Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Rượu và cái Tết của người Mông ở Mù Cang Chải

Tôi đến Mù Cang Chải vào một ngày đầu tháng Chạp, khi mùa xuân vẫn đang ngủ kín dưới những lớp ruộng bậc thang xám ngắt một màu đất cũ. 

< Giữa trưa, nhưng ở trên Trống Páo Sang trời vẫn mịt mù sương khói. Cái vẻ yên bình vùng cao khiến cho bất kỳ "người thành thị" nào lên đây cũng không còn muốn về xuôi.

Vượt qua "đèo mây" Khau Phạ, Mù Cang Chải hiện ra duyên dáng như cô gái Mông ngày hội, e ấp làm duyên trong màn sương dày đặc của núi rừng Tây Bắc. Không có những con sóng lúa vàng ươm như kéo từ trên trời xuống vào ngày mùa tháng chín, tháng mười, Mù Cang Chải mùa này lại rộn ràng đón Tết người Mông.

< Đặc sản của Mù Cang Chải là sương mù. Cứ mỗi chiều hoặc vào sáng sớm, sương mù chạy lên chạy xuống khắp bản. Người và sương, sương và người hòa quyện với nhau trong một khung cảnh hoang sơ chẳng khác nào xứ tiên. Mà thực ra ở trên núi cao như thế này, người ta không biết nên gọi cái "mờ mờ trắng trắng" này là sương mù hay mây núi cho chính xác. Chỉ biết chắc rằng, đó là thứ gia vị không thể thiếu cho nỗi nhớ của bất kỳ ai đã từng lên đây.

Ngồi trên chiếc xem khách cũ kỹ chạy từ thị trấn đến ngã ba Kim, những giỏ hàng lỉnh kỉnh chất đầy xe từ chợ huyện về, những khuôn mặt cười nói tíu tít thứ ngôn ngữ mà tôi chỉ có thể cảm nhận được bằng âm điệu, báo hiệu mùa xuân của người Mông đã đến.

< Con đường đất đi lên bản, chỉ có thể dùng các loại xe "chuyên dụng vùng cao" như chiếc Win TQ của đồng bào này.

Cái Tết của người Mông diễn ra khi mùa xuân của miền xuôi còn chưa tới. Theo tục lệ, người Mông ăn Tết từ ngày mùng một đến ngày 15 tháng Chạp (âm lịch). Đến Tết, người Mông rất ít khi đi ra khỏi bản, trừ khi có việc thật gấp. Vậy nên trong những ngày này ở phố núi Mù Cang Chải, nơi có 90% dân số là người Mông, đường xá trở nên vắng vẻ hơn rất nhiều.

Những người bán hàng ở chợ bảo, những ngày sắp đến Tết thì người Mông ra đây mua bán, trao đổi nhiều lắm, chật ních là người, có khi còn chật hơn cả đường phố dưới Hà Nội.

Nhưng những ngày sau thì lại chẳng có ai, họa hoằn lắm mới có đôi người mang gà, rau cỏ, chim rừng đi bán để lấy tiền tiêu tiếp cho...15 ngày Tết.

Tết trên đỉnh núi

Muốn biết Tết của người Mông như thế nào thì đương nhiên phải vào bản của người Mông.
Nghe theo lời khuyên của một anh Xá, người Mông chính cống, hiện đang làm công an tại Than Uyên (Lai Châu), tôi đặt quyết tâm là phải vào xã La Pán Tẩn ở Mù Cang Chải cho bằng được, nơi anh giới thiệu là "còn giữ được bản sắc của dân tộc mình lắm."

Xã La Pán Tẩn nằm cách thị trấn Mù Cang Chải tầm 26km, muốn đến phải đi xe dọc quốc lộ 32 nằm cheo leo ngang sườn núi đến ngã ba Kim, rồi từ đó lại ngoặt vào thêm tầm 7km đường núi nữa thì mới vào được trung tâm xã.

< Hai đứa bé Mông cười khúc khích khi thấy người lạ đi vào bản. Dù đời sống còn khó khăn, hiếm khi nào thấy những gương mặt hồn nhiên như thế này không có nụ cười trên môi.

Dẫu đường đã được trải bê tông, nhưng vừa hẹp lại vừa dốc, ô tô loại vừa vừa là chịu chết, còn xe máy thì chỉ có thể dùng các em "chuyên dụng vùng cao" như Win, Minsk thì mới kéo qua được mấy con dốc thẳng đứng ở đây.

Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy trung tâm xã có độc mỗi cái nhà ủy ban, còn xung quanh chỉ lèo tèo mấy cửa hàng bán đồ tạp hóa, chứ không tập trung dân cư đông đúc như ở các "trung tâm"khác.
"Chỗ này thấp quá, người Mông không thích ở đâu," Anh Nguyễn Thanh Bình, công an xã La Pán Tẩn, cười. "muốn thăm người Mông "xịn" thì phải trèo lên núi kia."

Cái "bản núi" mà anh Bình đưa tôi lên thăm có cái tên rất lạ-Trống Páo Sang. Nó chỉ cách ủy ban xã tầm 2km, nhưng để đi bộ thì cũng phải mất gần một tiếng đồng hồ mới đến nơi, bởi đường dốc quá. Đã dốc lại còn cheo leo: một bên là vách đá, một bên là vực, chỉ toàn những khúc cua gập khuỷu tay mà không có rào chắn bảo vệ.

Con đường này làm tôi sực nhớ ra chuyện vui của một đồng bào vùng cao đi thi lấy bằng lái xe máy.
Đến phần thực hành đi vòng số tám, bác này tắt máy rồi nhảy xuống dắt bộ. Giám sát viên ngạc nhiên quá chạy lại hỏi tại sao, bác mới trả lời là "ở trên nhà tao đoạn nào khó tao toàn làm thế!". Đến đây mới thấy chuyện nói để cho vui thôi nhưng mà rất thật.

Bê tông hóa đến chỗ này thì dừng, chỉ còn lại đường đẩ gồ gề toàn bụi là bụi, cứ mỗi khi gió thổi hoặc xe máy của đồng bào đi qua thì y như rằng quần áo, mặt mày, tóc tai của người đi đường ai nấy đều vàng ệch như bị đổ phấn vôi từ trên đỉnh đầu xuống.

Anh Bình bảo chính quyền cũng thuyết phục người dân xuống vùng thấp hơn để sống cho dễ dàng, nhưng họ không chịu. Có đợt nhà nước cho mỗi gia đình chịu di dời một con trâu để họ xuống núi, nhưng do không biết chăm sóc nên trâu chết, cả nhà mổ thịt đi bán rồi lại...trèo về núi.

Chuyện xưa-nay bên bếp lửa

Ngôi nhà đầu tiên mà tôi vào thăm là nhà của ông Lý Chồng Di, phó chủ tịch xã La Pán Tẩn.
Đến đúng vào giờ ăn trưa, ông Di mời luôn tôi vào dùng bữa cơm Tết thân mật của người Mông. Gọi là giữa trưa, nhưng bên ngoài sương vẫn phủ mờ tịt lên khắp bản làng. Trời miền núi rét căm căm, không có gì hay bằng ngồi bên bếp lửa nghe các cụ cao niên rầm rì kể chuyện.

Tay rót rượu mời khách, ông Di tâm sự rằng cái Tết năm nay của người Mông khấm khá hơn một chút so với năm ngoái. "Ở đây chủ yếu là trồng thóc, trồng lúa, năm nào không mất mùa thì ăn Tết sẽ vui,". Năm nay Trống Páo Sang không phải là được mùa, nhưng cũng không mất mùa. Nhà nào có trồng thêm cây thảo quả nữa thì tiền bạc có dư dả hơn để sắm Tết.

