Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Đền Thánh Giuse Sa Châu - Nam Định

Đền Thánh Sa Châu tọa lạc tại Giao Thủy, Nam Định. Sa Châu là đền thánh thứ 3 trong giáo phận Dâng kính thánh cả Giuse công nhân bổn mạng nam giới giáo phận.

Sa Châu là vùng đất gần cửa biển, đầy cỏ và lau sậy, nhân dân các vùng Lục Thủy, Tương Nam, Bách Tính, Ninh Cường, Trà Lũ... tới khai hoang, sinh cơ lập nghiệp và ngôi nhà thờ đầu tiên được xây dựng trực thuộc xứ Quất Lâm.
Năm 1914 được Đức Cha Trung ban sắc lên hàng giáo xứ cho đến ngày 1/5/1995 được đức cha Giuse Vũ Duy Nhất xức dầu thánh hiến và nâng lên hàng đền thánh trong giáo phận, đây không chỉ là niềm vui lớn với Sa Châu và cả giáo phận Bùi Chu. Sài Gòn có đền Công Chính - Bùi Chu có đền thánh Sa Châu.

Nhà thờ dài 75m, rộng 25m, cao 22m. Qua bao biến cố của lịch sử, qua hai cuộc kháng chiến Chống Pháp và chống Mỹ, nhà thờ đã bị tàn phá - biến dạng và hư hỏng nặng nề. Vào thời gian Cha Gioakim Vũ Cao Đường làm Chánh xứ thì Nhà thờ đã được nâng cấp - sửa chữa và mở rộng thêm nhiều so với trước đó, một số khu nhà Quán - nhà Chung (nhà Bông)... đã được làm mới - Cả khuôn viên xung quanh nhà thờ cũng vậy. Sau khi Cha Gioakim Vũ Cao Đường qua đời, Cha Vinh Sơn Nguyến Thế Vĩnh được Đức Cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất (Tòa giám mục Bùi Chu) cử về làm chánh xứ.

Đến năm 1998 phía cuối nhà thờ còn được xây dưng thêm kỳ đài Thánh Giuse, sau đó là 14 Đàng Thánh Giá cũng được xây dựng (được đúc như kích thước người thật bằng bê tông cốt thép) xung quanh Đền Thánh và các Cổng vào Đền cũng như dãy nhà học Giáo Lý - Nhà Dòng... Cha Vĩnh đã có góp rất nhiều công sức vào việc xây dựng xây mới và sửa chữa Đền Thánh Sa Châu khang trang sạch đẹp như ngày hôm nay.

Hàng năm cư thành thông lệ, ngày 1/5 Đức cha về dâng lễ kính thánh Giuse công nhân đồng thời cũng là ngày chầu lượt của giáo xứ đèn thánh Sa Châu và trong ngày lễ thì có cuộc rước và dâng hoa rất hoành tráng.

Năm 2006 giáo xứ đền thánh Sa Châu và giáo xứ Quất Lâm đã tổ chức thành công ngày lễ truyền thống của sinh viên công giáo - giáo phận Bùi Chu lần thứ nhất.

Du lịch, GO! - Theo NTO, internet

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

Chùa Ngọc Hoàng linh thiêng giữa phố thị

Sài Gòn những những ngày đầu năm, nơi dừng chân của chúng tôi trong chuyến đi đầu năm.
Dưới cái nắng âm ấm hơi chút nhẹ nhàng của buổi sớm mai, Sài Gòn hôm đó không còn sự tấp nập như mọi ngày, nói đúng hơn không khí xuân đang bao tỏa khắp nơi nơi, Sài Gòn những ngày này thật tuyệt!.

< Phước Hải Tự (Ngọc Hoàng Điện) - cổng chính 

Trên con đường Mai Thị Lựu, dẫn chúng tôi đến số 73, nơi tọa lạc là ngôi chùa Ngọc Hoàng, nằm ở quận Nhất, Tp.Hồ Chí Minh. Đây vốn là ngôi chùa nhỏ nhưng hằng ngày lại thu hút nhiều khách đến thăm, và cũng là điểm hấp dẫn cho khách du lịch nước ngòai khi mua các sản phẩm du lịch.

< Ngọc Hoàng Điện - nơi lễ thờ thần Ngọc Hoàng.

Chùa Ngọc Hoàng hay còn gọi là Ngọc Hoàng Điện, rộng khoảng 2.300m2. Cái tên này do một người tên Lưu Minh đặt ra, có nghĩa là nơi thờ thần Hoàng, ngôi chùa vốn được xây dựng từ năm 1892.

< Phước Hải Tự - Miếu thờ thần Hộ Pháp.

Lối kiến trúc hoàn toàn theo lối của người Hoa, với nhiều hoa văn họa tiết được xây dựng bằng gạch xưa, mái lợp ngói âm dương với nhiều màu sặc sỡ. Được xây dựng từ năm 1892 và  trải qua 16 năm sau mới được khánh thành là Ngọc Hoàng Điện.

