Cô gái này từng ôm đỉnh Lũng Cú, địa đầu Tổ quốc; từng chiêm ngưỡng những mùa vàng mê hoặc nơi Mù Cang Chải. Nhưng cô ấn tượng nhất là cảm giác khi đứng trên nóc nhà Đông Dương.
< Trên nóc nhà Đông dương.
Teresa Nguyễn cũng bình thường như mọi cô gái khác trong cuộc sống hàng ngày. Có chăng, khát vọng chinh phục 4 cực 1 đỉnh của Tổ quốc Việt Nam yêu dấu của cô có từ khi còn nhỏ là điều đặc biệt nhất ở cô.
Mang trong mình dòng máu phiêu lưu, Teresa thấy Việt Nam mình đẹp từ Lũng Cú Hà Giang cho đến Mù Cang Chải, Yên Bái. Những miền đất của Tổ quốc cô đã lần lượt chinh phục. Nhưng có lẽ giây phút đứng trên nóc nhà của Đông Dương là cảm xúc mà cô gái nhỏ bé này nhớ mãi trong đời. Cô tâm sự như thể mình vừa làm được một điều tuyệt vời trong đời: “vậy là hành trình chinh phục nóc nhà Đông Dương và cực bắc Tổ quốc của Teresa đã hoàn thành”.
Đường lên đỉnh Fan có nhiều cung đường khác nhau nhưng Teresa đã chọn cho mình 1 trong những cung đường khó nhất để đi: Lán Việt Hùng – Sín Chải. Đây là cung đường chưa có trong bản đồ du lịch và chỉ có những porter già kì cựu mới có thể dẫn khách theo cung đường này. Đây cũng là cung đường duy nhất mà có những đoạn hành trình phải leo bằng dây.
Cô đã có một buổi thử nghiệm “leo trèo” và cả “đu dây” ở chuyến đi bộ ở Hàm Lợn để chuẩn bị cho hành trình chinh phục Fanxipang.
“Thời tiết rất thuận lợi trong cả chuyến đi. Cảnh sắc thì không phải nói rồi, quá tuyệt vời. Đến mức dù rất mệt mỏi nhưng khi thấy ống kính chĩa vào thì mình không ngần ngại tạo dáng”, Teresa cười.
Giờ Teresa vẫn còn nhớ như in cảm giác chạm đến đỉnh Fanxipang: Khi còn cách đỉnh tầm 100m thì mình đã nghe thấy tiếng hò hét của những người lên trước đang đứng ở đó.
Cảm giác hưng phấn vô cùng. Mình cảm thấy như được khích lệ tinh thần và chỉ muốn bay thật nhanh dù lúc đó đã mệt lắm rồi.
Lúc nghe tiếng hét mình thấy rất gần, cảm giác chỉ 5 phút nữa là tới nơi nhưng không ngờ phải leo thêm 30 phút nữa mình mới chạm được cột mốc lịch sử. Không từ nào có thể diễn tả chính xác cảm xúc lúc đó ngoài 2 chữ “tuyệt vời”.
Teresa đã từng đứng trên đỉnh Lũng Cú, địa đầu Tổ quốc. Nhưng đây là mái nhà của Đông Dương, ở độ cao 3143 m so với mặt nước biển và cô gần như ngộp thở trước những gì được chứng kiến, xúc động khi được ôm vào người đỉnh tam giác huyền thoại.
Giờ thì mục tiêu tiếp theo của Teresa Nguyễn là cực đông của Tổ quốc – nơi đầu tiên trên đất nước đón ánh mặt trời. Chúng ta hãy cùng chờ những chia sẻ của cô gái bé nhỏ ưa chinh phục này nhé.
Du lịch, GO! - Theo Afamily
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012
Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012
Thăm vùng đất các "Pà"
Người miền xuôi đến huyện Giằng - nay được đổi tên là Nam Giang, một huyện miền núi giáp Lào của Quảng Nam - ai cũng ngạc nhiên khi nghe tên gọi các địa phương ở đây đều bắt đầu với tiếng “Bà” vốn bị đọc chệch từ tiếng “Pà” của người Cơ Tu bản địa.
^ 7-8 giờ sáng sương mù vẫn bao phủ vùng Giằng
Những tên gọi khiến liên tưởng đến phụ nữ: Pà Lanh, Pà Dồn, Pà Păng, Pà Dấu, Pà Ting, Pà Xua, Pà Rồng, Pà Vả... lại là những câu chuyện về một cõi Trường Sơn đặc thù trên các tuyến đường 14, 13 nổi tiếng với những đổi thay thật khó tưởng tượng.
Vùng Trường Sơn của Quảng Nam có tám huyện, địa hình bị chia cắt bởi đỉnh Ngọc Linh cao gần 2.600m. Giằng là vùng núi cao rừng rậm sông sâu, có ba dân tộc Ve, Tà Riềng và Cơ Tu chung sống, quan hệ rất thiết thân với vùng đồng bằng kề dưới.
Từ Đà Nẵng đi ngã ba Hòa Cầm, theo quốc lộ 14B, vượt khoảng 60km là đến cầu vượt Hà Nha, từ đây khách bắt đầu chạm mặt sự hùng vĩ của Trường Sơn với điệp trùng núi cao vây bủa, kề đường đi là dòng Vu Gia mông mênh. Thị trấn Thạnh Mỹ cách Hà Nha chừng 15km là “thủ phủ” của Giằng, nhưng thật ra huyện Đại Lộc lâu nay được coi là cửa ngõ của Giằng với hai xã Đại Sơn, Đại Hồng là cổng vào.
Chuyện xưa
< Ông già người Cơ Tu ở làng Pà Vả, xã Ta Bhing vót mây đan gùi bán cho du khách đến thăm làng.
Dù địa danh Nam Giang đã có vài năm nay nhưng Giằng vẫn là tên gọi cửa miệng của nhiều người bởi gốc rễ lâu đời của nó. Bến Giằng - nơi xuất phát tên gọi ấy - là bến đò sát quốc lộ 14, đưa người vượt sông Thanh đến các xã Tà Bhing, Tà Pơơ, Chaval, Zuôih và các xã biên giới Dăk-pre, Dăk-pring, La Dêê, La Êê, Chơ-chun.
Ông Nguyễn Tri Hùng, cán bộ Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam, người am hiểu văn hóa Cơ Tu, cho biết: “Chỗ bến đò Giằng là nơi sông Rô từ huyện Phước Sơn chảy xuống hợp nước với sông Thanh từ phía Tà Bhing chảy ra. Ngay chỗ hai sông gặp nhau nước rất mạnh, lại bị một quả núi chắn ngang nên nước xoáy cuộn vòng như cái giằng xay (của cối xay lúa). Khách thương hồ đi bằng ghe nhỏ từ Đại Lộc đến đây thấy vậy đặt tên là Giằng Xoay, lâu ngày gọi tắt là Giằng, gọi tên bến là bến Giằng”.
Giằng xưa là vùng ma thiêng nước độc, heo hút, hiểm trở mà nỗi ám ảnh truyền đời của cư dân bản địa là đói muối ăn, thiếu rựa làm rẫy. Những ghe nhỏ của người Kinh từ huyện Đại Lộc luồn theo sông Cái đến bến Giằng để bán hai nhu yếu phẩm này. Quốc lộ 14 nay là đường Hồ Chí Minh, đoạn ngang qua đất Giằng, theo lời ông Đinh Ghinh, một cán bộ lão thành người Cơ Tu, hóa ra được người Pháp khởi công từ những năm 1936-1937.
“Người Kinh dưới đồng bằng cùng với đồng bào thiểu số ở đây bị Pháp bắt đi làm công, gọi là “xâu Giằng”, cực khổ trăm phần. Nỗi thống khổ của người làm xâu Giằng đã khiến chàng trai Cơ Tu Tr’gia ở làng Dh’ngoh, xã La Êê đứng lên gọi lũ làng chống lại. Tr’gia dùng ná bắn bị thương tên chỉ huy Pháp Lơ Pi-sông (Le Pichon) ở eo núi Con-cơ-neng khi y đưa quân đến bắt dân La Êê đi xâu hồi năm 1938...” - ông Ghinh kể.
< Cổng huyện.
Đất Giằng ma thiêng nước độc nhưng rất giàu vàng. Ông Ghinh nói ngoài các đồn Bến Giằng, Bót Xít, người Pháp còn lập đồn Khe Lăng ở tận xã Zuôih để bảo trợ việc khai thác vàng trong khu vực. “Thời đó người làm vàng nơi các con sông, con khe ở đây đều là người Morocco, Tunisia, Algeria, một ít là người dân tộc ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk. Người Pháp lập hẳn một đội vận chuyển bằng voi, do người bản địa phụ trách, chuyên lo vận chuyển lương thực, vật dụng phục vụ việc đãi vàng, cho binh lính ở đồn...”, ông Ghinh kể.
Những năm 1980-1990, người miền xuôi đổ xô đến Giằng khai thác vàng sa khoáng đã ngẩn người khi bắt gặp dấu tích đào đãi vàng từ trước! Vàng sa khoáng nhiều đến mức họ không cần đào, chỉ cần mót lại những bãi này.
Ngang dọc đường Giằng
< Cầu Bến Giằng thay đò Bến Giằng, là nơi khởi đầu đường 14D, nối đường 14 - tức đường Hồ Chí Minh (có những vệt sơn) với cửa khẩu La Dêê (ở hướng những dãy núi phía trước).
7g sáng, trời bớt sương mù, tôi dong xe theo quốc lộ 14D đến cửa khẩu Đăk Ôốc ở xã La Dêê, vượt 75km đường nhựa chỉ sau hơn hai giờ. Hầu như không còn dấu vết nhà sàn ở những làng Pà Ting, Pà Ia, Pà Xua, Pà Vả, Pà Lừa... dọc theo đường, chỉ có nhà mái ngói, mái tôn. Nơi xa ngút nay đã sáng ánh điện. Xe máy có khắp các bản làng. Sóng điện thoại cũng được phủ đến vùng biên ải. Ngoài cửa hàng thương mại cửa khẩu, quán xá ở khắp nơi.
Núi rừng Giằng heo hút từng là nơi mang đến cơm áo, cơ vận đổi đời cho người miền xuôi khắp ba miền khi họ khám phá những dòng sông vàng, những dãy núi trầm ở đây vài chục năm trước. Nước mắt mồ hôi và cả máu của hàng vạn người tứ xứ đã đổ xuống đây. Nhưng đường 14D đã làm thay đổi một vùng rừng núi thâm u.
Dừng chiếc xe tải bên cầu khe Vinh, nơi từng nổi tiếng vì vàng sa khoáng, một người ở Đại Lộc trước đây làm trầm nói: “Cung đường trước đây bọn tui phải đi hai, ba ngày ròng nay chỉ còn vài giờ chạy xe. Người làm trầm làm vàng khi xưa giờ đến lại vùng này không ai có thể nhận ra cảnh vật ở đây”. Ngày ấy, những “binh đoàn” vàng - trầm đổ đến cơ hồ làm rung rinh rừng núi, có lúc va chạm đẫm máu với cư dân bản địa.
< Cầu treo (Huyện Nam Giang).
Thị trấn Thạnh Mỹ cách bến Giằng chừng 13km từng là nơi tụ hội của những “đội quân” trầm - vàng ngày trước nay đã lột xác với đường hai chiều xe, là điểm dừng của nhiều xe khách Bắc - Nam. Qua cầu Thạnh Mỹ, cũng trên quốc lộ 14 - đường Hồ Chí Minh, chỉ hơn nửa giờ sau tôi đã đứng bên cầu sông Bung, một vọng đài nhìn ra bốn bề đại ngàn. Rừng nguyên sinh ở đây nhìn không hết mắt, mây che trắng mờ đỉnh núi, cảnh trí tuyệt đẹp.
Ông Đinh Ghinh kể rằng những năm Pháp bắt xâu Giằng, cư dân vùng La Êê, La Dêê không thể xuống bến Giằng, phải cắt rừng theo sông Bung để đến Hà Nha mua muối mua rựa, đi - về mất sáu, bảy ngày, cực khổ vô cùng. Lối đi này cũng đã được những người làm trầm làm vàng trước đây lặp lại để tránh các ngành chức năng.
Đường Hồ Chí Minh đoạn Thạnh Mỹ - Axờ được khai mở đã nối liền Giằng với quốc lộ 49 ở Thừa Thiên - Huế nếu vượt cầu Sông Bung rồi đi tiếp đến B’rao, đến A Lưới; nối vào quốc lộ 9 ở Quảng Trị nếu từ A Lưới đi tiếp đến
Đăk-prông. Nhưng đến Giằng cũng nên đến làng Rô, làng Ngói nằm sát bên đường để xem làng, xem con sông Rô “xẻ đá ra mà chảy” như lời những chủ quán ở Thạnh Mỹ bảo tôi. Ngói và Rô đều ở xã Cà Dy gần cầu Xơi - do nơi đây cọp thường ra rình bắt người “xơi” nên người ta mới đặt tên cầu như vậy.
Làng Ngói, theo lời ông Alăng Nhơn, cán bộ hưu trí người Cơ Tu, cũng có tên là Pà La, “ngói” theo tiếng Cơ Tu là con trâu, bởi ngày trước làng này nuôi rất nhiều trâu. Còn làng Rô, không rõ sông Rô lấy theo tên làng hay làng lấy theo tên sông, nhưng theo ông Alăng Nhơn, làng Rô cũng có tên là Pà Giá, dân làng từ vùng biên giới đã dời xuống đây sinh sống từ thời Pháp thuộc.
< Chị Un Thị Gió, dân tộc Ve ở xã vùng biên Đăk-pre, lấy chồng về làng Pà Ting, dệt thổ cẩm để bán cho du khách ngang qua làng.
Tháng 3-1942, khi nhà thơ Tố Hữu vượt ngục Đăk Glei đến đây đã được dân làng Rô che chở và tìm cách đưa ông vượt đồn Bến Giằng đến nơi an toàn, để rồi nhà thơ đã viết những câu: Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi/Cao cao đỉnh núi chiếc nôi đại bàng/Trăm năm ta nhớ ơn làng/Cánh tay che chở bước đường gian nguy. Phía trên làng Rô, làng Ngói một quãng không xa là thị trấn Khâm Đức, trạm của dân làm vàng, nơi tiếp giáp với Đăk Glei, có dãy Ngọc Linh - nóc nhà chung của hai tỉnh Quảng Nam - Kon Tum.