Ông Di bảo, dẫu bây giờ cuộc sống hiện đại hơn nhiều rồi, người Mông ở đây vẫn không quên cái Tết của dân tộc mình. Tết không chỉ là dịp để những người tha hương trở về quê cũ đoàn tụ với gia đình, mà còn là lúc người Mông đuổi tà ma, xui xẻo, muộn phiền năm cũ đi, và hi vọng vào một năm mới đời sống sung túc hơn.

Với trai gái tuổi cập kê, Tết cũng là dịp để yêu đương, và rồi kết nên duyên vợ chồng. Khác với người dưới xuôi thường làm đám cưới vào cuối năm, người Mông chỉ lấy vợ lấy chồng vào dịp Tết.

Với người Mông, phụ nữ có quyền lựa chọn người chồng tương lai của mình. Con trai sẽ kéo nhau đến sân nhà con gái để tìm hiểu, cô thích chàng nào thì sẽ ném pao cho chàng đó. Thế nên mới có câu

" Em ném pao, anh không bắt
Anh không yêu, quả pao rơi rồi
Anh chọn người nào, anh bắt pao nào..."

Sauk hi bắt pao, người con trai sẽ kéo cô gái về nhà mình, tục của người Mông gọi là "cướp vợ." Tuy "cướp", nhưng cả "thủ phạm" lẫn "nạn nhân" đều bằng mặt bằng lòng với nhau. Sau đó hai gia đình sẽ làm thủ tục để hợp thức hóa đời sống vợ chồng cho đôi lứa.

Đất trời nghiêng ngả hơi men...

< Những đứa trẻ Mông vừa ngại vừa thích gặp những người lạ từ miền xuôi lên. Hỏi các em thích nhất là được quà gì, các em nói chỉ ước có thật nhiều quần áo ấm để mặc.

Không biết có phải vì sống ở trên miền giá rét quá hay không, mà người Mông rất thích uống rượu.
Mùa xuân của người Mông đến trên đôi má thiếu nữ hây hây ửng hồng hơi rượu, và trên dáng đi ngật ngưỡng của những chàng trai trẻ chơi xuân choáng hơi men. Đất trời dày đặc sương mù nhấp nhô trên thửa ruộng bậc thang, là đà bám trên những mái nhà gỗ, những cành mận rừng chớm nở đỏ thắm, như cũng say thứ rượu thóc trứ danh của người Mông ở La Pán Tẩn.

Anh Hừa, một người ở bản Trống Páo Sang, khẳng định như đinh đóng cột rằng một gia đình người Mông phải uống ít nhất...20 lít rượu trong dịp Tết.

Tính sơ sơ cho người lớn, mỗi ngày hết tầm hai lít. Mà rượu thóc La Pán Tẩn có phải là nhẹ nhàng gì cho cam, ngậm trong miệng thấy nóng ran như ngậm dầu sôi, rượu trôi đến đâu thì ngấm đến đấy. Mỗi khi bếp lịm dần, hất một bát rượu vào thì lửa lại bừng bừng bốc lên như làm phép.

Rượu thì nhà ai cũng nhiều, nhưng khách phải quý lắm thì người Mông mới mời uống. Mà đã uống thì phải uống bằng bát, uống cho bằng hết rượu trong nhà thì thôi. Chủ nhà "chào cỗ" với khách bằng hai bát rượu, khách cũng pphải đáp lễ bằng hai bát. Uống xong mặt cười phơ lớ, rồi bắt tay nhau, rồi lại uống tiếp. Uống cho say đến độ không biết gì nữa, rồi cả chủ lẫn khách ôm nhau nằm ngủ dưới sàn đất trải rơm. Khách quý của người Mông thì phải như thế.

Được cái rượu người Mông uống say không bao giờ bị đau đầu như thứ rượu Vodka hay cuốc lủi pha thuốc sâu ở dưới xuôi. Đêm uống say sáng ra người tỉnh táo như vừa trải qua một giấc ngủ đã đời. Rượu thóc La Pán Tẩn ngon nổi tiếng đến nỗi hàng năm Tết đến, nhiều người ở dưới Hà Nội kì công phóng cả ô tô lên mua vài chục lít về vừa uống vừa đi tặng. Giá một lít chỉ vào khoảng 30 nghìn đồng, không nhiều, nhưng cũng là một nguồn tăng thu nhập cho người La Pán Tẩn.

Ở đây còn có chuyện thanh niên uống rượu say quá, không đi nổi về nhà, khiến cả bản nhốn nháo đốt đuốc đi tìm cả đêm. Tìm mãi không thấy, tưởng đã rơi xuống vực rồi, thì sáng hôm sau lại thấy anh này lồm cồm bò dậy từ một bụi cây ven đường.


< Dân bản Trống Páo Sang tập trung ở nhà văn hóa để giao lưu và nhận quà Tết từ miền xuôi lên.

"Ngày xưa thì nhiều chuyện thế này lắm, nhưng bây giờ thì bớt đi rồi," Ông Lý Chồng Di cười cho biết.

Thời đại bây giờ giao thông thuận tiện, đi xuôi về ngược dễ dàng hơn trước rất nhiều. "Hà Nội thì tao chưa xuống, nhưng Nghĩa Lộ (Yên Bái) với thị xã (Yên Bái) thì đến rồi, tao không thích, đông quá, ồn ào quá, không bằng cái bản của mình," Anh Hừa làm một ngụm rượu rồi nói.

< Những cô thiếu nữ Mông đang tập ném pao cho nhau để chuẩn bị kén chồng. Khi thấy phóng viên chụp ảnh, một cô ném luôn quả pao cho tôi. Đáng tiếc là do không luyện tập, quả pao rơi mất, không thì có lẽ tôi đã làm...rể người Mông ở Trống Páo Sang.

Ông Di bảo, người Mông lo cho cái bản sắc của mình lắm, nên mấy cái tục từ ngày xửa ngày xưa như cướp vợ, chơi ném pao, ném còn, chơi tù lu (con quay ở dưới xuôi), và mời thầy mo,thầy cúng vẫn được người Mông cố gắng lưu truyền.
"Mấy cái đó bỏ đi thì mình mất gốc, còn gì là người Mông nữa," Ông Di cười.

Du lịch, GO! - Theo Tuanvietnam, internet

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Cõi tiên ven trời Tây Bắc

Không chỉ nổi tiếng với “mó nước tình nhân” mà vùng Ngọc Chiến (Sơn La) còn có phong cảnh đẹp như cõi tiên.
Muốn đến Ngọc Chiến phải qua đèo Sam Síp, vượt 30 con dốc quanh co luồn trong mây ngàn, lối vào duy nhất để đến với xứ sở của những ngôi nhà làm bằng gỗ pơ mu thơm lừng và những câu chuyện như huyền thoại.

“Vương giả” giữa đại ngàn

Nhìn cảnh hoa đào rụng hồng mái nhà sàn pơ mu, tôi ngỡ như đang lạc vào vườn xuân. Từ đầu đến cuối bản, hàng nghìn nếp nhà sàn nối san sát nhau, màu nâu gỗ quý dậy lên mùi thơm lừng của thiên nhiên. Sang trọng đến thế là cùng! Đấy là tôi nghĩ vậy, chứ hàng trăm năm qua, sống với rừng, với gỗ thì còn lựa chọn nào khác ngoài lấy gỗ sẵn có để làm nhà, dựng bản.

< Gỗ pơ mu được sử dụng làm nhà ở Ngọc Chiến.