< Phước Hải Tự - Khoảng sân rộng, du khách có thể nhìn tòan cảnh.

Theo sử sách ghi lại thì kiến trúc ban đầu được ông Lưu Minh (người Quảng Đông) xây dựng để thờ cúng cho việc làm ăn thuận lợi sau này đến năm 1982 chùa được hòa thượng Thích Vĩnh Khương tiếp quản.

< Hồ nước giữa sân chùa - nơi du khách ngắm nhìn cá, rùa.

Kể từ đó ngôi chùa đã thuộc về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, trong tâm thức của người Việt thì ngôi chùa này mang sự linh thiêng cùng nhiều ấn tượng với tên gọi là Phước Hải Tự nhưng người dân quen gọi là chùa Ngọc Hoàng hơn.

< Chùa Phước Hải - nghi ngút khói tỏa trong sân.

Nói về kiến trúc các chùa chuyền thì ở Sài Thành ngày nay có rất nhiều chùa mang những điểm chung nhau là thờ phật, hay ngay tại trung tâm có những chùa lớn như Vĩnh Nghiêm, Việt Nam Quốc Tự, Xá Lợi,… đây là những chùa được xem là quy mô lớn tại thành phố, với những kiến trúc phật pháp chẳng mấy khác nhau. Thì với Chùa Phước Hải có kết hợp giữa kiến trúc Hoa – Việt trong những năm 1800 và là nơi duy nhất có thờ thần Ngọc Hoàng.

< Phước Hải Tự - thu hút khá nhiều khách đến thăm.

Với dân gian Ngọc Hoàng nghĩa là vị thánh tối cao và cũng là vua trên trời cao, ông rất đỗi nhân từ, một bậc thiên tôn vĩ đại. Chùa Ngọc Hoàng ngày nay đã trở thành một di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia với tên gọi là “Điện Ngọc Hoàng”.

< Mái chùa đặc sắc với hình lưỡng long tranh nhau.

Với người Việt, đây là ngôi chùa rất linh thiêng, được nhiều du khách chọn làm nơi nghé thăm. Sự rộng mở đón khách bất kể giờ nào của ngôi chùa để đặt chân đến nơi linh thiêng hàng trăm năm qủa là điều thú vị. Ẩn sau đó là từng nhân vật thần thánh siêu nhiên đã từng được nhắc. Đến để cầu tài lọc cầu bình an hay đơn giản chỉ là trải lòng mình nơi cửa Phật.

< Chùa Ngọc Hoàng - Những khỏang không ánh sáng độc đáo

Du khách khi bước vào ngôi chùa này, sẽ thấy sự thích thú với hồ nước, hoa sen, nơi giữa sân, trong khói hương bay tỏa khắp sân trên ngôi chùa hàng trăm năm tuổi. Chúng tôi nghỉ chân ở phía trước, khoảng sân tựa ngắm dòng người lễ phật.

< Thần Ngọc Hòang - cùng các chư vị quan thánh

Phía bên tay phải là nơi có hồ nuôi rùa, phần lớn rất nhiều rùa tập trung ở đây. Đây là một kiến trúc theo quan niệm Á Đông “trước có nước, sau có núi”. Dưới bóng cây đa hàng trăng tuổi đã có từ thời mới thành lập như một minh chứng lịch sử của thời gian, chúng tôi cảm thấy sự an bình như tìm về tĩnh lặng.

< Phước Hải Tự - Phật Chuẩn Đề (còn gọi Quan Âm)

Những chú chim bồ câu như làm sóng động cả không gian, trong tiếng vỗ cánh đành đạch bay xa chúng tôi còn bắt gặp đâu đó tiếng kêu đùa của trẻ con đang nô đùa trong sân chùa làm phá tan bầu không khí yên lặng.

Lối kiến trúc bố trí theo nhiều bố cục khác nhau như bên ngoài là cổng tam quan nối dài vào đến nơi bái đường. Cổng tam quan khá nổi bật với hình sóng nước của hai con rồng theo tư thế tranh nhau trên trời cao. Bên cạnh nét  trang trí đồ vật và hình nhân, phần trang trí cho kiến trúc bên ngoài cũng sử dụng nhiều hoa lá làm tươi mát mái chùa.

< Phước Hải Tự  - Bến tay phải Ngọc Hoàng là Trấn Võ tay cầm kiếm - và các thiên tướng.

Chung quanh có hàng lang bao bọc tạo nên sự kính đáo và cách ly với sự ồn ào của thế giớ bên ngoài, những chiếc lồng đèn sắc đỏ Trung Hoa được treo trên cổng dẫn lối chúng tôi đến nơi chiêm bái đầu tiên.