Trên những nẻo đường Giằng, người Cơ Tu bày bán trái lòn bon vốn chỉ được trồng ở đồng bằng. Chợt nhớ lại chuyện quân Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn vây ở rừng tây Quảng Nam đã nhờ trái lòn bon qua cơn đói kiệt, sau này Nguyễn Ánh đã đặt tên cho loại quả rừng này là “nam trân”. Theo những người làm vàng ở Thạnh Mỹ, ở khe Vinh lòn bon mọc dày thành rừng. Anh Zơrâm Thực, cán bộ xã Tà Bhing, cho biết vài năm gần đây cư dân trong huyện đã đưa lòn bon trồng ở vườn nhà.
< Nhà gươl - đình làng của người Cơ Tu ở Pà Rồng, xã Tà Bhing.
Hạnh phúc nhất với người dân vùng đại ngàn Trường Sơn là nay họ có được xe máy thay cho đôi chân vượt dốc. Họ bảo: “Vài năm nữa đường Đông Trường Sơn làm xong sẽ nối Thạnh Mỹ mình với Đà Lạt. Thêm con đường này Nam Giang mình như thêm tay thêm chân ra đó...”. Và nguồn đá vôi ở núi rừng Thạnh Mỹ rồi sẽ vào lò để thành ximăng trong hai năm tới khi nhà máy ximăng công suất lớn đang được xây dựng ở thôn Đồng Râm.
Ở phía trên, cư dân làng Pà Lừa tăm tối năm xưa giờ đang vào làng mới để làm thủy điện sông Bung. Ở các làng Pà Ting, Pà Đâng, Pà Ia bên dưới người dân cũng nao nức bên con đường đang được xây dựng để vào thác Grăng - một dự án du lịch có vốn từ Nhật...

< Một góc thị trấn Thạnh Mỹ của huyện Nam Giang trên đường 14, từ đây qua cầu Thạnh Mỹ trên hành trình đường Hồ Chí Minh ra phía Bắc, đi thẳng là đường 14B đến Đà Nẵng.
Vùng đất Nam Giang - Giằng đang được đánh thức.
“Tiếng Pà - thật ra là Pa vì tiếng Cơ Tu không dấu nhưng đọc theo người Kinh lâu thành quen là Pà - chỉ là tiếng đệm mà người Cơ Tu vùng Giằng thường dùng với một từ đứng sau để đặt gọi tên làng. Cũng như một số danh từ riêng chỉ địa danh của người Kinh không thể định nghĩa được, chữ Pà dùng trong tên làng ở đây cũng không giải nghĩa được”.
Du lịch, GO! - Theo TTCT, internet
Điền Gia Dũng: Đây là một nơi bọn mình sẽ ghé trong chuyến đi sắp đến, mình mong rằng mọi sự bình yên cho cả người bản địa cùng "khách lạ".
^ 7-8 giờ sáng sương mù vẫn bao phủ vùng Giằng
Những tên gọi khiến liên tưởng đến phụ nữ: Pà Lanh, Pà Dồn, Pà Păng, Pà Dấu, Pà Ting, Pà Xua, Pà Rồng, Pà Vả... lại là những câu chuyện về một cõi Trường Sơn đặc thù trên các tuyến đường 14, 13 nổi tiếng với những đổi thay thật khó tưởng tượng.
Vùng Trường Sơn của Quảng Nam có tám huyện, địa hình bị chia cắt bởi đỉnh Ngọc Linh cao gần 2.600m. Giằng là vùng núi cao rừng rậm sông sâu, có ba dân tộc Ve, Tà Riềng và Cơ Tu chung sống, quan hệ rất thiết thân với vùng đồng bằng kề dưới.
Từ Đà Nẵng đi ngã ba Hòa Cầm, theo quốc lộ 14B, vượt khoảng 60km là đến cầu vượt Hà Nha, từ đây khách bắt đầu chạm mặt sự hùng vĩ của Trường Sơn với điệp trùng núi cao vây bủa, kề đường đi là dòng Vu Gia mông mênh. Thị trấn Thạnh Mỹ cách Hà Nha chừng 15km là “thủ phủ” của Giằng, nhưng thật ra huyện Đại Lộc lâu nay được coi là cửa ngõ của Giằng với hai xã Đại Sơn, Đại Hồng là cổng vào.
Chuyện xưa
< Ông già người Cơ Tu ở làng Pà Vả, xã Ta Bhing vót mây đan gùi bán cho du khách đến thăm làng.
Dù địa danh Nam Giang đã có vài năm nay nhưng Giằng vẫn là tên gọi cửa miệng của nhiều người bởi gốc rễ lâu đời của nó. Bến Giằng - nơi xuất phát tên gọi ấy - là bến đò sát quốc lộ 14, đưa người vượt sông Thanh đến các xã Tà Bhing, Tà Pơơ, Chaval, Zuôih và các xã biên giới Dăk-pre, Dăk-pring, La Dêê, La Êê, Chơ-chun.
Ông Nguyễn Tri Hùng, cán bộ Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam, người am hiểu văn hóa Cơ Tu, cho biết: “Chỗ bến đò Giằng là nơi sông Rô từ huyện Phước Sơn chảy xuống hợp nước với sông Thanh từ phía Tà Bhing chảy ra. Ngay chỗ hai sông gặp nhau nước rất mạnh, lại bị một quả núi chắn ngang nên nước xoáy cuộn vòng như cái giằng xay (của cối xay lúa). Khách thương hồ đi bằng ghe nhỏ từ Đại Lộc đến đây thấy vậy đặt tên là Giằng Xoay, lâu ngày gọi tắt là Giằng, gọi tên bến là bến Giằng”.
Giằng xưa là vùng ma thiêng nước độc, heo hút, hiểm trở mà nỗi ám ảnh truyền đời của cư dân bản địa là đói muối ăn, thiếu rựa làm rẫy. Những ghe nhỏ của người Kinh từ huyện Đại Lộc luồn theo sông Cái đến bến Giằng để bán hai nhu yếu phẩm này. Quốc lộ 14 nay là đường Hồ Chí Minh, đoạn ngang qua đất Giằng, theo lời ông Đinh Ghinh, một cán bộ lão thành người Cơ Tu, hóa ra được người Pháp khởi công từ những năm 1936-1937.
“Người Kinh dưới đồng bằng cùng với đồng bào thiểu số ở đây bị Pháp bắt đi làm công, gọi là “xâu Giằng”, cực khổ trăm phần. Nỗi thống khổ của người làm xâu Giằng đã khiến chàng trai Cơ Tu Tr’gia ở làng Dh’ngoh, xã La Êê đứng lên gọi lũ làng chống lại. Tr’gia dùng ná bắn bị thương tên chỉ huy Pháp Lơ Pi-sông (Le Pichon) ở eo núi Con-cơ-neng khi y đưa quân đến bắt dân La Êê đi xâu hồi năm 1938...” - ông Ghinh kể.
< Cổng huyện.
Đất Giằng ma thiêng nước độc nhưng rất giàu vàng. Ông Ghinh nói ngoài các đồn Bến Giằng, Bót Xít, người Pháp còn lập đồn Khe Lăng ở tận xã Zuôih để bảo trợ việc khai thác vàng trong khu vực. “Thời đó người làm vàng nơi các con sông, con khe ở đây đều là người Morocco, Tunisia, Algeria, một ít là người dân tộc ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk. Người Pháp lập hẳn một đội vận chuyển bằng voi, do người bản địa phụ trách, chuyên lo vận chuyển lương thực, vật dụng phục vụ việc đãi vàng, cho binh lính ở đồn...”, ông Ghinh kể.
Những năm 1980-1990, người miền xuôi đổ xô đến Giằng khai thác vàng sa khoáng đã ngẩn người khi bắt gặp dấu tích đào đãi vàng từ trước! Vàng sa khoáng nhiều đến mức họ không cần đào, chỉ cần mót lại những bãi này.
Ngang dọc đường Giằng
< Cầu Bến Giằng thay đò Bến Giằng, là nơi khởi đầu đường 14D, nối đường 14 - tức đường Hồ Chí Minh (có những vệt sơn) với cửa khẩu La Dêê (ở hướng những dãy núi phía trước).
7g sáng, trời bớt sương mù, tôi dong xe theo quốc lộ 14D đến cửa khẩu Đăk Ôốc ở xã La Dêê, vượt 75km đường nhựa chỉ sau hơn hai giờ. Hầu như không còn dấu vết nhà sàn ở những làng Pà Ting, Pà Ia, Pà Xua, Pà Vả, Pà Lừa... dọc theo đường, chỉ có nhà mái ngói, mái tôn. Nơi xa ngút nay đã sáng ánh điện. Xe máy có khắp các bản làng. Sóng điện thoại cũng được phủ đến vùng biên ải. Ngoài cửa hàng thương mại cửa khẩu, quán xá ở khắp nơi.
Núi rừng Giằng heo hút từng là nơi mang đến cơm áo, cơ vận đổi đời cho người miền xuôi khắp ba miền khi họ khám phá những dòng sông vàng, những dãy núi trầm ở đây vài chục năm trước. Nước mắt mồ hôi và cả máu của hàng vạn người tứ xứ đã đổ xuống đây. Nhưng đường 14D đã làm thay đổi một vùng rừng núi thâm u.
Dừng chiếc xe tải bên cầu khe Vinh, nơi từng nổi tiếng vì vàng sa khoáng, một người ở Đại Lộc trước đây làm trầm nói: “Cung đường trước đây bọn tui phải đi hai, ba ngày ròng nay chỉ còn vài giờ chạy xe. Người làm trầm làm vàng khi xưa giờ đến lại vùng này không ai có thể nhận ra cảnh vật ở đây”. Ngày ấy, những “binh đoàn” vàng - trầm đổ đến cơ hồ làm rung rinh rừng núi, có lúc va chạm đẫm máu với cư dân bản địa.
< Cầu treo (Huyện Nam Giang).
Thị trấn Thạnh Mỹ cách bến Giằng chừng 13km từng là nơi tụ hội của những “đội quân” trầm - vàng ngày trước nay đã lột xác với đường hai chiều xe, là điểm dừng của nhiều xe khách Bắc - Nam. Qua cầu Thạnh Mỹ, cũng trên quốc lộ 14 - đường Hồ Chí Minh, chỉ hơn nửa giờ sau tôi đã đứng bên cầu sông Bung, một vọng đài nhìn ra bốn bề đại ngàn. Rừng nguyên sinh ở đây nhìn không hết mắt, mây che trắng mờ đỉnh núi, cảnh trí tuyệt đẹp.
Ông Đinh Ghinh kể rằng những năm Pháp bắt xâu Giằng, cư dân vùng La Êê, La Dêê không thể xuống bến Giằng, phải cắt rừng theo sông Bung để đến Hà Nha mua muối mua rựa, đi - về mất sáu, bảy ngày, cực khổ vô cùng. Lối đi này cũng đã được những người làm trầm làm vàng trước đây lặp lại để tránh các ngành chức năng.
Đường Hồ Chí Minh đoạn Thạnh Mỹ - Axờ được khai mở đã nối liền Giằng với quốc lộ 49 ở Thừa Thiên - Huế nếu vượt cầu Sông Bung rồi đi tiếp đến B’rao, đến A Lưới; nối vào quốc lộ 9 ở Quảng Trị nếu từ A Lưới đi tiếp đến
Đăk-prông. Nhưng đến Giằng cũng nên đến làng Rô, làng Ngói nằm sát bên đường để xem làng, xem con sông Rô “xẻ đá ra mà chảy” như lời những chủ quán ở Thạnh Mỹ bảo tôi. Ngói và Rô đều ở xã Cà Dy gần cầu Xơi - do nơi đây cọp thường ra rình bắt người “xơi” nên người ta mới đặt tên cầu như vậy.
Làng Ngói, theo lời ông Alăng Nhơn, cán bộ hưu trí người Cơ Tu, cũng có tên là Pà La, “ngói” theo tiếng Cơ Tu là con trâu, bởi ngày trước làng này nuôi rất nhiều trâu. Còn làng Rô, không rõ sông Rô lấy theo tên làng hay làng lấy theo tên sông, nhưng theo ông Alăng Nhơn, làng Rô cũng có tên là Pà Giá, dân làng từ vùng biên giới đã dời xuống đây sinh sống từ thời Pháp thuộc.
< Chị Un Thị Gió, dân tộc Ve ở xã vùng biên Đăk-pre, lấy chồng về làng Pà Ting, dệt thổ cẩm để bán cho du khách ngang qua làng.
Tháng 3-1942, khi nhà thơ Tố Hữu vượt ngục Đăk Glei đến đây đã được dân làng Rô che chở và tìm cách đưa ông vượt đồn Bến Giằng đến nơi an toàn, để rồi nhà thơ đã viết những câu: Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi/Cao cao đỉnh núi chiếc nôi đại bàng/Trăm năm ta nhớ ơn làng/Cánh tay che chở bước đường gian nguy. Phía trên làng Rô, làng Ngói một quãng không xa là thị trấn Khâm Đức, trạm của dân làm vàng, nơi tiếp giáp với Đăk Glei, có dãy Ngọc Linh - nóc nhà chung của hai tỉnh Quảng Nam - Kon Tum.
Trên những nẻo đường Giằng, người Cơ Tu bày bán trái lòn bon vốn chỉ được trồng ở đồng bằng. Chợt nhớ lại chuyện quân Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn vây ở rừng tây Quảng Nam đã nhờ trái lòn bon qua cơn đói kiệt, sau này Nguyễn Ánh đã đặt tên cho loại quả rừng này là “nam trân”. Theo những người làm vàng ở Thạnh Mỹ, ở khe Vinh lòn bon mọc dày thành rừng. Anh Zơrâm Thực, cán bộ xã Tà Bhing, cho biết vài năm gần đây cư dân trong huyện đã đưa lòn bon trồng ở vườn nhà.
< Nhà gươl - đình làng của người Cơ Tu ở Pà Rồng, xã Tà Bhing.
Hạnh phúc nhất với người dân vùng đại ngàn Trường Sơn là nay họ có được xe máy thay cho đôi chân vượt dốc. Họ bảo: “Vài năm nữa đường Đông Trường Sơn làm xong sẽ nối Thạnh Mỹ mình với Đà Lạt. Thêm con đường này Nam Giang mình như thêm tay thêm chân ra đó...”. Và nguồn đá vôi ở núi rừng Thạnh Mỹ rồi sẽ vào lò để thành ximăng trong hai năm tới khi nhà máy ximăng công suất lớn đang được xây dựng ở thôn Đồng Râm.