Thầy Vũ Duy Thi, Hiệu trưởng Trường THCS Ngọc Chiến cho biết: “Khí hậu mát mẻ quanh năm, ngay cả vào tháng 8 mà cà chua mọc hoang ngoài hiên lớp học cũng trĩu quả, chín đỏ mọng”. Rồi tôi cũng phải tin lời thầy Thi khi đến bản người Mông, thấy hoa đào, mận nở trái mùa làm ong bướm bay xốn xang khắp vườn. Cuộc sống ở Ngọc Chiến không phải chuyện hoang đường, mà có thật. Theo các chuyên gia nghiên cứu về tài nguyên, vùng tiểu khí hậu mát mẻ quanh năm như Ngọc Chiến, không chỉ làm con người khoẻ mạnh mà ở đó còn có nguồn dược liệu quý mà không nơi nào có được.

Đến Ngọc Chiến, sẽ không thể tìm được nhà nghỉ, phòng trọ nhưng  có thể vào bất cứ gia đình nào. Họ quý khách như người thân, giúp có nơi ăn ngủ thịnh soạn cùng gia đình ở gian nhà sàn pơ mu trang trọng nhất.

Những người biết đến Ngọc Chiến ví nơi đó như Đà Lạt của Tây Nguyên, như Sa Pa của Tây Bắc. Cánh đồng Mường Chiến rộng đến 5,6km2, được bao bọc bốn phía bởi những dãy núi cao ngất, chủ yếu cấy nếp Tan đặc sản. Mùa tháng 8 đang vào vụ nếp Tan chín trĩu bông.

Loại nếp này chỉ trồng ở Ngọc Chiến mới thơm ngon, dẻo. Việc thu hái nếp Tan cũng khác, không gặt, chỉ hái từng bông. Hoa đào, hoa mận nở thắm quanh năm. Hoa dại cũng vậy, rất khác thường, cùng loài hoa dứa dại nhưng ở Ngọc Chiến bông hoa to gấp 5 - 6 lần ở nơi khác, cao đến gần 10m. Thấy đây là vùng đất có tiểu khí hậu đặc biệt, năm 2004, một số chuyên gia trong và ngoài nước đã đưa giống hoa tulip, ly về trồng thử nghiệm bên dòng suối Chiến. Thật bất ngờ, hương và sắc hoa đẹp đến ngỡ ngàng, cánh dầy, hương thơm nồng nàn.

Huyền thoại núi rừng

< Người dân đang tắm ở “mó nước tình nhân”.

Tiết trời vùng “bồng lai tiên cảnh” Ngọc Chiến rất lạ kỳ. Vào mùa hè, ở Sơn La còn nắng gay, nắng gắt thì phía bên kia đèo Sam Síp đã lạnh tê tái, mây cứ giăng mắc trắng trời. Người dân Ngọc Chiến xa xưa coi Sam Síp như thành lũy vững vàng bảo vệ bản làng, còn bà con hôm nay thì giận cái đèo này nhiều hơn quý. Chỉ tại nó ngăn cách mà mãi tới năm 1998, người dân ở Ngọc Chiến lần đầu tiên mới được nghe tiếng còi ô tô bíp vang thôn bản.

< Đỉnh Sam Síp cao quanh năm mây phủ.

Có người bảo, Sam Síp cao và khó đi như vậy thì mới có Ngọc Chiến đẹp đến hoang sơ. Nhiều chuyện có thật như huyền thoại phải vượt qua Sam Síp mới thấy. Từ đỉnh Sam Síp xuống gần đến bản Khùa Vai, bản đầu tiên của xã Ngọc Chiến, có “mó nước tình nhân” chữa bệnh cho dân bản. Nhiều người đã đến để chữa bệnh và có thấy chuyển biến về sức khoẻ.

Lò Văn Thoa, một sinh viên nghiên cứu về văn hoá các dân tộc, quê Ngọc Chiến thừa nhận: “Mó nước đó rất khác biệt, nơi nước chảy ra có hình hài giống hệt hai bộ phận sinh dục của nam và nữ”. Để đến đó được, theo lời Thoa, “phải gửi xe ở bản Khùa Vai, đi bộ mất nửa ngày mới đến. Chỗ đó có một bản với 7 nóc nhà, nhưng nay đã chuyển đi nơi khác vì mấy năm nay thấy nhiều người đến lấy nước về chữa bệnh, họ sợ nhiều người lạ đến sẽ sinh bệnh cho bản”.

Ông Lò Văn Phát, Phó Bí thư Đảng ủy xã Ngọc Chiến cho biết: “Tôi thấy người ta đi chữa bệnh về khoẻ ra, hỏi thì họ bảo chữa bằng nước ở “mó tình nhân”. Nhưng không phải họ chữa như người ta đồn đâu, phải sinh sống ở đó cả tháng, ăn uống nước đó mới khoẻ ra được. Còn chuyện uống nước đó giúp người hiếm muộn có con thì tôi không dám chắc. Có người đến chữa sau này về sinh con được nhưng không biết do nước hay do thuốc họ uống trước đó. Cũng có người bảo, bản tôi toàn người khoẻ, những cụ già 90 tuổi vẫn chặt củi, vác củi đi phăm phăm thì vào đó làm gì”.

< Ở Ngọc Chiến nhiều huyền thoại được lưu truyền qua lời kể của người già bên bếp lửa.

Băng qua Sam Síp còn được nghe chuyện về một người Mông ở xã Ngọc Chiến có tài nối tay đứt. Ông Tráng A Sử, Phó Chủ tịch xã Ngọc Chiến  kể: “Cách đây khoảng 3 năm, tôi bị máy cưa cắt đứt lìa 4 ngón tay phải. Khi ra Bệnh viện tỉnh Sơn La được bác sĩ phẫu thuật ba ngón đứt nông, còn ngón trỏ do bị nặng nên không nối được. Khi tôi bị nạn, ông Lý Tẩn Pha biết và đuổi theo tôi ra tận bệnh viện để giúp. Ông Pha mang theo 2 con gà thiên cổ, loại gà đen từ lông đến xương, cổ luôn vươn lên trời, người ở Ngọc Chiến thường nuôi để làm thuốc.

Thấy bác sĩ bảo ngón trỏ bị nặng, không nối được, ông Pha liền giật tay tôi, bôi cái gì đó có mùi hơi tanh và bó lại. Mấy ngày sau về bản, ông vẫn tiếp tục đắp thuốc giúp tôi. Giờ chính ngón tay trỏ ông Phá nối giúp lại hoạt động được bình thường, còn 3 ngón khác chỉ khum chứ không xòe thẳng ra  được như ngón trỏ”.

Ở Ngọc Chiến còn có những điều mê mẩn khác. Ví như sự khéo tay và tài tình của người phụ nữ Thái, se tơ dệt vải, đan váy khéo léo đến điêu luyện. Những đồ dùng sinh hoạt trong nhà đều tự tay đan, làm lấy như cái Bem được kết bằng mây dùng để đựng quần áo giống chiếc vali của người Kinh nhưng đẹp và kỳ công đến khó tin.

Hay người Thái có cái coóng khẩu được ví như “chiếc tủ nóng” mang đi nương. Coóng khẩu như cái giỏ, được đan kết tinh xảo bằng mây dùng để đựng cơm đi nương. Bằng cách đan lồng ghép mà coóng khẩu có 2 mặt phải, ở giữ 2 mặt ghép để trống nhưng kín bưng giữ cho cơm nóng lại không bị hấp hơi nước.

Ở miền Tây Bắc đồng bào vui xuân hết tháng Giêng, Hai. Cái Tết ở Ngọc Chiến đến nay vẫn được cho là đậm bản sắc hiếm nơi nào sánh được. Phải chăng, đỉnh Sam Síp chính là điều diệu kỳ để giữ được điều kỳ bí và bản sắc của bản người Thái bên dòng Nậm Chiến.

