng Lam Kinh giờ đã xứng là nơi có những cây lim cổ thụ bậc nhất của Thanh Hóa”. Những tán rừng già nơi đây còn là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, thú.
Theo con đường mòn đi sâu vào lõi rừng Lam Kinh, hai bên um tùm cây cối như trêu gan những kẻ lữ hành, trong tiếng kêu ríu rít gọi bầy của những loài chim đã gợi cho tôi sự thú vị khi cảm nhận được sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên ngay giữa chốn linh thiêng. Một phút lắng lòng giữa thiên nhiên bao la mà gần gũi, ai đến đây cũng có cảm giác bình yên, thoáng quên đi sự xô bồ của cuộc sống thường nhật.
Sự kỳ thú của rừng Lam Kinh càng được khơi gợi khi chúng tôi được nghe kể những câu chuyện từ những người trong cuộc. Cao nhất khu rừng hiện nay là cây gỗ sui màu trắng, nhẵn bóng với chiều cao khoảng 50m. Các cán bộ của Khu Di tích Lam Kinh, cho biết: cây cổ thụ này có từ thời cụ Lê Hối (cụ tổ 3 đời của Bình định vương Lê Lợi).
Theo quy luật tự nhiên, cây cao nhất thường bị sét đánh. Những tài liệu cổ và thực tế nhiều năm gần đây cũng cho thấy, rừng Lam Kinh và cả khu di tích rất nhiều lần bị sét đánh nhưng cây sui này vẫn là ngoại lệ. Câu chuyện cây lim cổ thụ trút lá và chết như là một sự hiến thân cho việc phục dựng khu di tích càng khơi gợi trí tò mò của du khách.
Theo phân tích đường vân và chất gỗ, cây lim cổ thụ này có tuổi thọ hơn 600 năm và là một trong những cây cao nhất của rừng Lam Kinh.
Vào cuối tháng 2 âm lịch năm 2010, đúng lúc có quyết định phục dựng và trùng tu Khu Di tích Lam Kinh thì cây lim trút lá. Sau nhiều lần tưới và chăm sóc, cây vẫn không ra lộc. Vào cuối tháng 7 âm lịch cùng năm, cây lim chết hẳn.
< Cây đa Lam Kinh huyền thoại.
Đáng nói là, lúc này người ta đang loay hoay chưa biết tìm đâu ra một cây cổ thụ để làm cột chính tòa chính điện. Sau nhiều lần làm đơn kiến nghị, các cơ quan chức năng đã đồng ý cho hạ cây lim vừa chết làm cột phục dựng tòa chính điện Lam Kinh vào 21 và 22 - 8 âm lịch năm 2010.
Ai cũng biết cây lim chết do quá già, nhưng một sự trùng hợp đến kinh ngạc lại được chứng minh. Chiều cao của thân lim đúng bằng với thiết kế cây cột chính điện. Đường kính phần gốc của cây lim gần 1m, lại trùng khít với chân tảng cũ bằng đá. Đường kính phần ngọn cây lim hơn 60 cm cũng vừa bằng chân tảng con của chính điện.
Ngay trước mộ của vua Lê Lợi, từ lâu đã xuất hiện hai cây “ổi cười” thu hút sự tò mò của rất nhiều người. Như một phản xạ tự nhiên gần giống cây trinh nữ (cây xấu hổ), mỗi lần gãi hoặc sờ nhẹ vào thân là toàn cây ổi rung lên bần bật.
Điều đáng nói, chỉ cách đó vài mét, những cành ổi được chiết ra trồng ngoài khu lăng mộ lại không có hiện tượng trên.
< Chỉ cần cào thật khẽ vào thân thì toàn bộ cành lá của cây ổi rung lên như đang cười nắc nẻ.
Nói thêm về hiện tượng “ổi cười” này, ông Trịnh Đình Dương, Trưởng ban Quản lý Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, cho biết: “Tôi đã chứng kiến hiện tượng trên 20 năm nay. Hiện vẫn chưa có công trình khoa học nào kết luận vì sao nhưng theo tôi có lẽ do “gien” đột biến”. Rồi câu chuyện về cây đa thị và quá trình cây đa “bóp cổ” cây thị, hai cây long não cổ thụ, những cây đa, cây si trên bờ thành... đều thu hút sự tò mò của du khách.