Chùa Ngọc Hoàng có tổng cộng trên 300 tượng thờ, được phân bố trong ba gian thờ, mỗi gian nhà thờ là một tác phẩm kiến trúc mỹ thuật mang nét đặt sắc giữa thiên - địa. Gian lớn nhất là tiền điện nằm ở giữa, sau đó là trung điện và chánh điện. Gian ở giữa nối liền với cổng vào, đây là gian thờ các bậc thiên tướng và Ngọc Hoàng, theo thứ tự từ ngoài vào trong gồm có: Thổ địa bên trái cửa vào, Môn Quan bên phải cửa vào và Phật Dược Sư đặt ở giữa chánh điện.

< Gian thờ Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ.

Cung thờ Ngọc Hoàng ở giữa, du khách có thể thấy được vẻ uy nguy, khuôn mặt chữ điền bình thản, hai má cao và rộng, hai tay cầm cầm tịnh liễn, đầu đội mũ bình thiên, có các văn võ đứng hầu, đây là pho tượng lớn nhất trong chùa.

< Gian địa phủ - Thần Hoàng (diêm vương) - Lỗ Ban.

Bên trái là cung thờ Chuẩn Đề Quan Âm với chiếc áo vàng nhiều cánh tay còn bên phải là cung thờ Thái Ất Chân Nhân cưỡi chim hạc ở trên cao và tứ đại kim quang, hòa thượng Đạo Minh, Bắc Phương Trấn Võ (vị vua trấn giữ phương Bắc, mô tả ông trong tư thế ngồi, chân tựa lên hai con vật: chân phải là rùa, chân trái là rắn - tượng trưng cho tà ma, yêu quái). Ngoài ra còn có các tượng thờ khác như: Nam Tào, Bắc Đẩu, Hoa đà tiên sư,… Các tượng thờ ở đây đều bằng gỗ, một số ít làm bằng giấy bồi, có lẻ nơi đây là nơi duy nhất còn lại các bức tượng này.

Đi qua gian tiền định, du khách bước vào gian trung điện, hai gian này ngăn cách nhau bởi hành lang nhỏ chỉ đủ qua lại. Gian bên trái từ ngoài vào, từ trước ra sau có những hương án với các tượng thờ sau: Gian đầu tiên thờ Kim Hoa thánh mẫu, mười hai bà mụ và các nhũ mẫu chạm trổ tinh tế, họa tiết ấn tượng trong các tư thế nuôi dạy cho trẻ nhỏ, là gian cầu tự cho những người hiếm muộn.

< Hai vị Song án - mã phu nơi gian thờ địa phủ.

Gian tiếp theo là Thập Điện Diêm Vương, gồm có thờ các Nhị Vị song án, Mã tướng quân, Thành Hoàng Lỗ Ban và Thái Tuế, trước đó là mười bức chạm gỗ cảnh mười cửa ngục phân bổ đều trên các bức tường. Nối liền 2 gian có các tượng thờ: Quan Âm, Kim Đồng, Ngọc Nữ, Địa Tạng Vương bồ tát,… Ngọc Hoàng Điện luôn mở, khách có thể bước chân vào bên trong chụp ảnh. Những mảng gỗ sậm từ tường cột đến từng bức tượng tạo cho không gian một vẻ tĩnh mặc.

< Những bức trạm gỗ mô tả mười hai cảnh ở cửa ngục

Cảm giác nhẹ nhàng khi bước chân vào Điện Ngọc Hoàng chính là khoảng sân của chùa nơi đó khách có thể nghĩ ngơi, chụp ảnh, ngắm chim trời và rùa. Dưới bóng mát của cây đa hàng thế kỷ, bóng cây tỏa mát để chụp hình, và từng góc tường, từng gọn cong vút của chùa hay những bức tượng đều dành cho du khách tham quan. Lúc chúng tôi đến là những ngày xuân, toàn không gian đã thấy khói hương nghi ngút như sương mù, từng người tấp nập chen nhau đốt từng nén nhan với bao thành ý trong năm.

< Hay một chút may mắn để cầu may nơi vị Thần tài.

Một năm mới với nhiều điều may mắn: An khang – Hạnh phúc – May mắn cho gia đình, bản thân và cả cho xã hội, chúng tôi cũng đang mong như thế với bao đều tốt đẹp, đến chùa để cầu mong trước những linh tượng thần thánh đó cũng là một niềm tin mang đến cho con người một sức mạnh dù ở bất cứ nơi đâu và làm gì cũng phải cố gắn. Và đâu đó trong dòng người tấp bập hôm ấy, tôi và mọi người sẽ có chung những ước mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lễ hội lớn nhất của chùa là lễ Vía Ngọc Hoàng diễn ra vào mồng 9 tháng Giêng hoặc mồng 9 tháng 11 âm lịch thu hút khá nhiều khách đến chùa. 

CHÙA NGỌC HOÀNG (PHƯỚC HẢI TỰ)
ĐỊA CHỈ: 73, MAI THỊ LỰU, QUẬN 1, TP. HỒ CHÍ MINH

Du lịch, GO! - Theo YuMe

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Chùa Hương tuyệt đẹp trên báo quốc tế

Không chỉ đẹp và lãng mạn, chùa Hương còn nổi tiếng là miền đất Phật thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước đến hành hương, thưởng lãm.