Du lịch, GO! - Theo báo Gia đình & Xã hội Cuối tuần

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

Chuyện nhỏ ở Sủng Là

Câu chuyện này là cú hích cuối cùng biến những thương nhớ mà “dân đi” dành cho mảnh đất Đồng Văn (Hà Giang) vốn đã gắn bó với nhiều người qua những chuyến du lịch thành một hành động thiết thực. “Thương nhớ Đồng Văn” sẽ là một món quà ý nghĩa dành tặng đồng bào vùng cao.

< Một “dân đi” trò chuyện cùng một phụ nữ trước cửa “nhà của Pao”.

Tôi chỉ đến “nhà của Pao” (một ngôi nhà nổi tiếng ở xã Sủng Là, Đồng Văn) vào hành trình thứ tám trên cao nguyên đá. Hôm đó, chúng tôi đã có một vài bức hình chụp chung với gia đình rất đẹp. Và tôi khi trở về Hà Nội đã in ảnh, đóng khung, treo lên tường nhà một tấm, để đôi lúc đi ngang qua phòng khách lại có dịp giật mình, thảng thốt nhớ Đồng Văn...

< Tấm ảnh được treo cùng với những bức ảnh khác của gia đình.

Tôi trở lại Đồng Văn không lâu sau đó. Cũng như mọi khi, chuyến đi lần nào cũng vội. Lần nào tôi cũng chỉ kịp thở dài tiếc nuối vì không kịp in những tấm ảnh để dành tặng những con người tôi đã gặp và chia sẻ trong những chuyến đi trước đó. Trước khi xách balô ra cửa, cái nhìn của tôi dừng lại nơi bức tường phòng khách. Tôi vội vã bước đến, gỡ tấm ảnh xuống. Tấm ảnh được đóng khung kính cẩn thận, và lần đầu tiên có một tấm ảnh đã theo tôi trở lại Đồng Văn.

Tôi trở lại Sủng Là, trở lại “nhà của Pao”, tìm người phụ nữ xinh đẹp đã có mặt trong bức ảnh của tôi hôm đó. Tôi gặp một phụ nữ khác, không khăn cầu vồng và áo hoa xanh, một phụ nữ đầu tóc rối bù vừa đi cắt rau lang về, hạ gùi xuống bên cột gỗ. Tôi gần như không nhận ra người phụ nữ Mông xinh đẹp trong tấm hình của mình, nếu không nhìn vào đôi mắt. Tôi lấy tấm ảnh ra khỏi túi và đặt vào đôi bàn tay vẫn còn lem luốc nhựa khoai.

Tôi không biết người phụ nữ ấy nghĩ gì. Chỉ thấy một tay chị cầm bức ảnh và một tay đập nhẹ vào bờ vai tôi như vừa vỗ về, vừa bối rối. Người phụ nữ chỉ gật đầu và cười, đôi mắt cũng cười khi tôi hỏi chị có vui không, rồi vội vã nhờ một cô bé giữ tấm hình, đi vào nhà lấy ra... một chiếc rìu để đóng chiếc đinh, treo bức ảnh của tôi lên cạnh những khung ảnh với rất nhiều tấm hình be bé của gia đình, những tấm ảnh đã ngả màu sương gió.

Và trong khi chúng tôi mải mê đi ra đi vào gian nhà ngang, leo cầu thang chụp ảnh, chị đã chạy sang nhà hàng xóm và một lúc sau trở về với một người phụ nữ khác... Hai người cùng đứng ngắm bức ảnh và trao đổi với nhau rất nhiều bằng tiếng Mông...

Lần đầu tiên tôi cùng các bạn mình đã nhận ra rằng cuộc sống “đâu chỉ có cơm ngon và áo đẹp, mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng”... Cuộc đời còn có cả những bức ảnh dành tặng Đồng Văn!

Bất chợt, chúng tôi đã nhận ra Đồng Văn không chỉ có những bờ rào đá...

< Người hàng xóm chạy sang xem.

Câu chuyện sau đây được kể lại qua lời một thành viên có nick “Tím” trên diễn đàn Phuot.vn. Qua đó có thể mọi người sẽ hiểu và ủng hộ ý tưởng, ý nghĩa văn hóa mà các bạn hướng tới. Triển lãm ảnh “Thương nhớ Đồng Văn” và chương trình tặng ảnh cho đồng bào vùng cao do một nhóm tình nguyện viên tổ chức sẽ diễn ra ngày 18 và 19-2 tại thị trấn Đồng Văn.

Một tình nguyện viên cho biết: “Những tấm ảnh giản dị về con người và cuộc sống ở Đồng Văn và các địa điểm gần với thị trấn Đồng Văn sẽ là một thông điệp bày tỏ tình cảm đặc biệt mà các bạn dành cho đồng bào nơi vùng cao biên giới. Mong muốn lớn nhất của chúng tôi là chủ nhân của những bức ảnh sẽ tìm lại được mình qua các tác phẩm mà các bạn dành tặng triển lãm ảnh này”.

Du lịch, GO! - Theo TTO, Phuot.vn

Ghé thăm "nhà của Pao" tại Hà Giang
Chuyện kể ở Sủng Là

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Cao Sơn mùa xuân

Tôi ngồi tựa lưng vào cột nhà đầy nắng, ngắm nhìn lũ trẻ con đang nhảy nhô nhảy nhào trong vườn mận, trêu chọc mấy cô bé dung dăng dung dẻ trên đường. Cao Sơn mùa xuân.

Nằm cách trung tâm huyện Mường Khương (Lào Cai) khoảng 25km, Cao Sơn được xem như một tiểu Sa Pa ở độ cao trên 1.300m, núi rừng hùng vĩ, khoáng đạt, bản làng, thôn xóm yên bình, đặc biệt chưa bị “du lịch hóa” mạnh mẽ nên còn giữ được nhiều nét hoang sơ, đậm đà bản sắc.

Có hai cung đường để khám phá Cao Sơn, xuất phát từ thị trấn Bắc Hà trên cao nguyên hoa mận trắng tới cầu Bảo Nhai xuôi theo dòng sông Chảy để đến với chợ phiên Cốc Ly vào thứ ba, cách Cao Sơn khoảng 30km. Nếu đi theo hướng ngược lại từ Mường Khương qua Lùng Khấu Nhin, nơi có chợ phiên họp thứ năm hằng tuần, qua những triền đồi sa mộc xanh mướt và kiêu hãnh như trời Âu là sẽ tới Cao Sơn.

Bà chủ quán ở Mường Khương vừa vội vã pha cho chúng tôi một ấm trà nóng vừa hồ hởi hỏi chuyện mấy kẻ lữ hành. Chén trà Shan cổ thụ ở nơi quanh năm mây phủ, không khí trong lành như xua tan đi cái giá rét của miền đất biên thùy. Chỉ tay về dãy núi giăng thành trước mặt, người đàn bà Mông cười bảo chốn ấy là Cao Sơn.

Rời Mường Khương, con đường đưa chúng tôi lên cao dần, những thung lũng và bản làng quần cư hiện ra dưới tầm mắt. Trời rét buốt và thiếu nắng, những vạt cây như được khoác lên mình một tấm áo màu chì. Chúng tôi dừng xe khi gặp một toán trẻ con người Mông đang ngồi chơi bên vách núi.