Từ năm 1962, Khu Di tích lịch sử Lam Kinh được xếp hạng quốc gia, kể từ đó, ngành lâm nghiệp giao khu rừng cho ngành văn hóa quản lý. Qua hàng chục năm, những “kiểm lâm” ngành văn hóa vẫn làm tốt công tác bảo vệ khu rừng. Những năm qua, nhiều cây lim xanh đã được nhân giống trồng xen để tăng độ che phủ và đa dạng sinh học của khu rừng.
Du lịch, GO! - Theo Lê Đồng (Thanh Hóa Online)
Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011
Đắm say trước vẻ đẹp của san hô biển Đông
Với sự phong phú về chủng loại, màu sắc, hình dáng, những rạn san hô được ví như những cánh rừng muôn màu, có sức quyến rũ mê hồn của lòng đại dương…
< Ở vùng biển của Việt Nam, san hô trúc (Isis hippuris) chỉ hiện diện tại quần đảo Trường Sa. Loài san hô quý hiếm này có hình thù khá kỳ ảo với màu vàng hoặc đỏ tươi.
Biển Đông của Việt Nam là một miền đất hứa của những cánh rừng muôn màu ấy. Theo các nhà khoa học, với số lượng khoảng 400 loài san hô khác nhau, hệ san hô của biển Việt Nam hoàn toàn có thể sánh với những vùng san hô đa dạng nhất của thế giới.
< San hô lỗ đỉnh xù xì (Acropora aspera) cũng có hình thù khá lạ mắt, phân bố ở các vùng biển Hạ Long, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, đảo Lý Sơn, vịnh Nha Trang, quần đảo Trường Sa và vùng biển phía Nam.
Tuy vậy, tình trạng khai thác san hô bừa bãi để làm nguyên liệu chế tác đồ mỹ nghệ, phục vụ thị trường sinh vật cảnh, thậm chí là để sản xuất xi măng đã khiến nguồn tài nguyên này của Việt Nam ngày càng suy kiệt, sự tồn tại của nhiều rạn san hô đứng trước thách thức sống còn.
< Cùng họ và cùng địa điểm phân bố với san hô lỗ đỉnh xù xì, nhưng san hô lỗ đỉnh au-te (Acropora austera) có màu sắc tươi tắn hơn.
< Sắc tím dịu dàng rất thích hợp với vẻ mềm mại của san hô lỗ đỉnh hạt (Acropora cerealis). Loài này có mặt ở vùng biển đảo Hạ Mai (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ, các đảo ven bờ của các tỉnh từ Quảng Trị đến Bà Rịa-Vũng Tàu, các đảo Tây Nam Bộ và quần đảo Trường Sa.
< San hô lỗ đỉnh hoa (Acropora florida) phân bố rộng trên các rạn san hô từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
< San hô lỗ đỉnh đài loan (Acropora formosa) cũng có vùng phân bố khá rộng, từ các vùng biển miền Bắc đến miền Nam và hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
< San hô lỗ đỉnh no-bi (Acropora nobilis) có hình dáng rất giống san hô lỗ đỉnh đài loan, nhưng có màu vàng thay vì màu tím.
Được coi là lá chắn cho hệ sinh thái ven biển, sự biến mất của những rạn san hô đồng nghĩa với sự cạn kiệt các nguồn lợi thủy sản. Một hệ quả khác là ngành du lịch biển sẽ mất đi một lợi thế lớn vì sẽ không còn du khách nào muốn lặn xuống chiêm ngưỡng một vùng đáy biển trơ trụi.
< Mọc thành những tảng lớn, san hô cành đa mi (Pocillopora damicornis) xuất hiện tại các vùng biển từ Quảng Trị xuống phía Nam và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
< San hô cành sần sùi (Pocillopora verrucosa) có mặt tại biển miền Trung, miền Nam và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
Trước thực trạng trên, nhiều loài san hô đã được chính phủ đưa vào Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chúng ở Việt Nam để tạo cơ sở cho công tác bảo vệ, phục hồi và phát triển.