< Chùa Hương là một danh lam, thắng cảnh đẹp bậc nhất ở miền Bắc.

Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày khai hội, chùa Hương lại đón tiếp hàng nghìn lượt du khách tham dự. Dự kiến trong mùa lễ hội năm nay, chùa Hương sẽ đón khoảng 1,5 triệu lượt khách.

Trong không khí của ngày hội, người ta vẫn nhận ra vẻ đẹp rất riêng của nơi này với núi, sông, mây, nước với hương khói mơ màng của cảnh sắc cũng như toát ra từ chốn tâm linh.
Dưới đây là một số bức ảnh đẹp về chùa Hương trên Corbis...

Lễ hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương là một lễ hội lớn nổi tiếng kéo dài trong suốt 3 tháng, từ tháng 1 đến hết tháng 3 âm lịch. Trong đó, thời điểm đông nhất, náo nhiệt nhất là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch.
< Bến thuyền trong mùa trẩy hội.
Các tuyến trong khu thắng cảnh Hương Sơn bao gồm: Đền Trình - Chùa Thiên Trù - Động Tiên Sơn - Chùa Giải Oan - Đền Trần Song - Động Hương Tích - Chùa Hinh Bồng; Chùa Thanh Sơn - Động Hương Đài; Chùa Long Vân - Động Long Vân - Hang Sũng Sàm; Chùa Bảo Đài - Động Chùa Cá - Động Tuyết Sơn...
Đường vào chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền, cộng thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật. Con người được hòa nhập vào núi vãn cảnh chùa chiền và bắt đầu hành trình mới - hành trình leo núi.
Nổi tiếng trong hệ thống danh lam, thắng cảnh chùa hương là động Hương Tích. Động có dáng như là con rồng chúa đang há miệng vờn ngọc. Tháng ba năm Canh Dần(1770), Chúa Trịnh Sâm từng thăm quan động và đặt tên cho động là "Nam Thiên đệ nhất động" tức động đẹp nhất trời Nam.

Trong động có pho tượng Phật bà Quan Âm làm bằng đá xanh tạc thời Tây Sơn và hàng vạn nhũ đá nhấp nhô với biết bao hình thù kỳ lạ: Bầu Sữa Mẹ, Hoa Phiền Não, Đụn Gạo, đụn Tiền, núi Cậu, núi Cô, Cây Vàng, Cây Bạc,...


Nét thanh tịnh của miền đất Phật đã tạo cho con người, cảnh vật hòa lẫn vào không gian khi vào hội...

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Datviet, Daophatngaynay

Ra Hòn Nghệ viếng chùa Liên Tôn

Về Hà Tiên, du khách ghé Ngã Ba Hòn lên tàu ra Hòn Nghệ để viếng Liên Tôn cổ tự. Đây là một ngôi chùa cổ kính, hoang sơ với cảnh quan tuyệt đẹp.

< Trên đường ra hòn Nghệ: đây như “Tiểu Hạ Long” phương Nam.

Sau hai giờ hải hành trên biển với gió thường cỡ cấp 2, cấp 3, tàu cập bãi Nam của Hòn Nghệ. Từ phía biển, du khách sẽ được chiêm ngưỡng bức tranh non nước hữu tình của hòn đảo xinh đẹp này. Ấn tượng đầu tiên là tượng Phật Bà Quan Âm cao 20m đứng uy nghi, tự tại giữa lưng chừng núi Lầu Chuông. Đây là ngọn núi đá vôi bị xâm thực nên có hình dáng đẹp, kỳ vĩ với nhiều hang động bí hiểm.

Khách sang thuyền nhỏ vào bờ. Sau mươi phút nghỉ ngơi đã có thể bắt đầu khám phá Hòn Nghệ. Chùa cổ Liên Tôn là điểm đến chủ yếu của chuyến đi.

Liên Tôn cổ tự có từ rất lâu đời, nằm cheo leo dựa lưng vào vách núi. Bạn phải qua hàng trăm bậc đá ngoằn ngoèo, quanh co, lúc lên cao, khi xuống thấp. Gần tượng Phật Bà có Hòn Đá Chuông kỳ lạ, dùng một cục đá nhỏ gõ vào, đá sẽ vang lên tiếng “boong... boong... boong...”, như tiếng chuông chùa ngân nga, đồng vọng.

Đến gần chùa, bên trái vách núi là một quần thể tượng các vị La Hán bằng đá trắng được tạc đẽo, tạo dáng rất công phu, tỉ mỉ và thanh thoát. Trên bề mặt của một tảng đá to sau lưng vườn tượng, nước mưa chảy, gió biển mài mòn, xâm thực lâu ngày tạo thành những dòng chữ lạ lùng.