Ở phía trên, cư dân làng Pà Lừa tăm tối năm xưa giờ đang vào làng mới để làm thủy điện sông Bung. Ở các làng Pà Ting, Pà Đâng, Pà Ia bên dưới người dân cũng nao nức bên con đường đang được xây dựng để vào thác Grăng - một dự án du lịch có vốn từ Nhật...

< Một góc thị trấn Thạnh Mỹ của huyện Nam Giang trên đường 14, từ đây qua cầu Thạnh Mỹ trên hành trình đường Hồ Chí Minh ra phía Bắc, đi thẳng là đường 14B đến Đà Nẵng.
Vùng đất Nam Giang - Giằng đang được đánh thức.
“Tiếng Pà - thật ra là Pa vì tiếng Cơ Tu không dấu nhưng đọc theo người Kinh lâu thành quen là Pà - chỉ là tiếng đệm mà người Cơ Tu vùng Giằng thường dùng với một từ đứng sau để đặt gọi tên làng. Cũng như một số danh từ riêng chỉ địa danh của người Kinh không thể định nghĩa được, chữ Pà dùng trong tên làng ở đây cũng không giải nghĩa được”.
Du lịch, GO! - Theo TTCT, internet
Điền Gia Dũng: Đây là một nơi bọn mình sẽ ghé trong chuyến đi sắp đến, mình mong rằng mọi sự bình yên cho cả người bản địa cùng "khách lạ".
Sống với sóng
Ở Lý Sơn tôi chợt nghiệm ra một điều. Thiên nhiên – trong đó có cả biển, bao giờ cũng hành xử công bằng. Có thể lấy đi tất cả, nhưng cũng lại hào phóng dâng tặng những hương vị nồng nàn vốn có, nếu như ta tâm huyết với nó!
Sau khoảng gần 1 giờ bồng bềnh trên những con sóng giữa làn nước bát ngát xanh, chuyến tầu cao tốc từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) đưa chúng tôi đến với huyện đảo Lý Sơn.
Tàu vừa kéo còi cập bến, mới chỉ nhìn nhọ mặt người đang vẫy tay trên đảo tất cả chúng tôi như biến thành những con người khác. Cơn mệt mỏi vì say sóng vụt tan biến. Ai cũng háo hức với những bước chân đầu tiên trên mảnh đất đầy sóng gió. Giữ đại dương mênh mông xanh biếc, Lý Sơn nổi lên với những vòm cây xanh của sự sống. Nhìn kỹ còn có cả cổng chào, băng khẩu hiệu, cờ bay phấp phới.
Ngồi trên thuyền, nhìn xuống đáy biển mà reo lên như trẻ nhỏ. Qua làn nước trong như pha lê, cả một thế giới thủy cung hiện ra rõ mồn một như một thước phim màu. Những chú cá to, nhỏ màu sắc khác nhau lao vun vút. Những chú tôm mực kềnh càng, rồi ốc cừ la liệt như nằm ngủ…
Tàu cập bến. Người dân huyện ùa ra đón đoàn. Dưới nắng trưa chói chang, những nụ cười lóa nắng nở trên những gương mặt nâu đen sạm đang dãn ra vì niềm vui. Họ nồng nhiệt giành mang giúp chúng tôi hành lý về nơi nghỉ đã chờ sẵn.
Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn có dáng người roi rói, tác phong điềm đạm nho nhã nhưng vẫn có phần quyết liệt. Chắc dáng vóc dáng này từ ngày xưa vẫn thế - chả hiểu sao tôi lại nghĩ thế. Anh không tâm sự nhiều về thế mạnh của đảo mà chỉ buồn về tình hình trật tự an toàn xã hội của đảo. Hóa ra từ đầu năm đến giờ trên đảo tăng những 6 vụ so với năm ngoái. Tôi hoảng. Rồi bật cười khi biết 6 tháng năm 2010 còn không xảy ra vụ nào. Chủ tịch huyện Lý Sơn thì vẫn dí dủm: “đấy, diện tích đảo chỉ có thế (vỏn vẹn 10km2), mời nhà báo cứ đi thực tế tìm hiểu”.
Những bước chân đầu tiên bao giờ cũng thế, luôn mang lại những cảm giác mới lạ. Đi về hướng nào cũng vậy, chỉ một lát lại thấy biển. Mỗi bước chân đặt trên đất ông bà đều cháy bỏng ý thức hy sinh vô bờ bến vì sự nghiệp giữ gìn biên cương và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước Đại Việt kể từ khi người Việt định cư ở phủ Tư Nghĩa, nay là tỉnh Quảng Ngãi. Dưới thời các chúa Nguyễn quần đảo Hoàng Sa trực thuộc quản lý hành chính của Thừa tuyên Quảng Nam - dưới danh nghĩa nhà Lê; về sau thuộc phủ Quảng Nghĩa.
Đầu thế kỷ XVII các bậc tiền hiền hai xã An Vĩnh và An Hải, ở phía bắc cửa Sa Kỳ, đưa dân di cư ra Cù Lao Ré khai canh hai phường An Vĩnh và An Hải. Có lẽ thế mà biên chế của đội Hoàng Sa chủ yếu được tuyển chọn ở đây, các chúa Nguyễn, vua Nguyễn chọn Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) làm điểm xuất phát của đội Hoàng Sa là hợp lý nhất.
Chưa thấy hòn đảo nào mà mật độ di tích lịch sử, văn hóa đậm đặc như ở Lý Sơn. Đó là Âm Linh Tự với bia “Chiến sĩ trận vong” là nơi thờ tự những người lính ngày trước đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ngoài Hoàng Sa.
Là đình An Vĩnh là điểm xuất phát của Đội Hoàng Sa. Ngoài ra còn có đình An Vĩnh và An Hải, ngoài việc làm nơi thờ cúng của cư dân trên đảo, hai ngôi đền này, với kiểu kiến trúc độc đáo của nó, còn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa qua cách chạm khắc vừa Chăm, vừa Việt. Rồi chùa Hang, chùa Đục, hang Câu, miếu bà Chúa Ngọc... Ông cha ta quả dày công và rất mực khôn ngoan khi cắm trải đậm đặc những di tích cổ truyền ở rẻo đất này.
Trong gần ba thế kỷ, hòn đảo nhỏ giữa đại dương đã dâng hiến nhiều trai tráng của mình cho các suất đội Hoàng Sa thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Chiều. Cũng là lúc tình cờ mà tôi gặp Phạm Văn Thắm, một thanh niên gốc mấy đời ở Lý Sơn. Cuộc đời có nhiều điều thật ngộ.
Thắm biết tất cả mọi thứ về Lý Sơn nhưng lại không biết… bơi - cái điều mà dân biển đương nhiên phải biết. Hóa ra anh đã có thời gian dài về TP HCM học công nghệ thông tin rồi quay lại đảo để mạnh dạn mở một quán Internet. Nguồn điện phải chạy bằng máy phát điện. Anh tâm sự:
- Bươn chải mãi, giờ mới thấy chẳng đâu bằng quê nhà – no đói đều trông vào mẹ biển.
Tôi hiểu nỗi niềm anh. Bởi chả đâu xa, các cụ nhà anh cũng là những người tham gia vào đội dân binh Hoàng Sa ngày nào. Họ ra biển bảo vệ chủ quyền để lại trên bờ ngôi mộ gió và cả sự ngưỡng mộ vô cùng với đời sau. Thế mới có những câu ca bi tráng: Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về; Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây… Và chắc hẳn như thế rồi – đời nối đời – dân Lý Sơn kiên trung bám đất bám biển. Không chỉ vì miếng cơm manh áo đời mình mà còn vì cơ nghiệp tổ tông và chủ quyền đất nước.
Sau buổi nhậu đêm từ nhà Thắm về biết là muộn những tôi vẫn xin phép được đi bộ về nơi ngủ. Những bước chân vô định, lần theo con đường ngả nghiêng trong gió biển mặn mòi. Mùa này biển như sáng hơn và trời như cao hơn. Thi thoảng lại gặp một chú cua từ biển lên nghênh ngang bò. Thiên nhiên quả thực đã ưu ái cho Lý Sơn. Thế mới hiểu, tại sao cái đảo bé nhỏ Lý Sơn với diện tích chỉ non 10 km vuông mà vòng tay ôm trọn gần 21 ngàn người.
************
Mới sáng ra mà nắng đã chói chang. Cả khu vực cầu cảng mặn mòi mùi tôm cá và ngào ngạt hương vị biển trong cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền. Mọi người xúm lại gỡ lưới. Cá mắt đen nhánh. Tôm thuyền mắt như ngọc bích, hai hàng chân khua khua như mái chèo. Ghẹ vẫn dựng đứng hai mắt, cẳng khua lạo rao.
Vừa rảo tay gỡ lưới một ngư dân trẻ vừa tiếp chuyện tôi. Tôi không nghĩ dân biển hay chuyện đến thế. Mãi sau mới hiểu chả là đêm canh lưới giữa biển khơi chỉ mong người tiếp chuyện. Những đêm ở ngoài khơi không có sóng mà chỉ yên ả, lặng phắt. Cả đêm ngồi như thế. Có lấy một lần di động reo thì mừng quá – hóa ra lại là cuộc gọi lỡ. Sóng điện thoại ra tận đấy ư? Tôi hỏi mà không ngờ người tự hào lại chính là anh dân bản địa: “Chứ còn sao nữa!”.
Bên cạnh hành tỏi, nhờ biển mà những người con làng vạn chài Lý Sơn lớn lên những biển cũng rất nghiệt ngã và bạc bẽo… những người đàn ông làng chài, sống chết cũng chẳng biết đâu mà lường. Nhiều người đã bỏ mạng ngoài biển cả vì lốc xoáy. Ngay đầu năm nay thôi, tàu do ông Lê Minh Tân (thôn Đông – xã An Vĩnh) cùng 6 ngư dân đi khai thác rau chân vịt tại vùng biển Hoàng Sa đã mất tích do biển động. Giờ lại thêm nỗi lo “tàu lạ”.
Cho đến giờ, chiều chiều vẫn có những người đàn bà đứng ở đầu ghềnh nhìn ra biển. Có người mất con, mất chồng còn chạy như điên dại dưới bãi cát, trong tiếng sóng chồm, gió hú đến rợn người.
Là nói vậy thôi chứ từ chủ tịch đến dân ai ai cũng với giọng đặc sệt Quảng Ngãi, âm nọ tiếp âm kia, âm nào cũng như dao chém vào đá đều quyết tâm bám biển, bám giữ ngư trường để khẳng định chủ quyền lãnh hải. Và như một quy luật tự nhiên, tại nơi đây, hầu hết trai tráng trở thành ngư dân và đàn bà ở nhà trồng tỏi.
Thì cũng biết nguồn lợi rất lớn từ những chuyến biển xa, nhưng cũng phải có một tình yêu quê biển từ trong máu, người Lý Sơn mới chắc tay lưới trên vùng lãnh hải thiên liêng của tổ quốc đến thế.
Chuyến hành trình của chúng tôi bị rút ngắn lại, theo lệnh của trường đoàn: phải vào bờ ngay để tránh cơn bão đang sầm sập đổ. Bên cầu tầu, đoạn nhoai về đất liền, vẫn những con người quả cảm và hồn hậu ấy tiễn chúng tôi ra tận bến. Chia tay tôi, Thắm cứ nắm chặt như chẳng muốn rời. Bàn tay chàng trai thư sinh nhất Lý Sơn ấy cũng vẫn chắc như gọng kìm và đôi mắt quắc lên ngời ngợi…
Tôi im lặng bởi lát nữa thôi sẽ trở về đất liền. Trong đầu tôi toàn là những "câu hỏi lớn không lời đáp" (thơ Huy Cận). Và bỗng nhận ra vì sao mỗi lần tới một bờ biển nào đó, bước chân tôi lại rụt rè...
Gần cầu tàu, sau bao năm sóng gió, đến nay, người ta vẫn thấy rất nhiều cây bàng vuông. Lại gần thì thấy: Trên mình nó còn loang lổ hằng hà những phong ba bão táp. Nhưng chúng vẫn hiên ngang. Rồi sóng. Rồi gió. Rồi vẫn là sự trường tồn với thời gian.
Du lịch, GO! - Theo Tuanvietnam, internet
Sau khoảng gần 1 giờ bồng bềnh trên những con sóng giữa làn nước bát ngát xanh, chuyến tầu cao tốc từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) đưa chúng tôi đến với huyện đảo Lý Sơn.
Tàu vừa kéo còi cập bến, mới chỉ nhìn nhọ mặt người đang vẫy tay trên đảo tất cả chúng tôi như biến thành những con người khác. Cơn mệt mỏi vì say sóng vụt tan biến. Ai cũng háo hức với những bước chân đầu tiên trên mảnh đất đầy sóng gió. Giữ đại dương mênh mông xanh biếc, Lý Sơn nổi lên với những vòm cây xanh của sự sống. Nhìn kỹ còn có cả cổng chào, băng khẩu hiệu, cờ bay phấp phới.
Ngồi trên thuyền, nhìn xuống đáy biển mà reo lên như trẻ nhỏ. Qua làn nước trong như pha lê, cả một thế giới thủy cung hiện ra rõ mồn một như một thước phim màu. Những chú cá to, nhỏ màu sắc khác nhau lao vun vút. Những chú tôm mực kềnh càng, rồi ốc cừ la liệt như nằm ngủ…
Tàu cập bến. Người dân huyện ùa ra đón đoàn. Dưới nắng trưa chói chang, những nụ cười lóa nắng nở trên những gương mặt nâu đen sạm đang dãn ra vì niềm vui. Họ nồng nhiệt giành mang giúp chúng tôi hành lý về nơi nghỉ đã chờ sẵn.
Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn có dáng người roi rói, tác phong điềm đạm nho nhã nhưng vẫn có phần quyết liệt. Chắc dáng vóc dáng này từ ngày xưa vẫn thế - chả hiểu sao tôi lại nghĩ thế. Anh không tâm sự nhiều về thế mạnh của đảo mà chỉ buồn về tình hình trật tự an toàn xã hội của đảo. Hóa ra từ đầu năm đến giờ trên đảo tăng những 6 vụ so với năm ngoái. Tôi hoảng. Rồi bật cười khi biết 6 tháng năm 2010 còn không xảy ra vụ nào. Chủ tịch huyện Lý Sơn thì vẫn dí dủm: “đấy, diện tích đảo chỉ có thế (vỏn vẹn 10km2), mời nhà báo cứ đi thực tế tìm hiểu”.