< San hô khối đầu thùy (Porites lobata) tạo thành những khối lớn có bề mặt uốn lượn mềm mại. Chúng có mặt trên hầu hết các khu vực của biển Đông.
Hy vọng rằng trong tương lai, những rạn san hô Việt Nam sẽ được gìn giữ để thế hệ sau này còn cơ hội thưởng lãm những vẻ đẹp thần tiên trong lòng biển Tổ quốc.
Du lịch, GO! - Theo Datviet
< Ở vùng biển của Việt Nam, san hô trúc (Isis hippuris) chỉ hiện diện tại quần đảo Trường Sa. Loài san hô quý hiếm này có hình thù khá kỳ ảo với màu vàng hoặc đỏ tươi.
Biển Đông của Việt Nam là một miền đất hứa của những cánh rừng muôn màu ấy. Theo các nhà khoa học, với số lượng khoảng 400 loài san hô khác nhau, hệ san hô của biển Việt Nam hoàn toàn có thể sánh với những vùng san hô đa dạng nhất của thế giới.
< San hô lỗ đỉnh xù xì (Acropora aspera) cũng có hình thù khá lạ mắt, phân bố ở các vùng biển Hạ Long, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, đảo Lý Sơn, vịnh Nha Trang, quần đảo Trường Sa và vùng biển phía Nam.
Tuy vậy, tình trạng khai thác san hô bừa bãi để làm nguyên liệu chế tác đồ mỹ nghệ, phục vụ thị trường sinh vật cảnh, thậm chí là để sản xuất xi măng đã khiến nguồn tài nguyên này của Việt Nam ngày càng suy kiệt, sự tồn tại của nhiều rạn san hô đứng trước thách thức sống còn.
< Cùng họ và cùng địa điểm phân bố với san hô lỗ đỉnh xù xì, nhưng san hô lỗ đỉnh au-te (Acropora austera) có màu sắc tươi tắn hơn.
< Sắc tím dịu dàng rất thích hợp với vẻ mềm mại của san hô lỗ đỉnh hạt (Acropora cerealis). Loài này có mặt ở vùng biển đảo Hạ Mai (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ, các đảo ven bờ của các tỉnh từ Quảng Trị đến Bà Rịa-Vũng Tàu, các đảo Tây Nam Bộ và quần đảo Trường Sa.
< San hô lỗ đỉnh hoa (Acropora florida) phân bố rộng trên các rạn san hô từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
< San hô lỗ đỉnh đài loan (Acropora formosa) cũng có vùng phân bố khá rộng, từ các vùng biển miền Bắc đến miền Nam và hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
< San hô lỗ đỉnh no-bi (Acropora nobilis) có hình dáng rất giống san hô lỗ đỉnh đài loan, nhưng có màu vàng thay vì màu tím.
Được coi là lá chắn cho hệ sinh thái ven biển, sự biến mất của những rạn san hô đồng nghĩa với sự cạn kiệt các nguồn lợi thủy sản. Một hệ quả khác là ngành du lịch biển sẽ mất đi một lợi thế lớn vì sẽ không còn du khách nào muốn lặn xuống chiêm ngưỡng một vùng đáy biển trơ trụi.
< Mọc thành những tảng lớn, san hô cành đa mi (Pocillopora damicornis) xuất hiện tại các vùng biển từ Quảng Trị xuống phía Nam và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
< San hô cành sần sùi (Pocillopora verrucosa) có mặt tại biển miền Trung, miền Nam và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
Trước thực trạng trên, nhiều loài san hô đã được chính phủ đưa vào Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chúng ở Việt Nam để tạo cơ sở cho công tác bảo vệ, phục hồi và phát triển.
< San hô khối đầu thùy (Porites lobata) tạo thành những khối lớn có bề mặt uốn lượn mềm mại. Chúng có mặt trên hầu hết các khu vực của biển Đông.
Hy vọng rằng trong tương lai, những rạn san hô Việt Nam sẽ được gìn giữ để thế hệ sau này còn cơ hội thưởng lãm những vẻ đẹp thần tiên trong lòng biển Tổ quốc.
Du lịch, GO! - Theo Datviet
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






