< Liên Tôn cổ tự.

Chánh điện chùa cổ nằm sâu trong hang đá chừng 20m, phải đi theo một lối mòn hẹp mới đến được chỗ thờ Phật, nơi đây nở rộng ra chừng 80m2. Quanh vách động có nhiều hình tượng lạ lùng do nước xoi vào đá tạo nên như  rồng, voi, sư tử, beo, cọp...

Trên nóc động có vài lỗ thông gió, ánh sáng rọi xuống hang tạo thành những vệt sáng xiên xiên mờ ảo... Ở sân chùa, có một cây bồ đề cổ thụ cành lá sum sê.

< Tượng Phật Bà Quan Âm ở núi Lầu Chuông.

Đêm trên chùa Liên Tôn sẽ cho bạn nhiều cảm xúc. Vào những ngày có trăng từ mồng 10 đến sau rằm, cảnh vật núi Lầu Chuông và biển Hòn Nghệ đẹp như chốn non bồng. Biển sáng lấp lánh với muôn vàn vẩy bạc ánh lên từ những ngọn sóng có khi lăn tăn, yên ắng, cũng có lúc trắng xóa, bạc đầu. Chùa cổ như trầm tư trong làn sương mỏng huyền hoặc, thâm u. Du khách mơ màng trong tiếng trống mõ, chuông chùa hòa với tiếng sóng biển vỗ xào xạc vào những ghềnh đá hoang sơ...

Chúng tôi theo sư Thích Minh Công khám phá hang Phật Cô Đơn. Đường đi qua nhiều ngóc ngách quanh co lắt léo, có khi phải bò qua những mỏm đá. Hang nhỏ bằng một gian phòng khách, có một tượng Phật lẻ loi bằng đá, khoác áo cà sa màu gạch tôm mà ai đó đã đặt chẳng biết tự bao giờ. Từ cửa hang có thể nhìn thấy biển đẹp như bức tranh thủy mặc...

Tiếp đến là hành trình dài chừng 100m khám phá hang Gia Long dành cho những ai thích mạo hiểm. Hang nằm sát biển ở độ cao trên 10m, vách gần như thẳng đứng. Có hai con đường đi đến hang, một dọc theo mép biển, hai vượt qua đỉnh núi đá tai mèo cheo leo. Cả hai con đường này rất hiểm trở với gành đá, vực sâu, núi cao, gây cảm giác mạnh cho khách.

Vào các dịp lễ hội hoặc những ngày rằm lớn, khách hành hương từ các nơi vượt biển đến với chùa Liên Tôn khá đông đúc, nhộn nhịp. Mọi người như trút hết những phiền não, tĩnh tâm chiêm nghiệm lời kinh tiếng kệ ấm trầm ngân vọng giữa chốn thiền lam u nhã...

Hòn Nghệ với Liên Tôn cổ tự và các hang động như hang Phật Cô Đơn, điện Sư Tổ Đạt Ma, hang Quýt, hang Gia Long với những truyền thuyết và huyền thoại ly kỳ vẫn còn ẩn giấu rất nhiều điều bí mật, lạ lùng đang chờ được du khách khám phá!

Du lịch, GO! - Theo TTO, internet

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

Mạo hiểm hành hương

Leo lên chùa Đồng trên đỉnh non thiêng Yên Tử chẳng khác nào tham gia một cuộc leo núi nguy hiểm. Hàng ngàn người chen lấn xô đẩy trên con đường mòn cheo leo bên bờ vực sâu hun hút, khi xuống núi vẫn tim đập chân run.

< Ảnh chùa Đồng vào ngày tốt trời.

Dù tới mùng 10 tháng giêng mới khai hội Yên Tử nhưng ngay từ mùng một tết, mỗi ngày đã có hàng chục ngàn lượt người ùn ùn kéo về đất tổ thiền phái Trúc Lâm trên đỉnh Yên Tử, TP.Uông Bí, Quảng Ninh.

< Hệ thống cáp treo Yên Tử chỉ giúp khách hành hương giảm được một phần đoạn đường leo lên chùa Hoa Yên và chùa Đồng.

Con đường từ ngã ba nối QL18 vào Yên Tử dài hơn 13 km quanh co với nhiều khúc cua tay áo. Dù mặt đường được thảm khá phẳng nhưng cả quãng đường chỉ có vài chiếc gương cầu.

Nhiều đoạn cua gấp xuống vực suối không có gương cầu khiến lái xe giật mình bởi những chiếc xe máy ngược chiều, người lái không đội mũ bảo hiểm, phóng vun vút chém làn đường một cách thản nhiên.

< Sau khi đi cáp treo, du khách vẫn phải leo bộ một đoạn khá dài với những vách đá lởm chởm...

Khác với chùa Hương hay đền Hùng, ở Yên Tử không có (hoặc chưa có) cảnh cờ bạc, vui chơi có thưởng tràn lan, xô bồ. Người ăn xin cũng rất ít… Chùa được đầu tư xây dựng khang trang, khuôn viên xanh mướt, không gian thanh tịnh.