Những bước chân đầu tiên bao giờ cũng thế, luôn mang lại những cảm giác mới lạ. Đi về hướng nào cũng vậy, chỉ một lát lại thấy biển. Mỗi bước chân đặt trên đất ông bà đều cháy bỏng ý thức hy sinh vô bờ bến vì sự nghiệp giữ gìn biên cương và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước Đại Việt kể từ khi người Việt định cư ở phủ Tư Nghĩa, nay là tỉnh Quảng Ngãi. Dưới thời các chúa Nguyễn quần đảo Hoàng Sa trực thuộc quản lý hành chính của Thừa tuyên Quảng Nam - dưới danh nghĩa nhà Lê; về sau thuộc phủ Quảng Nghĩa.
Đầu thế kỷ XVII các bậc tiền hiền hai xã An Vĩnh và An Hải, ở phía bắc cửa Sa Kỳ, đưa dân di cư ra Cù Lao Ré khai canh hai phường An Vĩnh và An Hải. Có lẽ thế mà biên chế của đội Hoàng Sa chủ yếu được tuyển chọn ở đây, các chúa Nguyễn, vua Nguyễn chọn Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) làm điểm xuất phát của đội Hoàng Sa là hợp lý nhất.
Chưa thấy hòn đảo nào mà mật độ di tích lịch sử, văn hóa đậm đặc như ở Lý Sơn. Đó là Âm Linh Tự với bia “Chiến sĩ trận vong” là nơi thờ tự những người lính ngày trước đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ngoài Hoàng Sa.
Là đình An Vĩnh là điểm xuất phát của Đội Hoàng Sa. Ngoài ra còn có đình An Vĩnh và An Hải, ngoài việc làm nơi thờ cúng của cư dân trên đảo, hai ngôi đền này, với kiểu kiến trúc độc đáo của nó, còn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa qua cách chạm khắc vừa Chăm, vừa Việt. Rồi chùa Hang, chùa Đục, hang Câu, miếu bà Chúa Ngọc... Ông cha ta quả dày công và rất mực khôn ngoan khi cắm trải đậm đặc những di tích cổ truyền ở rẻo đất này.
Trong gần ba thế kỷ, hòn đảo nhỏ giữa đại dương đã dâng hiến nhiều trai tráng của mình cho các suất đội Hoàng Sa thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Chiều. Cũng là lúc tình cờ mà tôi gặp Phạm Văn Thắm, một thanh niên gốc mấy đời ở Lý Sơn. Cuộc đời có nhiều điều thật ngộ.
Thắm biết tất cả mọi thứ về Lý Sơn nhưng lại không biết… bơi - cái điều mà dân biển đương nhiên phải biết. Hóa ra anh đã có thời gian dài về TP HCM học công nghệ thông tin rồi quay lại đảo để mạnh dạn mở một quán Internet. Nguồn điện phải chạy bằng máy phát điện. Anh tâm sự:
- Bươn chải mãi, giờ mới thấy chẳng đâu bằng quê nhà – no đói đều trông vào mẹ biển.
Tôi hiểu nỗi niềm anh. Bởi chả đâu xa, các cụ nhà anh cũng là những người tham gia vào đội dân binh Hoàng Sa ngày nào. Họ ra biển bảo vệ chủ quyền để lại trên bờ ngôi mộ gió và cả sự ngưỡng mộ vô cùng với đời sau. Thế mới có những câu ca bi tráng: Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về; Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây… Và chắc hẳn như thế rồi – đời nối đời – dân Lý Sơn kiên trung bám đất bám biển. Không chỉ vì miếng cơm manh áo đời mình mà còn vì cơ nghiệp tổ tông và chủ quyền đất nước.
Sau buổi nhậu đêm từ nhà Thắm về biết là muộn những tôi vẫn xin phép được đi bộ về nơi ngủ. Những bước chân vô định, lần theo con đường ngả nghiêng trong gió biển mặn mòi. Mùa này biển như sáng hơn và trời như cao hơn. Thi thoảng lại gặp một chú cua từ biển lên nghênh ngang bò. Thiên nhiên quả thực đã ưu ái cho Lý Sơn. Thế mới hiểu, tại sao cái đảo bé nhỏ Lý Sơn với diện tích chỉ non 10 km vuông mà vòng tay ôm trọn gần 21 ngàn người.
************
Mới sáng ra mà nắng đã chói chang. Cả khu vực cầu cảng mặn mòi mùi tôm cá và ngào ngạt hương vị biển trong cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền. Mọi người xúm lại gỡ lưới. Cá mắt đen nhánh. Tôm thuyền mắt như ngọc bích, hai hàng chân khua khua như mái chèo. Ghẹ vẫn dựng đứng hai mắt, cẳng khua lạo rao.
Vừa rảo tay gỡ lưới một ngư dân trẻ vừa tiếp chuyện tôi. Tôi không nghĩ dân biển hay chuyện đến thế. Mãi sau mới hiểu chả là đêm canh lưới giữa biển khơi chỉ mong người tiếp chuyện. Những đêm ở ngoài khơi không có sóng mà chỉ yên ả, lặng phắt. Cả đêm ngồi như thế. Có lấy một lần di động reo thì mừng quá – hóa ra lại là cuộc gọi lỡ. Sóng điện thoại ra tận đấy ư? Tôi hỏi mà không ngờ người tự hào lại chính là anh dân bản địa: “Chứ còn sao nữa!”.
Bên cạnh hành tỏi, nhờ biển mà những người con làng vạn chài Lý Sơn lớn lên những biển cũng rất nghiệt ngã và bạc bẽo… những người đàn ông làng chài, sống chết cũng chẳng biết đâu mà lường. Nhiều người đã bỏ mạng ngoài biển cả vì lốc xoáy. Ngay đầu năm nay thôi, tàu do ông Lê Minh Tân (thôn Đông – xã An Vĩnh) cùng 6 ngư dân đi khai thác rau chân vịt tại vùng biển Hoàng Sa đã mất tích do biển động. Giờ lại thêm nỗi lo “tàu lạ”.
Cho đến giờ, chiều chiều vẫn có những người đàn bà đứng ở đầu ghềnh nhìn ra biển. Có người mất con, mất chồng còn chạy như điên dại dưới bãi cát, trong tiếng sóng chồm, gió hú đến rợn người.
Là nói vậy thôi chứ từ chủ tịch đến dân ai ai cũng với giọng đặc sệt Quảng Ngãi, âm nọ tiếp âm kia, âm nào cũng như dao chém vào đá đều quyết tâm bám biển, bám giữ ngư trường để khẳng định chủ quyền lãnh hải. Và như một quy luật tự nhiên, tại nơi đây, hầu hết trai tráng trở thành ngư dân và đàn bà ở nhà trồng tỏi.
Thì cũng biết nguồn lợi rất lớn từ những chuyến biển xa, nhưng cũng phải có một tình yêu quê biển từ trong máu, người Lý Sơn mới chắc tay lưới trên vùng lãnh hải thiên liêng của tổ quốc đến thế.
Chuyến hành trình của chúng tôi bị rút ngắn lại, theo lệnh của trường đoàn: phải vào bờ ngay để tránh cơn bão đang sầm sập đổ. Bên cầu tầu, đoạn nhoai về đất liền, vẫn những con người quả cảm và hồn hậu ấy tiễn chúng tôi ra tận bến. Chia tay tôi, Thắm cứ nắm chặt như chẳng muốn rời. Bàn tay chàng trai thư sinh nhất Lý Sơn ấy cũng vẫn chắc như gọng kìm và đôi mắt quắc lên ngời ngợi…
Tôi im lặng bởi lát nữa thôi sẽ trở về đất liền. Trong đầu tôi toàn là những "câu hỏi lớn không lời đáp" (thơ Huy Cận). Và bỗng nhận ra vì sao mỗi lần tới một bờ biển nào đó, bước chân tôi lại rụt rè...
Gần cầu tàu, sau bao năm sóng gió, đến nay, người ta vẫn thấy rất nhiều cây bàng vuông. Lại gần thì thấy: Trên mình nó còn loang lổ hằng hà những phong ba bão táp. Nhưng chúng vẫn hiên ngang. Rồi sóng. Rồi gió. Rồi vẫn là sự trường tồn với thời gian.
Du lịch, GO! - Theo Tuanvietnam, internet
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012
Phiêu trên đỉnh đèo Hải Vân
Đèo Hải Vân nối Thừa Thiên - Huế với Đà Nẵng dài ngót nghét 20km, uốn lượn như một sợi dây thừng chênh vênh vắt qua các sườn núi. Gió mang hơi thở êm ả từ biển thổi qua từng mỏm đá, rì rào trên những rừng cây, tha thướt cùng mây trời…
Một ngày nắng đẹp, chúng tôi quyết định hành trình lên đỉnh đèo Hải Vân bằng xe máy, để thêm những cảm nhận về một trong những cảnh sắc tuyệt vời của đất nước Việt Nam mến yêu, và cũng để xem cuộc sống của những cư dân sống nơi đỉnh đèo.
Bên sườn núi là những thân cây rừng lâu năm rêu phong, mốc thếch vươn mình trổ lộc mới tháng ba sau những ngày rét mướt... Những xe chở khách du lịch thong thả leo dốc để rồi cùng dừng lại chốn đỉnh đèo chiêm ngưỡng dấu tích của tiền nhân nhiều thế kỷ trước trên con đường thiên lý Bắc Nam nhiều huyền thoại…
Vượt đèo bằng xe máy, cảm giác thật khác! Con đèo thật chẳng hổ danh là “thiên hạ đệ nhất hùng quan”, hùng vĩ và nguy hiểm hơn rất nhiều những gì tôi được chứng kiến khi ngồi trên tàu hoặc ôtô. Đường đèo, một bên là rừng cao, bên kia là vực sâu với những vách taluy dựng đứng. Trên sườn đèo, gió biển thổi vào lồng lộng. Nơi tôi đang đi cao hơn so với mặt nước biển tới gần 1.000m. Dưới chân là biển xanh, rì rào sóng vỗ.
Từ khi hầm đường bộ Hải Vân được đưa vào sử dụng, lượng xe cộ qua lại trên đèo đã giảm hẳn, còn lại chủ yếu là những xe máy, xe quá khổ, quá tải chạy trên cung đường đèo này. Con đèo hoang vu ít phương tiện giao thông đi lại trở thành địa điểm lý tưởng để những người ưa xê dịch mạo hiểm khám phá với những lối cua khúc khuỷu đến rợn người, một bên là lau lách um tùm, một bên là tiếng sóng biển ầm ào có một sức hút kỳ lạ đối với những người ưu thích sự kỳ vĩ.
Trong lịch sử triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1791-1840) là người thích ngoạn du, cho nên dấu ấn của ông để lại nhiều nơi. Năm 1826 ông đã cho xây Hải Vân Quan, ông đã cho xây đá thành bậc ở những đoạn đường dốc cho dễ đi lại và ngay trên đỉnh đèo.
Phía trên cửa trạm gác quay về hướng bắc treo một tấm biển to bằng đá cẩm thạch khắc ba chữ Hán lớn “Hải Vân Quan”, và phía quay về hướng nam là biển đá với sáu chữ Hán “Thiên hạ Đệ Nhất Hùng Quan”.
Đường vòng vo uốn éo như rắn lượn, bám theo những sườn núi. Những khúc cua tay áo cứ liên tục nối đuôi nhau, hết khúc này tới khúc khác. Gương cầu được dựng lên rất nhiều ở những khúc cua. Vậy mà trước kia chưa có hầm thì tai nạn vẫn cứ diễn ra hằng ngày.
Cả đoạn đường đèo dài 24 cây số, từ chân đèo bên này sang chân đèo bên kia tôi đếm được tới hơn 40 miếu thờ ven đường. Cứ vài chục mét lại thấy có một miếu nhỏ dựng ngay rìa đường, lạnh lẽo và u ám.
Chúng tôi đến đỉnh đèo, ghé vào một quán nước bên đường. Vợ chồng anh chủ quán Nguyễn Tư thân mật tâm tình: “Nhà tôi ở dưới Phú Lộc, dưới dân đèo bắc Hải Vân, lên đây buôn bán cũng được chừng hơn chục năm trời. Hồi trước sáng vợ chồng đèo nhau lên bằng chiếc xe 81 lúc 6 giờ, ở đây đến 7 giờ tối mới về. Sau thấy bất tiện quá nên chuyển hẳn lên đây dựng nhà. Giờ quen rồi không muốn xuống nữa!”.
Được biết, trên đỉnh đèo Hải Vân này có khoảng 16 hộ, chủ yếu là buôn bán nước giải khát, hàng lưu niệm, quán ăn và một số dịch vụ khác.
Còn lại khoảng 5-6 hộ sống lưng chừng đèo với vài tiệm vá xe, nước mui… cuộc sống cũng nhiều vất vả. Chị Nguyễn Thị Gái, ở Liên Chiểu, Đà Nẵng, lên đây cũng tầm chục năm kể: “Lúc hầm Hải Vân khánh thành, cuộc sống của chúng tôi cũng khá lao đao, bởi lượng người và xe giảm hẳn, tưởng phải bỏ nghề.
Nhưng rồi vì nhớ cuộc sống nơi mây ngàn gió núi này, vợ chồng con cái lại dắt díu nhau lên. Mở lại quán phở, cà phê tằn tiện sống qua ngày”.
Trước đây, khi hầm Hải Vân rậm rịch khánh thành, nhiều hộ dân buôn bán nơi đây sợ sẽ mất kế sinh nhai. Có nhiều hộ đã rời về quê cũ tính kế khác làm ăn, có người vào rừng đốn củi kiếm ngày mươi lăm ngàn nuôi gia đình. Chỉ còn lại một vài hộ bất chấp khó khăn cố gắng bám trụ lại, hy vọng vào một điều gì đó tươi sáng hơn.
Và bây giờ, những người dân ấy đã có được cuộc sống ổn định hơn, chắc chắn hơn nhờ vào lượng khách qua lại thường xuyên nơi đây.
Chị Lê Thị Hương bán đồ lưu niệm cho biết: “Ban đầu cũng chật vật lắm, một ngày bán được có một chiếc vòng giá năm ngàn, lấy gì nuôi 3 đứa con đang tuổi ăn tuổi học dưới nhà. Nhưng không bám trụ thì biết làm sao, rồi cuối cùng cũng qua cả. Bây giờ khách du lịch lên đây nhiều, buôn bán cũng khấm khá hơn”. Đang nói chuyện, chị Hương lại tất tả chạy đi vì có một đoàn khách sinh viên xúm xít bên quầy đồ lưu niệm của chị, nhìn những nụ cười trên nhiều khuôn mặt người dân nơi đây, chúng tôi biết cuộc sống êm đềm đã trở lại với họ.