Ngày tết, các em mặc quần áo đẹp, theo kiểu áo đôi đi du xuân, nom thật thú vị và ấn tượng. Chút e dè khi thấy người lạ, nhưng rồi mặc kệ chúng tôi với máy chụp hình cứ nâng lên hạ xuống, các em vẫn í ới trêu chọc nhau không chút ngại ngùng.

Thỉnh thoảng có bạn giật mình lo lắng khi một vài chú nhóc nhảy vèo xuống đường từ trên vách núi, từ phía sau những đám cây bụi.

Bọn trẻ nghịch ngợm và như đã quá quen với con đường “đạp núi”, chúng nhảy thoăn thoắt giữa các mỏm đất, vạch cỏ lấy đường, chỉ cần con đường nào nhanh nhất để xuống là chúng đi qua không chút e dè. Chúng cười như nắc nẻ khi thấy chúng tôi kêu lên hốt hoảng, và nhanh như sóc hạ chân xuống mặt đường nhựa như những cánh chim non.

Rời bọn trẻ con nghịch ngợm ấy, lại gặp một toán nam thanh nữ tú đang tự tình ngay khúc quanh của núi. Đám con trai nghịch ngợm lấy khăn của các cô gái, trong khi các cô bé e lệ che miệng khúc khích cười. Mấy đứa bé hơn thì chơi trò nhảy dây hoặc dùng rễ cây rừng đánh đu qua lại. Chỗ nào có trẻ con, chỗ đấy thật rộn ràng.

Con đường về Cao Sơn càng đi càng lên cao, gió vi vút trên những cánh rừng sa mộc. Chén rượu xuân uống với người chủ nhà hiếu khách ở Lùng Khấu Nhin làm ấm lòng người lữ khách trên đỉnh cao gió buốt. Những sân nhà đầy chật phụ nữ và trẻ nhỏ. Như thể họ đang ngồi đợi xuân.

Chúng tôi dừng lại ở Cao Sơn, với một sân nhà đầy đàn bà và con trẻ. Đàn ông đi uống rượu trong núi rồi, say không biết khi nào về. Đàn bà ở nhà, tranh thủ trời nắng mang ghế ra sân ngồi thêu.

Vườn mận nở muộn in những cành nhỏ khẳng khiu trên nền trời xanh thẳm. Cô bé con chân sáo nhảy qua vườn. Người mẹ trẻ mang áo quần đi phơi. Bạn đồng hành đi hỏi thăm chỗ đổ xăng, vì mải đi trên con đường vòng vèo lưng núi mà không nhận ra phố thị đã ở quá xa sau lưng mình.

Tôi ngồi tựa lưng vào cột nhà đầy nắng, ngắm nhìn lũ trẻ con đang vui đùa trong vườn mận, trêu chọc mấy cô bé dung dăng dung dẻ trên đường, không biết đến khi nào mình sẽ lại tìm về xứ sở của những mộc mạc, hồn nhiên này…

Cao Sơn đang mùa xuân.

Du lịch, GO! - Theo TTO

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

Hội xuân Say Sán ở Sín Chéng

Khuất ở tít lưng trời biên ải, Sín Chéng là một xã nghèo, tận cùng xa xôi của “vừng trán nhô cao của Tổ quốc” Si Ma Cai, Lào Cai. Không dữ dằn khốc liệt với đá núi và rừng sâu, cũng không tân thời để nhoài theo sự phát triển bằng mọi giá mà mai một bản sắc văn hóa. Sín Chéng lúc này giữa bồng bềnh mây và sậm sùi rét sương.

Cũng như nhiều vùng khác, muốn hiểu Sín Chéng thì hãy ra chợ. Tuy mưa rét, lấm lem bùn đất, mộc mạc như cây rừng, thơ ngây như những bông hoa không ai biết tên gọi là gì dọc lối đi, nhưng Sín Chéng sẽ ngấm vào bạn với bao nhiều ảo diệu.

Chợ Sín Chéng nằm ở trung tâm xã Sín Chéng, cách huyện lỵ Si Ma Cai khoảng 10 km, họp vào thứ tư hàng tuần. Vì nằm ở một xã khá xa trung tâm huyện, nên chợ Sín Chéng ít bị các yếu tố của nền văn hoá công nghiệp làm mờ đi những nét đặc trưng của chợ vùng cao. Chợ là nơi hội tụ của nhiều đồng bào dân tộc: Mông, Nùng, Tày, Thu Lao... đến giao lưu, trao đổi, buôn bán.

< Hội xuân Say Sán đông vui và đầy màu sắc.

Chợ Sín Chéng tầm ban trưa là lúc đông nhất. Nhìn từ xa, chỉ thấy màu đỏ váy, áo những cô gái Mông, màu xanh của trang phục người Nùng và nhiều màu sắc khác của hàng hoá. Chợ là nơi tìm bạn, kết bạn; nơi hò hẹn lứa đôi; nơi các cô gái Mông khoe bộ váy mới vừa thêu; chàng trai thể hiện điệu múa khèn tình tứ; những cụ già ngồi nhâm nhi chén rượu; những cô, những bà vừa bán hàng, vừa thêu thổ cẩm bằng đôi bàn tay in dấu thời gian...

Chợ là nơi giao lưu giữa các dân tộc với nhau, cũng là nơi giao thoa của nhiều vùng, miền văn hoá. Chợ Sín Chéng còn giữ được rất nhiều nét bản sắc độc đáo mà bất kỳ nhà nghiên cứu văn hoá nào nếu chỉ đọc qua sách vở cũng không thể tìm thấy hết được. Đến chợ phiên Sín Chéng cho ta niềm tin vào sự bền vững của những giá trị văn hoá.

Hội xuân Say Sán

Có một lễ hội mùa xuân ở rất sâu sau những dãy núi cao, nơi đầu nguồn sông Chảy, nơi sa mộc reo vi vu trên những đỉnh đồi gió lộng, nắng lấp lánh trên những chiếc ô màu và chân váy căng phồng của người Mông ở Simacai. Xuân về, bạn hãy cùng chúng tôi đi “say sán” ở Sín Chéng (Simacai, Lào Cai).

< Đi hội xuân còn để thưởng thức những món ăn ngon.

Người dân tộc thiểu số ở các vùng đất khác nhau có nhiều cách gọi tên cho lễ hội đón xuân: người Tày ở Tây Bắc xuống đồng vui hội Lồng Tồng, người Mông ở Pha Long, Sa Pa chơi hội gầu tào thì người Mông, Tày, Nùng ở Sín Chéng vui hội Say Sán, theo tiếng địa phương có nghĩa giản đơn là “đi chơi núi”.

Rời Hà Nội trên chuyến tàu đêm đi Lào Cai, chúng tôi khao khát được hít thở hương xuân giữa đất trời lồng lộng, được ngẩn ngơ trước những cành đào rừng đỏ thắm khỏe khoắn và hoa mận trắng tinh khiết, được sống với cảm xúc mùa xuân cùng đồng bào miền biên thùy…

< Mùa xuân bắt đầu trên những cánh đồng.

Từ Simacai ngược dòng sông Chảy, chúng tôi rời con lộ đi Pha Long - Mường Khương rẽ lối vào Sín Chéng, xã trung tâm của huyện Simacai, cách huyện lỵ khoảng 10km.

Buổi sớm tinh mơ và sương khói trên con đường đá sỏi nhấp nhô, hai bên núi và núi, cây và cây. Nắng sáng bừng trên những ngọn sa mộc tạo nên một khung cảnh thơ mộng trên đường vào thôn Mào Sao Phìn của Sín Chéng. Mặt trời chưa đủ ấm để xua tan cái lạnh ẩm ướt đang la đà trên mặt đường.

Mùa xuân đang “say sán” qua đây.