Tuy nhiên, con đường lên đỉnh núi càng đi càng khó khăn, hàng trăm bậc đá lên chùa Hoa Yên quá nhỏ, chỉ vừa già nửa bàn chân khiến những bước chân du khách ngập ngừng, rón rén. Hai bên lan can bậc thang là những con rồng đá, tuy rất đẹp nhưng lại không tiện dụng bởi khách hành hương sẽ rất khó bám được vào gờ trên sống lưng rồng vừa to, vừa cao để đi lên.

Chen lấn bên bờ vực

< Khách hành hương chen chúc nhau qua khe đá hẹp.

Những bậc đá dù nhỏ vẫn còn là cung đường lý tưởng nếu so với cung đường cả ngàn mét từ chùa Hoa Yên lên chùa Đồng ở đỉnh non thiêng Yên Tử (cao hơn 1.000m so với mực nước biển). Những bậc thang lát gạch đã hết, người ta làm một số bậc bằng bê tông sỏi cát đắp vào tảng đá. Tuy nhiên, số bậc này quá ít ỏi so với hàng ngàn bước chân rầm rập đùn đẩy, luồn lách, người xô kẻ túm tranh nhau vượt lên phía trước. Người đuối sức đứng lại bên đường thở phì phò, nhưng khốn nỗi đường quá hẹp, người dừng lại cản bước người đi, người lên chen với người xuống tạo ra sự ùn tắc, hỗn loạn và nguy hiểm.

< Tọa lạc chót vót trên đỉnh núi thiêng, chùa Đồng (rộng hơn 10m2, nặng chừng 70 tấn) trông như một bông sen nở giữa đỉnh trời - nơi lộng gió và đẫm sương mù.

Ông Lê Hoàng Bình, 64 tuổi, ở Dương Kinh, TP.Hải Phòng chỉ vào đầu gối bị sứt sát: “Không ai khuyến cáo người già, trẻ em không nên lên đường như thế này, nên chúng tôi cứ tưởng đi chùa là được thưởng ngoạn, hóa ra toàn người chen người trên dốc đá trơn trượt. Tôi đang leo bị một cậu thanh niên nhảy vù qua, tôi trượt chân té xuống sứt cả đầu gối. Theo tôi, cần làm lại con đường lên chùa Đồng bằng bậc thang rộng và thoải, có lan can như đoạn dưới, chứ để thế này quá nguy hiểm”.

Đứng bên cạnh, chị Trần Thanh Tú, 34 tuổi, ở P.Đại Kim, Q.Hoàng Mai, Hà Nội cùng chồng dắt con 3 tuổi leo lên, mặt tái xanh, thở hổn hển: “Em đi chùa cầu an, ai ngờ lên đây mới biết đi thế này quá dễ gặp tai nạn. Ở đây đã có đường lên, đường xuống riêng, nhưng du khách không biết hoặc cố tình chen vào đi cả hai chiều, đường thì hẹp, chỉ cần một người ngã là sẽ kéo cả chục người lăn xuống những khe đá sâu hun hút thế kia. Ai ngờ đến cửa chùa lễ Phật cũng có khúc tắc đường tới 30 phút”.

Chỗ chị Tú nói bị tắc là ở những khe đá hẹp cao ngang vai người lớn, chỉ vừa cho một người lọt qua. Trong khi đó, cả dòng người đi lên, đi xuống đấu đầu nhau nên không bên nào đi được. Nhiều người bán hàng cho biết, đến khi chính hội, có thời điểm tắc đường đến 2-3 tiếng, dòng người chỉ còn biết đứng dưới trời mưa lạnh để chờ, ai may mắn đứng ở cuối hàng mới có thể quay về.

Nhưng “cuộc đua” leo núi mạo hiểm còn gay cấn đến cả khi về đích. Sau gần 1 giờ toát mồ hôi chen lấn, du khách mới  đến được chùa Đồng trên đỉnh non thiêng.

Giữa mây mù, gió thổi hun hút lạnh thấu xương là cả dòng người lao tới sờ tay, thắp nhang, quẹt tiền vào cột chùa, vào khánh, vào chuông để mong được may mắn. Nhưng không như chùa dưới đồng bằng có sân rộng lát gạch, bậc thềm lát đá, xung quanh chùa Đồng là những mỏm, những tảng đá to như một gian nhà, chỉ một cú trượt chân cũng sẽ khiến nạn nhân đập đầu và đá, nhẹ thì gãy chân, nặng thì chấn thương sọ não.

Không gian chật hẹp ấy là điểm đến của cả vạn người, thêm vào đó, ban tổ chức lại không bố trí đường vòng 1 chiều chạy quanh chùa nên con nhang đệ tử, người vãn cảnh hay người cầu danh lợi cũng lao tới từ tứ phía, thậm chí còn luồn qua các khe đá để chui lên sờ cho được tay vào cột, vào kèo bằng đồng nâu bóng.