Hiện tại lượng khách du lịch qua lại nơi đây tương đối đông, mỗi ngày cũng vài chục đoàn, chưa tính khách đi lẻ. Những cung đường khúc khuỷu vờn mây, nhìn về phía nam là thành phố Đà Nẵng trẻ trung và sôi động với vịnh biển xanh ngắt trong nắng, phía bắc là bãi biển Lăng Cô yên bình hiền hòa, trên đỉnh là Hải Vân quan với những làn mây trôi lờ lững chậm rãi, rất thích hợp cho tham quan, nghỉ dưỡng, tour đường dài, tour địa hình… và là một trong những thắng cảnh của miền Trung.
Một điều thú vị nữa là tình trạng chèo kéo khách, giành giật khách tuyệt nhiên không còn xảy ra như nhiều năm về trước. Đó là nhờ các chiến sỹ đồn biên phòng 224, thuộc Đồn Biên phòng TP Đà Nẵng.
Từ khi có sự xuất hiện của các chiến sỹ quân hàm xanh, nạn trấn lột, chèo kéo khách giảm hẳn. Để quản lý được 16 hộ dân đăng ký kinh doanh và khoảng 60 người bán hàng rong, ngoài những biện pháp nghiệp vụ được áp dụng trong những tình huống cần thiết, hàu hết các chiến sỹ biên phòng 224 đều tác động vào tình cảm, khuyên nhủ, tuyên truyền để họ có cách bán hàng lịch sự, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch nơi đây.
Từ trên đỉnh đèo có thể nhìn xuống vịnh Lăng Cô (Huế) với làn nước xanh trong phẳng lặng, xen lẫn màu trắng của những bãi cát phẳng lỳ.
Quay 180 độ, “Thành phố trẻ” Đã Nẵng hiện ra với những dãy nhà đều tăm tắp, nối nhau chạy dài quanh bờ biển. Nếu may mắn, bạn cũng sẽ được ngắm nhìn đoàn tàu Thống Nhất uốn lượn quanh đèo – một hình ảnh thi vị từng đi vào thơ ca, sử sách. Nơi đây thực sự là địa điểm lý tưởng cho những chuyến picnic cùng bạn bè và thử thách tuyệt vời cho những ai yêu thích thể thao mạo hiểm.
Chiều xuống trên đỉnh Hải Vân, chúng tôi chia tay với những hộ dân buôn bán trên đỉnh đèo, ánh nắng chênh chếch chiếu xuống con đường ngoằn ngoèo, như sợi dây mỏng mảnh ngăn cách núi cao và biển Đông lung linh phía dưới.
Chúng tôi xuống đèo. Muôn vạn bóng đèn ở Đà Nẵng đã phát sáng, đẹp lung linh huyền ảo. Nhìn chẳng khác nào một dải lụa hồng nổi lặng lờ trên mặt biển Đông. Những chiếc thuyền câu mực trên biển cũng bật đèn, chiếu sáng lấp lánh mặt nước. Đèo sâu hun hút, tối thẫm, gió thổi ù ù như có cối xay bên tai. Thỉnh thoảng, đèn pha từ những chiếc ôtô ngược chiều chiếu vào sáng loá mắt, tôi chẳng còn nhìn thấy được đâu là đường. Những lúc như thế chỉ còn cách đứng tấp vào lề đường.
Tạm biệt những con người trên đỉnh hùng quan, nơi cuộc sống êm đềm và thong thả, nơi những nụ cười luôn tươi rói trên khuôn mặt họ, cho một niềm tin tưởng vào tương lai…
Du lịch, GO! tổng hợp
Một ngày nắng đẹp, chúng tôi quyết định hành trình lên đỉnh đèo Hải Vân bằng xe máy, để thêm những cảm nhận về một trong những cảnh sắc tuyệt vời của đất nước Việt Nam mến yêu, và cũng để xem cuộc sống của những cư dân sống nơi đỉnh đèo.
Bên sườn núi là những thân cây rừng lâu năm rêu phong, mốc thếch vươn mình trổ lộc mới tháng ba sau những ngày rét mướt... Những xe chở khách du lịch thong thả leo dốc để rồi cùng dừng lại chốn đỉnh đèo chiêm ngưỡng dấu tích của tiền nhân nhiều thế kỷ trước trên con đường thiên lý Bắc Nam nhiều huyền thoại…
Vượt đèo bằng xe máy, cảm giác thật khác! Con đèo thật chẳng hổ danh là “thiên hạ đệ nhất hùng quan”, hùng vĩ và nguy hiểm hơn rất nhiều những gì tôi được chứng kiến khi ngồi trên tàu hoặc ôtô. Đường đèo, một bên là rừng cao, bên kia là vực sâu với những vách taluy dựng đứng. Trên sườn đèo, gió biển thổi vào lồng lộng. Nơi tôi đang đi cao hơn so với mặt nước biển tới gần 1.000m. Dưới chân là biển xanh, rì rào sóng vỗ.
Từ khi hầm đường bộ Hải Vân được đưa vào sử dụng, lượng xe cộ qua lại trên đèo đã giảm hẳn, còn lại chủ yếu là những xe máy, xe quá khổ, quá tải chạy trên cung đường đèo này. Con đèo hoang vu ít phương tiện giao thông đi lại trở thành địa điểm lý tưởng để những người ưa xê dịch mạo hiểm khám phá với những lối cua khúc khuỷu đến rợn người, một bên là lau lách um tùm, một bên là tiếng sóng biển ầm ào có một sức hút kỳ lạ đối với những người ưu thích sự kỳ vĩ.
Trong lịch sử triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1791-1840) là người thích ngoạn du, cho nên dấu ấn của ông để lại nhiều nơi. Năm 1826 ông đã cho xây Hải Vân Quan, ông đã cho xây đá thành bậc ở những đoạn đường dốc cho dễ đi lại và ngay trên đỉnh đèo.
Phía trên cửa trạm gác quay về hướng bắc treo một tấm biển to bằng đá cẩm thạch khắc ba chữ Hán lớn “Hải Vân Quan”, và phía quay về hướng nam là biển đá với sáu chữ Hán “Thiên hạ Đệ Nhất Hùng Quan”.
Đường vòng vo uốn éo như rắn lượn, bám theo những sườn núi. Những khúc cua tay áo cứ liên tục nối đuôi nhau, hết khúc này tới khúc khác. Gương cầu được dựng lên rất nhiều ở những khúc cua. Vậy mà trước kia chưa có hầm thì tai nạn vẫn cứ diễn ra hằng ngày.
Cả đoạn đường đèo dài 24 cây số, từ chân đèo bên này sang chân đèo bên kia tôi đếm được tới hơn 40 miếu thờ ven đường. Cứ vài chục mét lại thấy có một miếu nhỏ dựng ngay rìa đường, lạnh lẽo và u ám.
Chúng tôi đến đỉnh đèo, ghé vào một quán nước bên đường. Vợ chồng anh chủ quán Nguyễn Tư thân mật tâm tình: “Nhà tôi ở dưới Phú Lộc, dưới dân đèo bắc Hải Vân, lên đây buôn bán cũng được chừng hơn chục năm trời. Hồi trước sáng vợ chồng đèo nhau lên bằng chiếc xe 81 lúc 6 giờ, ở đây đến 7 giờ tối mới về. Sau thấy bất tiện quá nên chuyển hẳn lên đây dựng nhà. Giờ quen rồi không muốn xuống nữa!”.
Được biết, trên đỉnh đèo Hải Vân này có khoảng 16 hộ, chủ yếu là buôn bán nước giải khát, hàng lưu niệm, quán ăn và một số dịch vụ khác.
Còn lại khoảng 5-6 hộ sống lưng chừng đèo với vài tiệm vá xe, nước mui… cuộc sống cũng nhiều vất vả. Chị Nguyễn Thị Gái, ở Liên Chiểu, Đà Nẵng, lên đây cũng tầm chục năm kể: “Lúc hầm Hải Vân khánh thành, cuộc sống của chúng tôi cũng khá lao đao, bởi lượng người và xe giảm hẳn, tưởng phải bỏ nghề.
Nhưng rồi vì nhớ cuộc sống nơi mây ngàn gió núi này, vợ chồng con cái lại dắt díu nhau lên. Mở lại quán phở, cà phê tằn tiện sống qua ngày”.
Trước đây, khi hầm Hải Vân rậm rịch khánh thành, nhiều hộ dân buôn bán nơi đây sợ sẽ mất kế sinh nhai. Có nhiều hộ đã rời về quê cũ tính kế khác làm ăn, có người vào rừng đốn củi kiếm ngày mươi lăm ngàn nuôi gia đình. Chỉ còn lại một vài hộ bất chấp khó khăn cố gắng bám trụ lại, hy vọng vào một điều gì đó tươi sáng hơn.
Và bây giờ, những người dân ấy đã có được cuộc sống ổn định hơn, chắc chắn hơn nhờ vào lượng khách qua lại thường xuyên nơi đây.
Chị Lê Thị Hương bán đồ lưu niệm cho biết: “Ban đầu cũng chật vật lắm, một ngày bán được có một chiếc vòng giá năm ngàn, lấy gì nuôi 3 đứa con đang tuổi ăn tuổi học dưới nhà. Nhưng không bám trụ thì biết làm sao, rồi cuối cùng cũng qua cả. Bây giờ khách du lịch lên đây nhiều, buôn bán cũng khấm khá hơn”. Đang nói chuyện, chị Hương lại tất tả chạy đi vì có một đoàn khách sinh viên xúm xít bên quầy đồ lưu niệm của chị, nhìn những nụ cười trên nhiều khuôn mặt người dân nơi đây, chúng tôi biết cuộc sống êm đềm đã trở lại với họ.
Hiện tại lượng khách du lịch qua lại nơi đây tương đối đông, mỗi ngày cũng vài chục đoàn, chưa tính khách đi lẻ. Những cung đường khúc khuỷu vờn mây, nhìn về phía nam là thành phố Đà Nẵng trẻ trung và sôi động với vịnh biển xanh ngắt trong nắng, phía bắc là bãi biển Lăng Cô yên bình hiền hòa, trên đỉnh là Hải Vân quan với những làn mây trôi lờ lững chậm rãi, rất thích hợp cho tham quan, nghỉ dưỡng, tour đường dài, tour địa hình… và là một trong những thắng cảnh của miền Trung.
Một điều thú vị nữa là tình trạng chèo kéo khách, giành giật khách tuyệt nhiên không còn xảy ra như nhiều năm về trước. Đó là nhờ các chiến sỹ đồn biên phòng 224, thuộc Đồn Biên phòng TP Đà Nẵng.
Từ khi có sự xuất hiện của các chiến sỹ quân hàm xanh, nạn trấn lột, chèo kéo khách giảm hẳn. Để quản lý được 16 hộ dân đăng ký kinh doanh và khoảng 60 người bán hàng rong, ngoài những biện pháp nghiệp vụ được áp dụng trong những tình huống cần thiết, hàu hết các chiến sỹ biên phòng 224 đều tác động vào tình cảm, khuyên nhủ, tuyên truyền để họ có cách bán hàng lịch sự, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch nơi đây.
Từ trên đỉnh đèo có thể nhìn xuống vịnh Lăng Cô (Huế) với làn nước xanh trong phẳng lặng, xen lẫn màu trắng của những bãi cát phẳng lỳ.
Quay 180 độ, “Thành phố trẻ” Đã Nẵng hiện ra với những dãy nhà đều tăm tắp, nối nhau chạy dài quanh bờ biển. Nếu may mắn, bạn cũng sẽ được ngắm nhìn đoàn tàu Thống Nhất uốn lượn quanh đèo – một hình ảnh thi vị từng đi vào thơ ca, sử sách. Nơi đây thực sự là địa điểm lý tưởng cho những chuyến picnic cùng bạn bè và thử thách tuyệt vời cho những ai yêu thích thể thao mạo hiểm.
Chiều xuống trên đỉnh Hải Vân, chúng tôi chia tay với những hộ dân buôn bán trên đỉnh đèo, ánh nắng chênh chếch chiếu xuống con đường ngoằn ngoèo, như sợi dây mỏng mảnh ngăn cách núi cao và biển Đông lung linh phía dưới.
Chúng tôi xuống đèo. Muôn vạn bóng đèn ở Đà Nẵng đã phát sáng, đẹp lung linh huyền ảo. Nhìn chẳng khác nào một dải lụa hồng nổi lặng lờ trên mặt biển Đông. Những chiếc thuyền câu mực trên biển cũng bật đèn, chiếu sáng lấp lánh mặt nước. Đèo sâu hun hút, tối thẫm, gió thổi ù ù như có cối xay bên tai. Thỉnh thoảng, đèn pha từ những chiếc ôtô ngược chiều chiếu vào sáng loá mắt, tôi chẳng còn nhìn thấy được đâu là đường. Những lúc như thế chỉ còn cách đứng tấp vào lề đường.
Tạm biệt những con người trên đỉnh hùng quan, nơi cuộc sống êm đềm và thong thả, nơi những nụ cười luôn tươi rói trên khuôn mặt họ, cho một niềm tin tưởng vào tương lai…
Du lịch, GO! tổng hợp
Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012
Phượt Tây Yên Tử
Con đường kỳ bí lên Ngọa Vân am.
Sau gần 700 năm bị lãng quên trong rừng rậm và mây mù. Am Ngọa Vân, nơi đệ nhất tổ của phái Trúc Lâm Yên Tử viên tịch, nay lại trở thành nơi bước chân phật tử và khách du lịch hướng về.
Để đến am Ngọa Vân con đường thú vị là đi qua dốc Đô Kiệu, theo lối Thông Đàn. Xuất phát từ Hà Nội, bạn hãy đến làng Trại Lốc (Đông Triều - Quảng Ninh). Chúng tôi xuất phát từ Trại Lốc. Đoạn đường trước khi đến dốc Đô Kiệu không quá khó đi, vì phần lớn là đi theo lối mòn. Nhưng con dốc Đô Kiệu thì quả không sai với ý nghĩa của cái tên. Dốc dựng đứng, và không có bậc, xưa kia kiệu của vua Trần khi đi theo lối này, đến đây cũng đành dừng lại (vậy nên tên gọi khởi thủy của nó là Đỗ Kiệu).
< Toàn cảnh Thông Đàn.
Thở hết dốc, và thêm một chút nữa là tới Thông Đàn. Cái tên này được giải thích do khi xưa, đây là một dải rừng chỉ trồng toàn thông.