< Bà chủ hàng phở không ngơi tay.

Mới vào xuân nhưng đã thấy có người dắt trâu lên núi, thấp thoáng bóng phụ nữ cắt cỏ trên đồi, chiếc váy Mông xòe to lẫn vào cây bụi. Trong khi rất nhiều người đang say sưa chơi hội, trên cánh đồng bà con đã cày bừa. Trẻ theo cha mẹ ra đồng, đứa lớn cuốc đất, đứa bé ngồi chơi trên bờ cỏ. Phải chăng mùa xuân cũng bắt đầu từ trên những cánh đồng?

Sín Chéng nằm trên vùng cao hùng vĩ, hiểm trở, độ dốc lớn, lại bị chia cắt thành những thung lũng sâu và nhỏ nằm chen với những dãy núi, tạo thành vách đứng nên có được một khoảng đất khá rộng ở thôn Mào Sao Phìn để tổ chức hội Say Sán quả là lý tưởng.

< Hát giao duyên dưới gốc cây nêu.

Say Sán ban đầu là nơi giao duyên, hò hẹn của trai gái người Mông sau một năm làm việc vất vả; dần dà phát triển với ý nghĩa rộng lớn: lễ tế tổ tiên, cầu phúc cho người Mông được che chở, sống một năm mưa thuận gió hòa, nhà nhà no đủ, con cái sum vầy.

Trên sườn đồi người ta dựng cây nêu cầu phúc, phần ngọn là một cành mai để nguyên lá cuộn tròn tượng trưng vầng nhật nguyệt, có một dải dây màu đỏ và đen tượng trưng đất và trời.

< Các bé theo mẹ đi hội.

Phần lớn phụ nữ và đàn ông trung niên tụ tập quanh gốc nêu để uống trà và hát giao duyên, trong khi cánh thanh niên chia làm nhiều nhóm nhỏ đứng ngồi khắp nơi, bất kể mặt trời lên đốt cháy quả đồi cát bụi và những quán ăn không có mái che, chỉ có bàn gỗ, ghế gỗ và nồi nước dùng bốc hơi nghi ngút hòa vào với nắng trưa tạo nên một thứ sương khói lung linh, bảng lảng.

Chúng tôi bị cuốn theo những nhịp váy xòe của người Mông ở Simacai. So với nhiều nhánh dân tộc Mông khác, trang phục truyền thống của họ đặc biệt hơn: chiếc váy thổ cẩm rộng và dài xuống tận gót chân, sắc hồng tươi lấp lánh, xòe bung dưới nhịp chân uyển chuyển của các bà các cô, uốn lượn như những đợt sóng trào, gợi cảm và quyến rũ.

Bạn tôi sà vào một quán phở nằm giữa trung tâm hội, ngắm nhìn những sắc màu rực rỡ rồi đi xuống cuối con đường hội phủ đầy hàng quán để mua xôi màu, trứng luộc, mía tím… mà vẫn tiếc nuối vì chưa kịp mua con gà thì chủ quán đã chặt hết để bán phở!

Tôi ngơ ngẩn trên sườn đồi, nghe hương xuân hội hè ồn ào và rộn rã chảy miết quanh mình. Tiếng hát gầu plềnh bay cao hơn ngọn nêu về với trời cao, về phía núi hay về phía những trái tim yêu. Lời hát chở đầy yêu thương và tin tưởng: Nước chảy, mặc nước chảy… Đất không chảy được đâu… Anh đi anh cứ đi… Em không đi em sẽ phải lên núi, lên đồi em khóc…

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Tin 108, TTO, internet

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Mèo niêm Sơn Vạc, đường đi dát anh trăng rằm

Cái tên Mèo Niêm - Sơn Vạc, địa danh nghe thì quen lắm nhưng rõ ràng không hề có trên bản đồ hành chính. Nó được bắt đầu từ những câu chuyện tếu táo bên ly cafe thơm thơm mùi cồn khô trên đường đêm, trong ánh trăng rằm vằng vặc giữa rừng của 6 kẻ lữ hành vượt sông vượt suối khe, bùn lầy và đèo dốc từ cung Mèo Vạc xuyên sang Niêm Sơn để tới Cao Bằng.

Sáng sớm, sương vẫn còn mờ ảo, khí lạnh vẫn còn tràn trề trên những dốc phố núi Mèo Vạc, chúng tôi lên đường đi Niêm Sơn, vượt qua sông Nho Quế, rồi sông Gâm sang Cao Bằng, cung đường lạ lẫm đầy sự bất trắc bởi thông tin rằng đường đang sạt lở do lũ quét, có những đoạn không còn dấu vết, cầu qua sông cũng bị lũ cuốn trôi...

Cung đường này về phong cảnh tương đối đẹp, hùng vĩ và vẫn còn rất nhiều nét hoang sơ. Đồi núi cao ngất ngư, đèo dốc tít tận đến cây cầu bê tông đang xây bắc qua sông Nho Quế cách thị tứ Niêm Sơn khoảng 25 km.

Bắt đầu từ Mèo Vạc, rẽ trái ở ngã ba Bưu Điện, sẽ gặp ngã ba có biển chỉ dẫn, lối rẽ leo lên đèo là đi thăm chợ tình Khau Vai, còn lối đi thẳng là đi Niêm Sơn. Đó là quốc lộ 4D, nằm trong tuyến quốc lộ 4 “huyền thoại” vắt ngang từ Đông Bắc sang Tây Bắc Việt Nam, quốc lộ này đang sửa chữa, đường rất đẹp, núi non trập trùng, sương giăng mờ ảo cả ngày đêm....

Con đường men theo triền núi đá, bên kia dãy núi là chợ tình Khau Vai nổi tiếng, mây cứ trồi lên cuồn cuộn và phong cảnh biến ảo mỗi lúc mỗi khác. Chúng tôi ngừng lại đoạn giữa đèo, trên đỉnh một quả đồi cao, trông xuống là thung lũng Niêm Sơn mênh mang, nhà cửa bản làng xanh mượt bé tý xíu, mây đang ùn lên từ dưới thung lũng, dưới ánh nắng sớm, mây vàng mượt như tơ... Cả đoàn dừng lại, mấy cô gái bắc bếp "dã chiến" đun cafe để ngâm nga ngắm trời đất giao hoà. Tiếng ghi ta bập bùng hòa tấu với piano, giọng Bằng Kiều cao vút bản nhạc của Trịnh.

..Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi buồn..
Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời...

Cái sự thú vị và mơ màng lãng mạn khi ta đứng trên đỉnh một quả núi, nhìn ngang tầm mắt là mây trời ngút ngàn, dưới chân ta là cả một thung lũng mênh mang xanh rì nó thật sự đáng nhớ và khó có thể quên mỗi khi nhìn lại những bức ảnh kỷ niệm. Những dãy núi trập trùng và hùng vĩ khiến ta thấy mình thật bé nhỏ. Giữa cái lồng lộng của đất trời, sự giao hoà của đêm và ngày, trong muôn vàn thanh âm của gió và cây, khung cảnh bình yên đến ngây ngất !

Chúng tôi uống cafe nghe Bằng Kiều hát trong cái sự lãng du như thế....

Con đường Mèo Niêm Sơn Vạc uốn lượn như rắn bò trên lưng chừng núi cứ thế đổ dốc khoảng 40 km. Vượt qua thị tứ Niêm Sơn với cái chợ be bé lao xao tiếng H'mong, tiếng Giáy, tiếng Nùng chen lẫn tiếng Kinh, chúng tôi ngừng lại ở một ngã ba. Nhìn sang tay trái là con sông Nho Quế nước đang cuồn cuộn chảy.