Ba bốn anh thợ ảnh đứng trên các tảng đá hua hua ống kính, gào lên mời khách, gọi khách trả ảnh hay đuổi người đứng trước để chụp ảnh cho khách đứng sau. “Chuyện tai nạn té ngã ở đây chẳng có gì là lạ. Có năm có tới 3-4 vụ du khách té ngã, bị gãy chân hay chảy máu đầu ở đường lên cũng như khu vực đến chùa Đồng này”, một thợ ảnh cho biết.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thanhnien và nhiều nguồn khác

Phượt Tây Yên Tử

Con đường kỳ bí lên Ngọa Vân am.

Sau gần 700 năm bị lãng quên trong rừng rậm và mây mù. Am Ngọa Vân, nơi đệ nhất tổ của phái Trúc Lâm Yên Tử viên tịch, nay lại trở thành nơi bước chân phật tử và khách du lịch hướng về.

Để đến am Ngọa Vân con đường thú vị là đi qua dốc Đô Kiệu, theo lối Thông Đàn. Xuất phát từ Hà Nội, bạn hãy đến làng Trại Lốc (Đông Triều - Quảng Ninh). Chúng tôi xuất phát từ Trại Lốc. Đoạn đường trước khi đến dốc Đô Kiệu không quá khó đi, vì phần lớn là đi theo lối mòn. Nhưng con dốc Đô Kiệu thì quả không sai với ý nghĩa của cái tên. Dốc dựng đứng, và không có bậc, xưa kia kiệu của vua Trần khi đi theo lối này, đến đây cũng đành dừng lại (vậy nên tên gọi khởi thủy của nó là Đỗ Kiệu).

< Toàn cảnh Thông Đàn.

Thở hết dốc, và thêm một chút nữa là tới Thông Đàn. Cái tên này được giải thích do khi xưa, đây là một dải rừng chỉ trồng toàn thông.

Các vị vua cùng các nhà sư từ đời Trần đã lựa chọn nơi này bởi lẽ, vào đến đây, tiếng thông reo vi vu trong gió tựa có cả dàn nhạc đang được tấu lên.

< Những gì còn sót lại tại Thông Đàn.

Chính vì vậy, ở Thông Đàn, cũng giống như ở chùa Vân Tiêu bên Yên Tử Đông, có một nét phong thủy rất đặc trưng, đó là khối kiến trúc gồm một tòa tháp tọa giữa hai gốc thông cao vút.

Nền đá còn lại của Thông Đàn cho thấy rõ đây đã từng là một rừng tháp quy mô lớn.

< Mộ tháp dưới hai gốc thông.

Giống như một khoảng sân rộng lớn gồm ba tầng rõ rệt. Có đá lát, đá viền xung quanh. Thời gian, cùng với sự thèm khát thiếu văn hóa của nhiều con người đã biến Thông Đàn trở thành bãi đá ngổn ngang và những gốc thông trơ trọi.

Những khối đá vuông vức này là phần còn lại của những tòa tháp cổ đã bị đào xới, đánh mìn, lật tung lên để tìm của báu.

Còn Thông Đàn, sau nhiều năm bị khai thác bừa bãi và chặt trộm… giờ chỉ còn sót lại một vài gốc đứng chơ vơ hứng chịu mọi tia sấm sét của bầu trời.

Cách Thông Đàn không xa là khu hoang phế gồm phần nền móng và một bức tường đổ sau những biến động của thời gian và lịch sử. Bức tường đá ong và những nét họa tiết còn sót lại cho thấy khi còn nguyên vẹn, đây là một gian kiến trúc khá cầu kỳ, và được xây dựng rất cẩn thận.

< Gian thờ chính.

Dù vừa đi vừa nghỉ, nhưng cũng phải dồn hết sức chúng tôi mới đến được Ngọa Vân. Đặt chân tới đây, bạn cảm nhận được sự yên tĩnh đến diệu kỳ. Những bậc đá phủ rêu đưa bước chân thoát tục hướng cao lên đỉnh núi, nơi có Ngọa Vân am.

< Tháp Phật Hoàng và tháp Đoan Nghiêm.

Vẫn còn nguyên vẹn tại đây hai tòa mộ tháp nhuốm màu thời gian: tháp Đoan Nghiêm và tháp Phật Hoàng.

Dấu ấn vương giả một thời đã chìm vào quên lãng với voi đá, ngựa đá… giờ nằm lại nơi này như minh chứng cho sự gác bỏ phồn hoa trần tục của vị vua kiệt xuất đời Trần.

Phía sau gian thờ là tòa am nhỏ đề ba chữ Hán: “Ngọa Vân am”. Bên trong thờ tượng Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch có Bảo Sái quỳ chắp tay hầu.