Các vị vua cùng các nhà sư từ đời Trần đã lựa chọn nơi này bởi lẽ, vào đến đây, tiếng thông reo vi vu trong gió tựa có cả dàn nhạc đang được tấu lên.
< Những gì còn sót lại tại Thông Đàn.
Chính vì vậy, ở Thông Đàn, cũng giống như ở chùa Vân Tiêu bên Yên Tử Đông, có một nét phong thủy rất đặc trưng, đó là khối kiến trúc gồm một tòa tháp tọa giữa hai gốc thông cao vút.
Nền đá còn lại của Thông Đàn cho thấy rõ đây đã từng là một rừng tháp quy mô lớn.
< Mộ tháp dưới hai gốc thông.
Giống như một khoảng sân rộng lớn gồm ba tầng rõ rệt. Có đá lát, đá viền xung quanh. Thời gian, cùng với sự thèm khát thiếu văn hóa của nhiều con người đã biến Thông Đàn trở thành bãi đá ngổn ngang và những gốc thông trơ trọi.
Những khối đá vuông vức này là phần còn lại của những tòa tháp cổ đã bị đào xới, đánh mìn, lật tung lên để tìm của báu.
Còn Thông Đàn, sau nhiều năm bị khai thác bừa bãi và chặt trộm… giờ chỉ còn sót lại một vài gốc đứng chơ vơ hứng chịu mọi tia sấm sét của bầu trời.
Cách Thông Đàn không xa là khu hoang phế gồm phần nền móng và một bức tường đổ sau những biến động của thời gian và lịch sử. Bức tường đá ong và những nét họa tiết còn sót lại cho thấy khi còn nguyên vẹn, đây là một gian kiến trúc khá cầu kỳ, và được xây dựng rất cẩn thận.
< Gian thờ chính.
Dù vừa đi vừa nghỉ, nhưng cũng phải dồn hết sức chúng tôi mới đến được Ngọa Vân. Đặt chân tới đây, bạn cảm nhận được sự yên tĩnh đến diệu kỳ. Những bậc đá phủ rêu đưa bước chân thoát tục hướng cao lên đỉnh núi, nơi có Ngọa Vân am.
< Tháp Phật Hoàng và tháp Đoan Nghiêm.
Vẫn còn nguyên vẹn tại đây hai tòa mộ tháp nhuốm màu thời gian: tháp Đoan Nghiêm và tháp Phật Hoàng.
Dấu ấn vương giả một thời đã chìm vào quên lãng với voi đá, ngựa đá… giờ nằm lại nơi này như minh chứng cho sự gác bỏ phồn hoa trần tục của vị vua kiệt xuất đời Trần.
Phía sau gian thờ là tòa am nhỏ đề ba chữ Hán: “Ngọa Vân am”. Bên trong thờ tượng Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch có Bảo Sái quỳ chắp tay hầu.
Trong nhiều tài liệu sử liệu cổ có ghi chép về sự việc Trần Nhân Tông viên tịch, đó là tại am Ngọa Vân, vào đêm 1-11-1308.
Khi dặn dò Bảo Sát, Điều Ngự nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch.
< Tượng Phật Hoàng lúc viên tịch có Bảo Sái hầu bên cạnh.
Việc xác định vị trí am Ngọa Vân ở đâu - một vấn đề mang nhiều tranh cãi của các nhà khoa học - đến nay đã được nhà khảo cổ học Nguyễn Văn Anh và nhiều đồng sự khác tại Viện Khảo cổ học giải đáp thỏa đáng. Khi thám sát, khai quật am Ngọa Vân đoàn đã tìm được nhiều dấu tích liên quan đến việc đức vua Trần Nhân Tông viên tịch tại đây.
< Giếng đá tại Ngọa Vân có nước trong vắt.
Tiêu biểu như di vật Phật hoàng tháp, được xác định là mộ tháp của Phật hoàng, bài vị thờ ngài trong tháp và tấm bia thời Nguyễn được vua Minh Mạng cho dựng để ghi nhớ vị trí tháp mộ Trần Nhân Tông. Trong khi đó vị trí được coi là am Ngoạ Vân ở di tích Yên Tử hiện nay chỉ là công trình mới được hình thành vào thời Lê, Nguyễn.
Điều này khẳng định nơi vua Trần Nhân Tông viên tịch là am Ngoạ Vân ở xã An Sinh, huyện Đông Triều chứ không phải am Ngoạ Vân tại di tích Yên Tử hiện nay như nhiều người vẫn nghĩ.
< Ngôi mộ thật kỳ lạ...
Thầy trụ trì đi vắng, chúng tôi xin phép sư thầy Thích Tiến Thắng cho nghỉ lại một đêm. Không phải là những người đầu tiên lên chùa, hơn thế, gần đây đội khảo sát Thông Đàn cũng xin nghỉ đêm lại gian nhà khách, nên các thầy không bất ngờ. Những ngày rằm, hay ngày giỗ Nhất Tổ (3-11), các Phật tử sẽ còn lên đông nữa.
Tự nhiên, trong lòng cảm thấy tiêng tiếc một cái gì đó, giống như cảm giác sự yên tĩnh của Ngọa Vân đang bị lấy mất dần đi.
Thời gian gần đây, khách du lịch lên chùa ngày một nhiều. Trong tương lai, khi con đường bộ hoặc đường cáp treo hoàn thành, Ngọa Vân rồi sẽ trở về đúng vị trí, sẽ giống như Yên Tử hiện tại, với ồn ã kinh doanh, hành hương chen chúc... Liệu lúc đó, cửa Ngọa Vân có còn đủ chỗ cho 1 người qua đường lỡ bước xin nghỉ qua đêm?
Sáng hôm sau, tiếng tụng kinh và tiếng mõ của các thầy đánh thức mọi người dậy sớm. Lịch của các thầy bắt đầu từ 4 giờ. Trong ánh đèn pin, hai anh em dậy thu dọn đồ đạc, rồi xuống bếp chùa nấu nhờ bữa sáng. Dù các thầy có máy phát điện chạy từ con đập nhỏ phía dưới, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ nước để máy chạy. Thế nên, đèn, nến và bếp lửa vẫn là nguồn ánh sáng chính lúc này.
Buổi sáng quen thuộc của Yên Tử lại bắt đầu với nắng sớm, gió lạnh, tiếng tụng kinh gợi cảm giác thiền lặng như từ một miền xa xôi. Chào tạm biệt các thầy, chúng tôi quay về theo lối đi qua dốc Voi rồi về thôn Tân Sơn. Con đường này, đoạn gần am Ngọa Vân, hai bên trúc mọc dày đặc, ken kín một màu xanh dịu mát.
Lối đi này dễ đi hơn nhiều so với lối đi từ Trại Lốc và là ngã ba đường để đi tới chùa Hồ Thiên, nơi bắt đầu câu chuyện thứ hai về Tây Yên Tử.
Hồ Thiên tự
< Gian thờ cũ chùa Hồ Thiên.
Ngọn núi đôi nổi tiếng miền Đông là thắng cảnh thuộc hàng bậc nhất thiên hạ với những am mây, hang rồng sừng sững xanh, mây dồn, gấm tụ, đá núi liền tận Quỳnh Lâm bảo đài… Còn có cả động Trù Phong sừng sững nhấp nhô góc dồn xe biếc, đỉnh núi bao quanh, suối khe uốn lượn…
< Dốc Voi.
Chỉ có nhà Trần xưa vốn tôn sùng đạo Phật, mở núi, san nền nơi đây, xây tam cấp, dựng bảo tháp 5 tầng. Trải bao sương gió, nền móng vững bền mà biếc vàng lộng lẫy…
(Trích bia đá chùa Hồ Thiên)
Không phải là đến hẹn lại lên, mà vẫn là con đường thôi thúc. Chúng tôi lại đi Tây Yên Tử, lên chùa Hồ Thiên. Từ Hà Nội đến Đông Triều, rẽ tại ngã ba Tràng An để đến thôn Tây Sơn (xã Bình Khê). Bánh xe lăn qua những con dốc đá gập ghềnh để tới sát chân dốc Voi, ở đó có nhà chú Sơn, nhận trông xe mùa lễ hội. Chúng tôi đi lối dốc Voi. Đây là con đường dốc đứng, men theo những lối mòn nhỏ hẹp vốn là lối kéo gỗ từ trên núi xuống.
< Bãi đá chồng.
Hết dốc là lên tới đỉnh bãi Đá Chồng, tại đây có một quán nước nhỏ vốn đóng cửa quanh năm, chỉ mở trong mùa lễ hội làm điểm dừng chân cho khách. Bà chủ quán có món nước nấu từ cây cao cẳng (còn được gọi là sâm cao cẳng) vị ngọt mát, rất dễ uống.
Đường lên chùa đi qua những đồi đá, cỏ tranh đan xen với những khoảnh núi mới được phủ xanh lại bởi thông, keo và bạch đàn. Những khoảng rộng mới trồng lại, nhìn từ xa lấm tấm gợi liên tưởng như những lỗ tổ ong lớn. Nắng gắt cùng bụi tạo nên sự khô hanh, cằn cỗi.
Hồ Thiên hiện tại đã được tu sửa nhiều. Ngoài thầy Thích Trí Thông, hiện có thầy Thái An tu tại đây. Và có một phật tử giúp hai thầy công việc trong chùa, bác An, nhà ở Đông Triều. Cứ mỗi năm ngày một lần lại có người lên và cũng là mang thêm lương thực, đồ dùng cho chùa. Thầy Thái An đang chuẩn bị nhập thất. Mấy anh em gặp thầy Thích Trí Thông và tranh thủ tiếp chuyện với thầy lúc chưa vào giờ kinh kệ.
< Dãy nhà mới chùa Hồ Thiên.
Hồ Thiên là ngôi chùa nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời phong kiến. Chùa được khởi dựng dưới triều Trần. Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông (tức đệ nhất tổ phái Trúc Lâm) từng đăng đàn thuyết pháp tại đây. Sau khi ngài mất, đệ tử chùa Hồ Thiên đã tạc tượng thờ ngài.
< Bia đá chùa Hồ Thiên.
Nhiều năm sau cổ tự Hồ Thiên đã trở thành thiền viện danh tiếng của Phật phái Trúc Lâm. Đời Hậu Lê vào năm Vĩnh Khánh 1729 - 1732 và Vĩnh Hựu 1735 - 1740 triều đình đã cấp tiền trùng tu với quy mô rộng lớn khang trang lộng lẫy nhất vùng. Đến đầu thế kỷ 19 chùa bị đổ nát chỉ còn di tích.
Tại chùa Hồ Thiên còn lưu giữ tấm bia đá soạn vào năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736), đời vua Lê Ý Tông nói về việc trùng tu chùa Hồ Thiên.
< Dấu tích nền móng chùa Hồ Thiên.
Bia được dựng trong nhà bia bằng đá. Tường và mái của tòa nhà toàn bằng đá xanh. Những phiến đá lớn thớ mịn, được mài nhẵn ở tất cả các mặt, xẻ mộng để ghép rất khít vào các răng. Chúng được trang trí bằng các hoa văn họa tiết rất sinh động. Hai mặt cạnh của bia có đôi câu đối khắc nổi. Đế bia cũng được chạm khắc tinh xảo các hình rồng phượng, hoa lá... Qua gần 300 năm, mọi chi tiết, các nét chữ vẫn còn rõ nét.
< Tháp 7 tầng chùa Hồ Thiên.
Năm 1998, chuyên gia Hán Nôm Nguyễn Văn Phong khi lặn lội rừng già để đến được chùa Hồ Thiên đã ngỡ ngàng trước tòa tháp đá xanh bảy tầng tuyệt đẹp cao vút giữa rừng cây. Tiếc thay, khi khu dí tích chùa Hồ Thiên chưa được quan tâm thì tháp đã bị những kẻ đi săn tìm đồ cổ đánh sập. Thầy Trí Thông cũng chỉ đành gom góp những khối đá xanh chỏng chơ còn lại, đến mãi cuối năm 2008 mới dựng lại tòa tháp hiện nay như những gì còn nhớ được.
< Tháp gạch cổ chùa Hồ Thiên.
Trong khuôn viên của chùa Hồ Thiên, các công trình kiến trúc vẫn còn giữ nguyên phần tường xây, nền chùa và chân bệ. Hiện còn lại dấu tích của ba lớp nền bó vỉa bằng đá cuội. Ba lớp ứng với ba tầng bậc cao dần lên. Ở mặt bằng của tầng cao nhất còn nguyên các bệ đá kê chân cột, mặt tròn nền vuông có hình cánh sen được chạm cách điệu. Các bệ đá kê liền nhau, sắp xếp theo vị trí kiến trúc cột cái, cột con. Quanh chùa còn những ngôi mộ tháp, tháp gạch, tháp đá rất hiếm gặp. Các tháp này mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê. Trong một ô lõm của tháp có đặt pho tượng bằng đá trắng. Tượng được tạc trong tư thế ngồi thiền.
Buổi tối, trăng rất sáng. Mọi người nhất trí tắt máy nổ, dùng nến và ánh trăng để vừa ăn tối vừa trò chuyện. Bữa tối có món măng rừng xào ớt. Măng trúc có vị đắng nhiều hơn ngọt, gợi nhớ lại những năm trước, thời gian mà nhà chùa chỉ có vả luộc, măng trúc và chuối rừng chát ngâm muối. Đó là tất cả những gì đã giúp thầy và phật tử duy trì cuộc sống tu hành.
< Bữa tối trên chùa.
Đêm đó chúng tôi ngủ thật ngon. Hồ Thiên vẫn luôn yên tĩnh và thanh tịnh. Vẫn luôn có gió núi, trăng rừng và tiếng chuông lẩn khuất trong mây.
Lại chia tay với thầy và bác An cùng mọi người, mong sẽ sớm quay lại. Vẫn còn lối lên Hồ Thiên từ phía đập Bến Châu. Vẫn còn con đường là vẫn có lối đi. Nhất là khi một phần nơi đây đã in dấu trong mỗi chúng tôi, đó là Yên Tử, góc phía tây tĩnh lặng.
Góc lặng phía tây
Trăm năm tích đức tu hành/ Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu. Câu thơ chẳng biết có tự bao giờ, nhưng nó như kim chỉ nam để hằng năm khách thập phương lũ lượt đổ về Yên Tử, nơi từ góc nhìn tại Ngọa Vân am hay Hồ Thiên tự chính xác mang tên Yên Tử Đông. Tức ở về phía đông.