Sông Nho Quế bắt nguồn từ những dãy núi cao nguyên Vân Nam Trung Quốc chảy qua đèo Mã Pi Lèng, qua chân núi chợ tình Khau Vai rồi đổ về đây trước khi nhập vào sông Chảy. Nhìn dòng sông tôi tự hỏi không biết những hạt phù sa kia bắt đầu từ cao nguyên Vân Nam lồng lộng gió hay từ trên các triền núi đá tai mèo Mã Pi Lèng hùng vĩ chảy về đây, nhập vào dòng Gâm và xuôi về Tuyên Quang bồi đắp nên miền trung du đồi chè xanh ngát, cọ “xoè ô" che nắng cho những em bé đến trường... Chao ơi! Dòng nước kia nhọc nhằn và sôi réo cứ chảy mãi, chảy mãi không ngừng, mải miết đi về nơi xa và hòa vào vùng châu thổ trù phú miền Bắc Bộ.

Đường xuống bến sông nhầy nhụa bùn đất, chúng tôi hỏi một anh chàng H'mong tay cầm con dao quắm với bộ mặt nhăn nhúm, thâm thâm, đôi mắt mờ đục vì á phiện:
- Ơ cái mày! Cho mình hỏi đường này qua sông để đi Bảo Lạc đúng không?

Anh chàng H'mong chẳng nói gì, quay mặt đi, ho húng hắng rồi chui tọt vào lán... Có lẽ anh ta không biết tiếng Kinh.

Sau một thoáng do dự, chúng tôi quyết định đi xuống. Con đường quá lầy lội, chiếc xe chỉ chực lăn kềnh, bánh quay tít mỗi khi phanh lại, đôi lúc nó trôi tuồn tuột.... Nhìn xuống bến sông, dòng Nho Quế cuồn cuộn chảy, một chiếc bè mỏng manh đang từ từ sang sông...

Tiếng hò hét sợ hãi của nhóm đi xe Mink khi chiếc bè chao đảo, chòng chành rồi trôi vun vút giữa dòng nước, anh chàng chống bè qua sông gầy gò đen xì, trên người xăm "vằn vện" những hoa lá chim muông cùng với đầu lâu xương chéo đẩy cái bè bằng cây sào dài cỡ 4m một cách rất thiện nghệ. Sau một hồi tròng trành đánh vật với dòng nước đang trôi phăm phăm, rốt cục anh ta cũng đẩy được nó vào mép sông, chiếc xe Mink nổ máy, khói đen xì "vặn vẹo" mãi rồi cũng lên được cái dốc trơn như đổ mỡ. Tôi sực nhớ rằng cần phải cho hết mấy cái máy ảnh, điện thoại và những vật dụng đắt tiền vào trong một cái bọc nilon đề phòng lật bè.

Gần 1 tiếng sau, cũng đến lượt tôi và chiếc xe cào cào Y.Serow qua sông. Cực kỳ hồi hộp khi lái chiếc xe xuống bè, không cẩn thận là cả người cả xe lộn cổ xuống sông... Hai anh chàng chống mảng mặt đầy vẻ "cô hồn", mắt lấm la lấm lét và nụ cười nhếch mép luôn thường trực trên đôi môi thâm xì vì thuốc phiện buông một câu cộc lốc: Ngồi yên vị trí...

Phải nói rằng đi bè qua sông giữa mùa nước lũ cũng là một sự mạo hiểm chẳng khác gì ta đánh đu bằng sợi dây chão trên cái vực sâu. Nói dại! Hôm ấy nếu có bị lật bè, thách cũng chỉ mong sao cứu được thể xác chứ 10 cái máy ảnh cũng bỏ, cho dù nó đắt cỡ nào. Nước cuồn cuộn thế kia....

Qua khỏi khúc sông, tưởng đã thoát khỏi chỗ khổ nhất, nào ngờ đó mới chỉ là khúc dạo đầu của con đường gian nan. Chỉ cách bến sông chừng 200 m, đường tự nhiên mất tích. Cả bọn ngơ ngác nhìn, ngó lên trên cái vách đồi bên tay trái thì thấy vệt đường đỏ thẫm dốc ngược lên núi. Thì ra nó ở trên kia, và muốn lên đó, chúng tôi phải cho xe tụt xuống 50m độ sâu xuống con suối cạn, vượt qua suối, xong phải "trèo" lên cái vách đồi muốn dựng ngược cả người lẫn xe.

Chúng tôi cẩn trọng cho xe tụt xuống lòng con suối cạn lổn nhổn đá hộc, nước lấp xấp, rồi cài số 1 cho xe vượt lên dốc cao khoảng 3 m đầy cây mắc cỡ tới được chỗ đất bằng phẳng, tập kết xe ở đó để leo vách đồi cao ngất đằng trước mặt. Ba người ở phía sau đẩy, một người lái, xe cài số 1 vặn hết ga, cả người cả xe "phụt khói" mới lên nổi con dốc... Quả đúng là "danh bất hư truyền" con đường Mèo Vạc - Bảo Lạc !
Khát nước. Đói. Trời càng ngày càng nắng gắt.

Vượt qua mấy khúc lầy nhầy nhụa bùn từ trên đồi chảy xuống, có chỗ bề mặt khô ráo ngỡ như đất cứng nhưng chỉ cần vô tình bánh xe lọt vào lập tức bùn nhão nhoẹt, ngập gần hết bánh xe. Chúng tôi đi trong một trạng thái nơm nớp như vậy suốt quãng đường dài khoảng 20km.

Qua khỏi khúc cua vách đen nhánh màu than non, tôi phóng vụt lên trước. Vừa nhìn thấy một bản người Nùng thì đường cụt. Đất từ trên sườn đồi lở tràn xuống, ngập hết cả lối đi, bên dưới vực sâu là một con suối đang cuồn cuộn chảy, nước réo ầm ầm. Để đi tránh, người ta làm một con đường nhỏ dẫn thẳng xuống bãi đá cạnh suối, nó bị cắt ra làm mấy khúc vì nước trên đồi xói lở....

Không thể tin nổi mắt mình khi nhìn thấy cả một mảng đồi to sụm xuống và bị dòng nước cuốn trôi, cây cối, đá mồ côi đổ rạp, ngổn ngang. Chứng tích của cơn lũ quét vùng biên ải thật là kinh khủng. Chúng tôi dò dẫm mãi rồi cũng tìm được cách đưa xe xuống bãi. Đứng trước dòng suối, tôi đã nghĩ sẽ cố gắng đưa xe qua bằng cách 2 - 3 anh em đẩy bộ, nhưng khi lội xuống thử, nước chảy xiết đến mức phải nhoài người vào bờ nếu không sẽ bị cuốn phăng lập tức.

Quanh quẩn mãi chưa tìm được cách nào đi qua, trời thì nắng như đổ lửa, cổ họng bắt đầu rát vì khát nước. Mấy cô gái cùng đi thấm mệt nên chui hết vào bụi cây lúp xúp tránh cái nắng gay gắt, khăn che kín hết cả mặt mũi. Bốn anh em chúng tôi lượn lờ chạy chỗ nọ chỗ kia tìm khúc suối hẹp và nước đỡ xiết nhưng cuối cùng đành thua....
Quay lui lúc này thì còn khổ hơn nữa.

Xoạt! Một anh H’Mong trẻ chui từ bụi cây tụt xuống trên sườn đồi, tôi mừng quá:
- Này em! Ở con suối này có đoạn nào nước chảy êm để đưa được xe máy qua?