< Hồ Bến Châu, xã Bình Khê.
Vô tình như một cách chơi chữ, nó cũng thật sự là nơi đông đúc khách thập phương. Còn ở đây, sau nhiều năm chìm trong quên lãng, một góc thiền lặng phía tây đang hồi sinh từng ngày.
< Lối đi Thùm Thùm ngược dòng suối.
Để lên am Ngọa Vân và chùa Hồ Thiên, ngoài lối đi qua Thông Đàn hoặc lối đi qua dốc Voi, còn một lối đi nữa là đi đò qua hồ Bến Châu. Từ chợ Bình Khê, đi vào tới khu vực đập Bến Châu, chúng tôi hỏi đường lên đập tìm vào nhà anh San chị Luận chuyên chở khách đi thuyền.
< Lối đá nhỏ qua suối dẫn lên miếu Cậu.
Hồ Bến Châu khá rộng, nhưng với chiếc thuyền gắn máy, một chiều đi chỉ mất chừng 10 phút. Xe máy cũng được gửi lại đây.
Nước hồ xanh và trong vắt. Nhưng sau mới biết do việc khai thác than làm lượng than bùn cùng hóa chất lắng xuống hồ quá nhiều, rong rêu không thể mọc và tôm cá cũng chẳng loài nào sống nổi.
Trên mặt hồ giữa các đảo có một dãy cột bêtông, dự định để bắc cầu nối các hòn đảo lại với nhau. Cột có lẽ đã được xây một thời gian nhưng cầu vẫn chưa xong. Bờ bên kia hồ, một đàn trâu lớn thả rông đang nhẩn nha nằm nghỉ ngay sát mép nước.
Rời thuyền, chúng tôi bắt đầu hành trình đi bộ theo lối Thùm Thùm. Đoạn đầu đi qua một dãy vườn vải, sau đó ngược dòng suối. Con suối trong hướng dẫn nằm tít dưới sâu, lòng suối cạn, thỉnh thoảng có những đoạn nước dồn thành vũng lớn. Đi đến khi gặp những tảng đá nhỏ xếp ngay ngắn thành con đường cắt ngang suối, vậy là đã tới được miếu Cậu.
< Con đường lên chùa qua những ngọn đồi mới trồng thông, lấm tấm như tấm thảm rộng.
Đi tiếp theo hướng những mũi tên sơn đỏ do bà con trong vùng vẽ chỉ lối lên chùa, đến gần trưa mọi người mới dừng lại nghỉ. Trời nắng gắt, nhưng gió nhẹ và không khí trong lành làm mọi mệt nhọc đều tan biến.
Nghỉ trưa xong, hành trình tiếp tục với những đoạn dốc lên xuống và những đoạn suối uốn lượn lùi lại. Một trảng cỏ rộng trải ra trước mắt. Mùa khô, mọi thứ đều cằn cỗi. Qua đoạn này là tới khu vườn vải, ngã ba đường đi tới am Ngọa Vân hoặc lên chùa Hồ Thiên.
< Phật tử lên chùa, đồ mang theo còn có can xăng nhỏ giúp nhà chùa chạy máy phát khi mùa nước cạn.
Đường lên chùa là dốc núi khó đi. Những đoạn dốc đứng đường đất, gần như không có bậc để đặt chân. Chỉ đến những đoạn dốc đá mới có bậc được xếp tạm.
Cảnh cũ, chùa cũ và cây cỏ cũ. Gặp lại thầy Trí Thông, bác An thì đã về Đông Triều. Thầy Thái An cũng không còn ở đây. Nhà chùa đang cho xây thêm một gian nhà khách, cũng gần xong. Cả Ngọa Vân và Hồ Thiên đều đang có những thay đổi. Những thay đổi làm nơi này bớt hoang vắng, nhưng cũng đang mất dần sự yên tĩnh trước đó.
< Nắng sớm bên chân tháp chùa Hồ Thiên.
Mâu thuẫn vẫn là mâu thuẫn. Cái sang trọng và thanh tịnh dường như là hai khái niệm khó có thể đi cùng với nhau.
Có thể nhận thấy điểm tương đồng giữa Hồ Thiên và Ngọa Vân là cùng một thế núi vòng cung, mà như mọi người vẫn nói: thế núi ngai vua. Cùng nằm ở nơi xa khuất, không dễ dàng gì tới được. Và sự khác biệt cũng cảm nhận được: Ngọa Vân giờ đông đúc hơn (các sư thầy, đội khảo sát Thông Đàn, cùng những người làm), còn Hồ Thiên vắng vẻ hơn dù về quy mô Hồ Thiên lớn hơn Ngọa Vân nhiều.
Đường vào vẫn còn khó khăn, nhưng so với thời gian các thầy chỉ có chuối rừng muối, lá vả luộc, cũng như rau củ rừng giờ đã khác xa lắm rồi. Đều đặn vẫn có phật tử gánh đồ theo những dốc đá mà người bình thường đi thấy bở hơi tai để mang lên cho chùa.
Cuộc sống tu hành đã bớt đi một phần lo toan, tuy nhiên vẫn chưa phải hết. Có lẽ phải có được cái tâm bình lặng trước mọi sự biến đổi như thầy Trí Thông mới có thể giữ trọn đạo tu.
Hiện nơi đây vẫn còn đủ yên tĩnh. Trăng đầu tháng nửa vầng đủ soi rõ cảnh vật, gió đêm mới chỉ se se lạnh, và vị ngòn ngọt từ nước giếng chùa. Tiếng chuông gió khẽ đưa từ mái hiên, tiếng côn trùng rả rích bốn bề. Đó thật sự là sự lôi cuốn của tĩnh lặng chứ không phải của sự ồn ào. Ngoài xa dưới kia, ánh đèn đường 18 vẫn sáng lung linh suốt đêm, ở đó cuộc sống vẫn đang diễn ra không ngừng nghỉ.
Đi xa hơn một chút, vắng vẻ hơn một chút, thời gian dư ra thêm một chút, người ta có thể nghĩ nhiều hơn và quên đi nhiều hơn. Quên con đường vào lắt léo, quên dốc Đô Kiệu dựng đứng, quên bãi Thông Đàn nền cũ ngổn ngang, quên cả am chùa tĩnh mịch, rồi quên cả gió, núi và trăng... Người ta cố đi thật xa là để nhận ra chân lý hay là để trốn tránh bụi trần?
Vẫn là Hồ Thiên và Ngọa Vân với những nền móng, chùa tháp cũ sót lại. Vẫn còn xa tới khi đường vào tây Yên Tử được hoàn thành.
Du lịch, GO! - Theo Hoàng Hà Mai, TTO, Zing...
Sau gần 700 năm bị lãng quên trong rừng rậm và mây mù. Am Ngọa Vân, nơi đệ nhất tổ của phái Trúc Lâm Yên Tử viên tịch, nay lại trở thành nơi bước chân phật tử và khách du lịch hướng về.
Để đến am Ngọa Vân con đường thú vị là đi qua dốc Đô Kiệu, theo lối Thông Đàn. Xuất phát từ Hà Nội, bạn hãy đến làng Trại Lốc (Đông Triều - Quảng Ninh). Chúng tôi xuất phát từ Trại Lốc. Đoạn đường trước khi đến dốc Đô Kiệu không quá khó đi, vì phần lớn là đi theo lối mòn. Nhưng con dốc Đô Kiệu thì quả không sai với ý nghĩa của cái tên. Dốc dựng đứng, và không có bậc, xưa kia kiệu của vua Trần khi đi theo lối này, đến đây cũng đành dừng lại (vậy nên tên gọi khởi thủy của nó là Đỗ Kiệu).
< Toàn cảnh Thông Đàn.
Thở hết dốc, và thêm một chút nữa là tới Thông Đàn. Cái tên này được giải thích do khi xưa, đây là một dải rừng chỉ trồng toàn thông.
Các vị vua cùng các nhà sư từ đời Trần đã lựa chọn nơi này bởi lẽ, vào đến đây, tiếng thông reo vi vu trong gió tựa có cả dàn nhạc đang được tấu lên.
< Những gì còn sót lại tại Thông Đàn.
Chính vì vậy, ở Thông Đàn, cũng giống như ở chùa Vân Tiêu bên Yên Tử Đông, có một nét phong thủy rất đặc trưng, đó là khối kiến trúc gồm một tòa tháp tọa giữa hai gốc thông cao vút.
Nền đá còn lại của Thông Đàn cho thấy rõ đây đã từng là một rừng tháp quy mô lớn.
< Mộ tháp dưới hai gốc thông.
Giống như một khoảng sân rộng lớn gồm ba tầng rõ rệt. Có đá lát, đá viền xung quanh. Thời gian, cùng với sự thèm khát thiếu văn hóa của nhiều con người đã biến Thông Đàn trở thành bãi đá ngổn ngang và những gốc thông trơ trọi.
Những khối đá vuông vức này là phần còn lại của những tòa tháp cổ đã bị đào xới, đánh mìn, lật tung lên để tìm của báu.
Còn Thông Đàn, sau nhiều năm bị khai thác bừa bãi và chặt trộm… giờ chỉ còn sót lại một vài gốc đứng chơ vơ hứng chịu mọi tia sấm sét của bầu trời.
Cách Thông Đàn không xa là khu hoang phế gồm phần nền móng và một bức tường đổ sau những biến động của thời gian và lịch sử. Bức tường đá ong và những nét họa tiết còn sót lại cho thấy khi còn nguyên vẹn, đây là một gian kiến trúc khá cầu kỳ, và được xây dựng rất cẩn thận.
< Gian thờ chính.
Dù vừa đi vừa nghỉ, nhưng cũng phải dồn hết sức chúng tôi mới đến được Ngọa Vân. Đặt chân tới đây, bạn cảm nhận được sự yên tĩnh đến diệu kỳ. Những bậc đá phủ rêu đưa bước chân thoát tục hướng cao lên đỉnh núi, nơi có Ngọa Vân am.
< Tháp Phật Hoàng và tháp Đoan Nghiêm.
Vẫn còn nguyên vẹn tại đây hai tòa mộ tháp nhuốm màu thời gian: tháp Đoan Nghiêm và tháp Phật Hoàng.
Dấu ấn vương giả một thời đã chìm vào quên lãng với voi đá, ngựa đá… giờ nằm lại nơi này như minh chứng cho sự gác bỏ phồn hoa trần tục của vị vua kiệt xuất đời Trần.
Phía sau gian thờ là tòa am nhỏ đề ba chữ Hán: “Ngọa Vân am”. Bên trong thờ tượng Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch có Bảo Sái quỳ chắp tay hầu.
Trong nhiều tài liệu sử liệu cổ có ghi chép về sự việc Trần Nhân Tông viên tịch, đó là tại am Ngọa Vân, vào đêm 1-11-1308.
Khi dặn dò Bảo Sát, Điều Ngự nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch.
< Tượng Phật Hoàng lúc viên tịch có Bảo Sái hầu bên cạnh.
Việc xác định vị trí am Ngọa Vân ở đâu - một vấn đề mang nhiều tranh cãi của các nhà khoa học - đến nay đã được nhà khảo cổ học Nguyễn Văn Anh và nhiều đồng sự khác tại Viện Khảo cổ học giải đáp thỏa đáng. Khi thám sát, khai quật am Ngọa Vân đoàn đã tìm được nhiều dấu tích liên quan đến việc đức vua Trần Nhân Tông viên tịch tại đây.
< Giếng đá tại Ngọa Vân có nước trong vắt.
Tiêu biểu như di vật Phật hoàng tháp, được xác định là mộ tháp của Phật hoàng, bài vị thờ ngài trong tháp và tấm bia thời Nguyễn được vua Minh Mạng cho dựng để ghi nhớ vị trí tháp mộ Trần Nhân Tông. Trong khi đó vị trí được coi là am Ngoạ Vân ở di tích Yên Tử hiện nay chỉ là công trình mới được hình thành vào thời Lê, Nguyễn.
Điều này khẳng định nơi vua Trần Nhân Tông viên tịch là am Ngoạ Vân ở xã An Sinh, huyện Đông Triều chứ không phải am Ngoạ Vân tại di tích Yên Tử hiện nay như nhiều người vẫn nghĩ.
< Ngôi mộ thật kỳ lạ...
Thầy trụ trì đi vắng, chúng tôi xin phép sư thầy Thích Tiến Thắng cho nghỉ lại một đêm. Không phải là những người đầu tiên lên chùa, hơn thế, gần đây đội khảo sát Thông Đàn cũng xin nghỉ đêm lại gian nhà khách, nên các thầy không bất ngờ. Những ngày rằm, hay ngày giỗ Nhất Tổ (3-11), các Phật tử sẽ còn lên đông nữa.
Tự nhiên, trong lòng cảm thấy tiêng tiếc một cái gì đó, giống như cảm giác sự yên tĩnh của Ngọa Vân đang bị lấy mất dần đi.
Thời gian gần đây, khách du lịch lên chùa ngày một nhiều. Trong tương lai, khi con đường bộ hoặc đường cáp treo hoàn thành, Ngọa Vân rồi sẽ trở về đúng vị trí, sẽ giống như Yên Tử hiện tại, với ồn ã kinh doanh, hành hương chen chúc... Liệu lúc đó, cửa Ngọa Vân có còn đủ chỗ cho 1 người qua đường lỡ bước xin nghỉ qua đêm?
Sáng hôm sau, tiếng tụng kinh và tiếng mõ của các thầy đánh thức mọi người dậy sớm. Lịch của các thầy bắt đầu từ 4 giờ. Trong ánh đèn pin, hai anh em dậy thu dọn đồ đạc, rồi xuống bếp chùa nấu nhờ bữa sáng. Dù các thầy có máy phát điện chạy từ con đập nhỏ phía dưới, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ nước để máy chạy. Thế nên, đèn, nến và bếp lửa vẫn là nguồn ánh sáng chính lúc này.
Buổi sáng quen thuộc của Yên Tử lại bắt đầu với nắng sớm, gió lạnh, tiếng tụng kinh gợi cảm giác thiền lặng như từ một miền xa xôi. Chào tạm biệt các thầy, chúng tôi quay về theo lối đi qua dốc Voi rồi về thôn Tân Sơn. Con đường này, đoạn gần am Ngọa Vân, hai bên trúc mọc dày đặc, ken kín một màu xanh dịu mát.
Lối đi này dễ đi hơn nhiều so với lối đi từ Trại Lốc và là ngã ba đường để đi tới chùa Hồ Thiên, nơi bắt đầu câu chuyện thứ hai về Tây Yên Tử.
Hồ Thiên tự
< Gian thờ cũ chùa Hồ Thiên.
Ngọn núi đôi nổi tiếng miền Đông là thắng cảnh thuộc hàng bậc nhất thiên hạ với những am mây, hang rồng sừng sững xanh, mây dồn, gấm tụ, đá núi liền tận Quỳnh Lâm bảo đài… Còn có cả động Trù Phong sừng sững nhấp nhô góc dồn xe biếc, đỉnh núi bao quanh, suối khe uốn lượn…
< Dốc Voi.
Chỉ có nhà Trần xưa vốn tôn sùng đạo Phật, mở núi, san nền nơi đây, xây tam cấp, dựng bảo tháp 5 tầng. Trải bao sương gió, nền móng vững bền mà biếc vàng lộng lẫy…
(Trích bia đá chùa Hồ Thiên)
Không phải là đến hẹn lại lên, mà vẫn là con đường thôi thúc. Chúng tôi lại đi Tây Yên Tử, lên chùa Hồ Thiên. Từ Hà Nội đến Đông Triều, rẽ tại ngã ba Tràng An để đến thôn Tây Sơn (xã Bình Khê). Bánh xe lăn qua những con dốc đá gập ghềnh để tới sát chân dốc Voi, ở đó có nhà chú Sơn, nhận trông xe mùa lễ hội. Chúng tôi đi lối dốc Voi. Đây là con đường dốc đứng, men theo những lối mòn nhỏ hẹp vốn là lối kéo gỗ từ trên núi xuống.
< Bãi đá chồng.
Hết dốc là lên tới đỉnh bãi Đá Chồng, tại đây có một quán nước nhỏ vốn đóng cửa quanh năm, chỉ mở trong mùa lễ hội làm điểm dừng chân cho khách. Bà chủ quán có món nước nấu từ cây cao cẳng (còn được gọi là sâm cao cẳng) vị ngọt mát, rất dễ uống.
Đường lên chùa đi qua những đồi đá, cỏ tranh đan xen với những khoảnh núi mới được phủ xanh lại bởi thông, keo và bạch đàn. Những khoảng rộng mới trồng lại, nhìn từ xa lấm tấm gợi liên tưởng như những lỗ tổ ong lớn. Nắng gắt cùng bụi tạo nên sự khô hanh, cằn cỗi.
Hồ Thiên hiện tại đã được tu sửa nhiều. Ngoài thầy Thích Trí Thông, hiện có thầy Thái An tu tại đây. Và có một phật tử giúp hai thầy công việc trong chùa, bác An, nhà ở Đông Triều. Cứ mỗi năm ngày một lần lại có người lên và cũng là mang thêm lương thực, đồ dùng cho chùa. Thầy Thái An đang chuẩn bị nhập thất. Mấy anh em gặp thầy Thích Trí Thông và tranh thủ tiếp chuyện với thầy lúc chưa vào giờ kinh kệ.
< Dãy nhà mới chùa Hồ Thiên.
Hồ Thiên là ngôi chùa nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời phong kiến. Chùa được khởi dựng dưới triều Trần. Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông (tức đệ nhất tổ phái Trúc Lâm) từng đăng đàn thuyết pháp tại đây. Sau khi ngài mất, đệ tử chùa Hồ Thiên đã tạc tượng thờ ngài.
< Bia đá chùa Hồ Thiên.
Nhiều năm sau cổ tự Hồ Thiên đã trở thành thiền viện danh tiếng của Phật phái Trúc Lâm. Đời Hậu Lê vào năm Vĩnh Khánh 1729 - 1732 và Vĩnh Hựu 1735 - 1740 triều đình đã cấp tiền trùng tu với quy mô rộng lớn khang trang lộng lẫy nhất vùng. Đến đầu thế kỷ 19 chùa bị đổ nát chỉ còn di tích.
Tại chùa Hồ Thiên còn lưu giữ tấm bia đá soạn vào năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736), đời vua Lê Ý Tông nói về việc trùng tu chùa Hồ Thiên.
< Dấu tích nền móng chùa Hồ Thiên.
Bia được dựng trong nhà bia bằng đá. Tường và mái của tòa nhà toàn bằng đá xanh. Những phiến đá lớn thớ mịn, được mài nhẵn ở tất cả các mặt, xẻ mộng để ghép rất khít vào các răng. Chúng được trang trí bằng các hoa văn họa tiết rất sinh động. Hai mặt cạnh của bia có đôi câu đối khắc nổi. Đế bia cũng được chạm khắc tinh xảo các hình rồng phượng, hoa lá... Qua gần 300 năm, mọi chi tiết, các nét chữ vẫn còn rõ nét.
< Tháp 7 tầng chùa Hồ Thiên.
Năm 1998, chuyên gia Hán Nôm Nguyễn Văn Phong khi lặn lội rừng già để đến được chùa Hồ Thiên đã ngỡ ngàng trước tòa tháp đá xanh bảy tầng tuyệt đẹp cao vút giữa rừng cây. Tiếc thay, khi khu dí tích chùa Hồ Thiên chưa được quan tâm thì tháp đã bị những kẻ đi săn tìm đồ cổ đánh sập. Thầy Trí Thông cũng chỉ đành gom góp những khối đá xanh chỏng chơ còn lại, đến mãi cuối năm 2008 mới dựng lại tòa tháp hiện nay như những gì còn nhớ được.
< Tháp gạch cổ chùa Hồ Thiên.
Trong khuôn viên của chùa Hồ Thiên, các công trình kiến trúc vẫn còn giữ nguyên phần tường xây, nền chùa và chân bệ. Hiện còn lại dấu tích của ba lớp nền bó vỉa bằng đá cuội. Ba lớp ứng với ba tầng bậc cao dần lên. Ở mặt bằng của tầng cao nhất còn nguyên các bệ đá kê chân cột, mặt tròn nền vuông có hình cánh sen được chạm cách điệu. Các bệ đá kê liền nhau, sắp xếp theo vị trí kiến trúc cột cái, cột con. Quanh chùa còn những ngôi mộ tháp, tháp gạch, tháp đá rất hiếm gặp. Các tháp này mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê. Trong một ô lõm của tháp có đặt pho tượng bằng đá trắng. Tượng được tạc trong tư thế ngồi thiền.
Buổi tối, trăng rất sáng. Mọi người nhất trí tắt máy nổ, dùng nến và ánh trăng để vừa ăn tối vừa trò chuyện. Bữa tối có món măng rừng xào ớt. Măng trúc có vị đắng nhiều hơn ngọt, gợi nhớ lại những năm trước, thời gian mà nhà chùa chỉ có vả luộc, măng trúc và chuối rừng chát ngâm muối. Đó là tất cả những gì đã giúp thầy và phật tử duy trì cuộc sống tu hành.
< Bữa tối trên chùa.
Đêm đó chúng tôi ngủ thật ngon. Hồ Thiên vẫn luôn yên tĩnh và thanh tịnh. Vẫn luôn có gió núi, trăng rừng và tiếng chuông lẩn khuất trong mây.
Lại chia tay với thầy và bác An cùng mọi người, mong sẽ sớm quay lại. Vẫn còn lối lên Hồ Thiên từ phía đập Bến Châu. Vẫn còn con đường là vẫn có lối đi. Nhất là khi một phần nơi đây đã in dấu trong mỗi chúng tôi, đó là Yên Tử, góc phía tây tĩnh lặng.
Góc lặng phía tây
Trăm năm tích đức tu hành/ Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu. Câu thơ chẳng biết có tự bao giờ, nhưng nó như kim chỉ nam để hằng năm khách thập phương lũ lượt đổ về Yên Tử, nơi từ góc nhìn tại Ngọa Vân am hay Hồ Thiên tự chính xác mang tên Yên Tử Đông. Tức ở về phía đông.
< Hồ Bến Châu, xã Bình Khê.
Vô tình như một cách chơi chữ, nó cũng thật sự là nơi đông đúc khách thập phương. Còn ở đây, sau nhiều năm chìm trong quên lãng, một góc thiền lặng phía tây đang hồi sinh từng ngày.
< Lối đi Thùm Thùm ngược dòng suối.
Để lên am Ngọa Vân và chùa Hồ Thiên, ngoài lối đi qua Thông Đàn hoặc lối đi qua dốc Voi, còn một lối đi nữa là đi đò qua hồ Bến Châu. Từ chợ Bình Khê, đi vào tới khu vực đập Bến Châu, chúng tôi hỏi đường lên đập tìm vào nhà anh San chị Luận chuyên chở khách đi thuyền.
< Lối đá nhỏ qua suối dẫn lên miếu Cậu.
Hồ Bến Châu khá rộng, nhưng với chiếc thuyền gắn máy, một chiều đi chỉ mất chừng 10 phút. Xe máy cũng được gửi lại đây.
Nước hồ xanh và trong vắt. Nhưng sau mới biết do việc khai thác than làm lượng than bùn cùng hóa chất lắng xuống hồ quá nhiều, rong rêu không thể mọc và tôm cá cũng chẳng loài nào sống nổi.
Trên mặt hồ giữa các đảo có một dãy cột bêtông, dự định để bắc cầu nối các hòn đảo lại với nhau. Cột có lẽ đã được xây một thời gian nhưng cầu vẫn chưa xong. Bờ bên kia hồ, một đàn trâu lớn thả rông đang nhẩn nha nằm nghỉ ngay sát mép nước.
Rời thuyền, chúng tôi bắt đầu hành trình đi bộ theo lối Thùm Thùm. Đoạn đầu đi qua một dãy vườn vải, sau đó ngược dòng suối. Con suối trong hướng dẫn nằm tít dưới sâu, lòng suối cạn, thỉnh thoảng có những đoạn nước dồn thành vũng lớn. Đi đến khi gặp những tảng đá nhỏ xếp ngay ngắn thành con đường cắt ngang suối, vậy là đã tới được miếu Cậu.
< Con đường lên chùa qua những ngọn đồi mới trồng thông, lấm tấm như tấm thảm rộng.
Đi tiếp theo hướng những mũi tên sơn đỏ do bà con trong vùng vẽ chỉ lối lên chùa, đến gần trưa mọi người mới dừng lại nghỉ. Trời nắng gắt, nhưng gió nhẹ và không khí trong lành làm mọi mệt nhọc đều tan biến.
Nghỉ trưa xong, hành trình tiếp tục với những đoạn dốc lên xuống và những đoạn suối uốn lượn lùi lại. Một trảng cỏ rộng trải ra trước mắt. Mùa khô, mọi thứ đều cằn cỗi. Qua đoạn này là tới khu vườn vải, ngã ba đường đi tới am Ngọa Vân hoặc lên chùa Hồ Thiên.
< Phật tử lên chùa, đồ mang theo còn có can xăng nhỏ giúp nhà chùa chạy máy phát khi mùa nước cạn.
Đường lên chùa là dốc núi khó đi. Những đoạn dốc đứng đường đất, gần như không có bậc để đặt chân. Chỉ đến những đoạn dốc đá mới có bậc được xếp tạm.
Cảnh cũ, chùa cũ và cây cỏ cũ. Gặp lại thầy Trí Thông, bác An thì đã về Đông Triều. Thầy Thái An cũng không còn ở đây. Nhà chùa đang cho xây thêm một gian nhà khách, cũng gần xong. Cả Ngọa Vân và Hồ Thiên đều đang có những thay đổi. Những thay đổi làm nơi này bớt hoang vắng, nhưng cũng đang mất dần sự yên tĩnh trước đó.
< Nắng sớm bên chân tháp chùa Hồ Thiên.
Mâu thuẫn vẫn là mâu thuẫn. Cái sang trọng và thanh tịnh dường như là hai khái niệm khó có thể đi cùng với nhau.
Có thể nhận thấy điểm tương đồng giữa Hồ Thiên và Ngọa Vân là cùng một thế núi vòng cung, mà như mọi người vẫn nói: thế núi ngai vua. Cùng nằm ở nơi xa khuất, không dễ dàng gì tới được. Và sự khác biệt cũng cảm nhận được: Ngọa Vân giờ đông đúc hơn (các sư thầy, đội khảo sát Thông Đàn, cùng những người làm), còn Hồ Thiên vắng vẻ hơn dù về quy mô Hồ Thiên lớn hơn Ngọa Vân nhiều.
Đường vào vẫn còn khó khăn, nhưng so với thời gian các thầy chỉ có chuối rừng muối, lá vả luộc, cũng như rau củ rừng giờ đã khác xa lắm rồi. Đều đặn vẫn có phật tử gánh đồ theo những dốc đá mà người bình thường đi thấy bở hơi tai để mang lên cho chùa.
Cuộc sống tu hành đã bớt đi một phần lo toan, tuy nhiên vẫn chưa phải hết. Có lẽ phải có được cái tâm bình lặng trước mọi sự biến đổi như thầy Trí Thông mới có thể giữ trọn đạo tu.
Hiện nơi đây vẫn còn đủ yên tĩnh. Trăng đầu tháng nửa vầng đủ soi rõ cảnh vật, gió đêm mới chỉ se se lạnh, và vị ngòn ngọt từ nước giếng chùa. Tiếng chuông gió khẽ đưa từ mái hiên, tiếng côn trùng rả rích bốn bề. Đó thật sự là sự lôi cuốn của tĩnh lặng chứ không phải của sự ồn ào. Ngoài xa dưới kia, ánh đèn đường 18 vẫn sáng lung linh suốt đêm, ở đó cuộc sống vẫn đang diễn ra không ngừng nghỉ.Đi xa hơn một chút, vắng vẻ hơn một chút, thời gian dư ra thêm một chút, người ta có thể nghĩ nhiều hơn và quên đi nhiều hơn. Quên con đường vào lắt léo, quên dốc Đô Kiệu dựng đứng, quên bãi Thông Đàn nền cũ ngổn ngang, quên cả am chùa tĩnh mịch, rồi quên cả gió, núi và trăng... Người ta cố đi thật xa là để nhận ra chân lý hay là để trốn tránh bụi trần?
Vẫn là Hồ Thiên và Ngọa Vân với những nền móng, chùa tháp cũ sót lại. Vẫn còn xa tới khi đường vào tây Yên Tử được hoàn thành.
Du lịch, GO! - Theo Hoàng Hà Mai, TTO, Zing...
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













.jpg)
























.jpg)



.jpg)

.jpg)




.jpg)


.jpg)


.jpg)

.jpg)



.jpg)

.jpg)
.jpg)