- Không đâu! Suối sâu lắm à... Cuốn đi mất thôi !
- Em có thể tìm người giúp bọn anh khiêng xe qua suối được không?
Ngắc ngứ và thần mặt ra một lúc. Chắc đang nghĩ?!
- Không khiêng được đâu, sợ lắm....

Chợt tôi bỗng nghĩ tại sao không thuê tre hoặc gỗ bắc cầu nhỉ?! Lòng suối rộng khoảng hơn chục mét, thừa sức bắc cầu nếu như có gỗ hoặc tre luồng. Sau một hồi hỏi thăm, năn nỉ, chúng tôi thuê được tre và gỗ đủ làm cây cầu khỉ để qua suối. Gần 20 người thanh niên, cả nhóm đi xe Mink cùng hò dzo vác đá làm mố, mất một tiếng thì chúng tôi bắc xong cái cầu. Lần lượt từng chiếc xe được dắt qua....

Con đường êm ả được hơn chục km thì lại đến một khúc suối đang làm cầu, những cọc sắt nhọn hoắt nhô lên tua tủa, đường đi qua chỉ rộng đủ 1 người đi bộ, nếu dắt xe phải ngồi lên yên, chạy xe qua thì rất nguy hiểm vì dốc sâu, cái vực để làm mố cầu đầy sắt nhọn tua tủa kia sẵn sàng chọc thủng cả người lẫn xe. Bụng đói chân run, miệng khát khô trong khi bên kia sông Nho Quế nước vẫn chảy ào ào và những ngọn đồi lúp xúp cây cỏ đang muốn héo rũ vì nắng gắt. Chúng tôi đã phải cố hết sức lực còn lại để vượt qua đoạn này. Hơn 10 km nữa thì thấp thoáng một ngã ba sông và cây cầu treo. Đường nhựa đây rồi ! Ngã ba sông Gâm gặp sông Nho Quế đây rồi....

Giờ thì phải lên đường về Cao Bằng. Còn xa lắm nếu muốn có một chỗ nghỉ cho thoải mái cái thân thể đang đau nhừ, mặt thì bỏng rát vì nắng cháy. Con đường lúc này tự dưng như dài kinh khủng, chỗ đẹp chỗ xấu lổn nhổn đá thi nhau hành hạ 6 kẻ lữ khách đang muốn ngã vật ra vì mệt.

Nắng chiều dần khuất sau rặng núi phía Bắc Mê, nóng nực bớt đi rất nhiều nhưng gió thì vẫn mãi lang thang nơi xa tít. Chiều sâm sẩm tối, chúng tôi đặt chân tới thị trấn Bảo Lạc. Phố huyện đang cữ tan chợ, đường bụi mù, nhốn nháo người xe cùng với tiếng ngựa thồ đang dồn nước kiệu.

Nhìn thị trấn miền biên ải với dãy phố khá cũ kỹ, loe hoe mấy căn nhà cao tầng buồn tẻ. Sau một phút hội ý, chúng tôi quyết định đi tiếp về Tĩnh Túc.

Cung đường từ Bảo Lạc về Tĩnh Túc xa, quanh co và khá nguy hiểm bởi có nhiều chỗ, đá tảng trên vách núi rơi thẳng xuống, nằm ngổn ngang mà chưa được công nhân duy tu dọn dẹp. Đường vắng, thi thoảng mới gặp một chiếc xe ô tô hoặc xe máy đi ngược lại. Chiều tối, mặt trời đã khuất hẳn sau dãy núi xanh rì, bóng đêm bắt đầu chạng vạng....

Bốn chiếc xe máy luôn giữ cự ly gần nhau đề phòng có sự trục trặc hoặc gặp chuyện nguy hiểm. Lúc này tôi đã rất mệt, khi vào cua có lúc chiếc xe cào cào cùng hai đứa chúng tôi như muốn đổ vật ra đường. Con đường tối mù, cây cối rậm rịt khắp đồi núi, sương mù lan toả và khí lạnh bắt đầu ngấm vào người.

Cứ nối đuôi nhau vượt quãng đường vắng dài dằng dặc hơn 50km thì cả bọn dừng lại nghỉ bên một cánh đồng ruộng bậc thang, xóm làng người Nùng phía chân đồi lao xao tiếng trẻ con đùa nghịch, tiếng chó sủa và tiếng kèn kẹt của lũy tre. Nghỉ được một lát, chúng tôi bỗng ngửng lên, phía đỉnh núi cao mặt trăng tròn vạnh đang nhô lên toả thứ ánh sáng lung linh huyền ảo xuống khắp những thửa ruộng bậc thang, những nếp nhà sàn và những quả đồi nối nhau trập trùng, ánh trăng lăn tăn trên dòng suối như dát bạc.

Cung đường giờ bỗng đẹp diệu kỳ. Chúng tôi đi qua một con đèo, trước mắt là cả một miền đất mênh mang dưới chân, trăng trên trời sáng vằng vặc soi rõ từng cánh rừng, từng con suối lăn tăn ánh nước chảy, những thửa ruộng bậc thang có những đám cọ xoè lá vươn lên trời, tít xa là đám mây trắng đang bềnh bồng trôi lững lờ, thảng hoặc có đốm sáng đỏ lừ hay vệt đèn pha xe máy thoắt ẩn thoắt hiện trên sườn núi thấp dần về phía Đông. Con đường nhựa loáng hơi nước, bỗng như được dát một lớp bạc mỏng cứ sáng lung linh dưới ánh trăng êm dịu....

Chúng tôi đi trên con đường đang lấp lánh dịu dàng, bên tay trái là những đỉnh núi nhấp nhô, thấp thoáng ẩn hiện trong mây trắng như những đụn bông đùn lên cuồn cuộn. Qua một ngã ba lối rẽ về Bắc Cạn, lúc này con đường xuống dốc, quanh co, vực sâu hút. Bỗng cả nhóm không ai bảo ai dừng tất cả lại. Một biển đèn chi chít như sao sa, lung linh huyền ảo dưới vực sâu thẳm, trên một cái nền đen thẫm của màn đêm. Một cảnh tượng đẹp vô cùng. Đó là thị trấn mỏ Tĩnh Túc.

Ấn tượng của tôi về Tĩnh Túc cho đến giờ là những căn nhà hai tầng tù mù sáng ngọn điện 45w, cả thị trấn là những dãy nhà tập thể. Những căn nhà tập thể của công nhân mỏ có từ rất lâu, cũ kỹ y như những người chúng tôi gặp. Đường từ Tĩnh Túc về Cao Bằng chạy men theo sườn phía Bắc của dãy núi.

Trăng lúc này sáng miên man. Rừng núi im ắng. Gió lạnh mang theo hơi nước ẩm ướt phả vào mặt lạnh toát. Đi được chừng vài chục km chúng tôi ngừng lại ở một bãi đất trống ngả bếp đun café. Dưới kia là một thung lũng huyền ảo trong sương và ánh trăng rằm…..

Còn nhớ, trong ánh trăng vằng vặc, hương thơm café nhè nhẹ lẫn trong mùi rừng và mùi sương đêm là nhạc ghi ta bập bùng, giọng Bằng Kiều cao vút:

Gọi nắng cho cơn mưa chiều, nhiều hoa trắng bay
Cho tay em dài gầy thêm nắng mai…

Nửa khuya, chúng tôi đặt chân đến thị xã Cao Bằng. Phố xá vắng lặng, tàng cây ven đường lao xao gió, những ngọn đèn phố vàng vọt không thể làm lẫn đi hết ánh trăng tỏa sáng, mặt trăng tròn vạnh vẫn đang lung linh trên bầu trời đêm.

Du lịch, GO! - Theo Bùi Quốc Hoàn, Thethao Vanhoa
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...