Trong nhiều tài liệu sử liệu cổ có ghi chép về sự việc Trần Nhân Tông viên tịch, đó là tại am Ngọa Vân, vào đêm 1-11-1308.

Khi dặn dò Bảo Sát, Điều Ngự nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch.

< Tượng Phật Hoàng lúc viên tịch có Bảo Sái hầu bên cạnh.

Việc xác định vị trí am Ngọa Vân ở đâu - một vấn đề mang nhiều tranh cãi của các nhà khoa học - đến nay đã được nhà khảo cổ học Nguyễn Văn Anh và nhiều đồng sự khác tại Viện Khảo cổ học giải đáp thỏa đáng. Khi thám sát, khai quật am Ngọa Vân đoàn đã tìm được nhiều dấu tích liên quan đến việc đức vua Trần Nhân Tông viên tịch tại đây.

< Giếng đá tại Ngọa Vân có nước trong vắt.

Tiêu biểu như di vật Phật hoàng tháp, được xác định là mộ tháp của Phật hoàng, bài vị thờ ngài trong tháp và tấm bia thời Nguyễn được vua Minh Mạng cho dựng để ghi nhớ vị trí tháp mộ Trần Nhân Tông. Trong khi đó vị trí được coi là am Ngoạ Vân ở di tích Yên Tử hiện nay chỉ là công trình mới được hình thành vào thời Lê, Nguyễn.

Điều này khẳng định nơi vua Trần Nhân Tông viên tịch là am Ngoạ Vân ở xã An Sinh, huyện Đông Triều chứ không phải am Ngoạ Vân tại di tích Yên Tử hiện nay như nhiều người vẫn nghĩ.

< Ngôi mộ thật kỳ lạ...

Thầy trụ trì đi vắng, chúng tôi xin phép sư thầy Thích Tiến Thắng cho nghỉ lại một đêm. Không phải là những người đầu tiên lên chùa, hơn thế, gần đây đội khảo sát Thông Đàn cũng xin nghỉ đêm lại gian nhà khách, nên các thầy không bất ngờ. Những ngày rằm, hay ngày giỗ Nhất Tổ (3-11), các Phật tử sẽ còn lên đông nữa.

Tự nhiên, trong lòng cảm thấy tiêng tiếc một cái gì đó, giống như cảm giác sự yên tĩnh của Ngọa Vân đang bị lấy mất dần đi.

Thời gian gần đây, khách du lịch lên chùa ngày một nhiều. Trong tương lai, khi con đường bộ hoặc đường cáp treo hoàn thành, Ngọa Vân rồi sẽ trở về đúng vị trí, sẽ giống như Yên Tử hiện tại, với ồn ã kinh doanh, hành hương chen chúc... Liệu lúc đó, cửa Ngọa Vân có còn đủ chỗ cho 1 người qua đường lỡ bước xin nghỉ qua đêm?

Sáng hôm sau, tiếng tụng kinh và tiếng mõ của các thầy đánh thức mọi người dậy sớm. Lịch của các thầy bắt đầu từ 4 giờ. Trong ánh đèn pin, hai anh em dậy thu dọn đồ đạc, rồi xuống bếp chùa nấu nhờ bữa sáng. Dù các thầy có máy phát điện chạy từ con đập nhỏ phía dưới, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ nước để máy chạy. Thế nên, đèn, nến và bếp lửa vẫn là nguồn ánh sáng chính lúc này.

Buổi sáng quen thuộc của Yên Tử lại bắt đầu với nắng sớm, gió lạnh, tiếng tụng kinh gợi cảm giác thiền lặng như từ một miền xa xôi. Chào tạm biệt các thầy, chúng tôi quay về theo lối đi qua dốc Voi rồi về thôn Tân Sơn. Con đường này, đoạn gần am Ngọa Vân, hai bên trúc mọc dày đặc, ken kín một màu xanh dịu mát.

Lối đi này dễ đi hơn nhiều so với lối đi từ Trại Lốc và là ngã ba đường để đi tới chùa Hồ Thiên, nơi bắt đầu câu chuyện thứ hai về Tây Yên Tử.

Hồ Thiên tự

< Gian thờ cũ chùa Hồ Thiên.

Ngọn núi đôi nổi tiếng miền Đông là thắng cảnh thuộc hàng bậc nhất thiên hạ với những am mây, hang rồng sừng sững xanh, mây dồn, gấm tụ, đá núi liền tận Quỳnh Lâm bảo đài… Còn có cả động Trù Phong sừng sững nhấp nhô góc dồn xe biếc, đỉnh núi bao quanh, suối khe uốn lượn…

< Dốc Voi.

Chỉ có nhà Trần xưa vốn tôn sùng đạo Phật, mở núi, san nền nơi đây, xây tam cấp, dựng bảo tháp 5 tầng. Trải bao sương gió, nền móng vững bền mà biếc vàng lộng lẫy…
(Trích bia đá chùa Hồ Thiên)

Không phải là đến hẹn lại lên, mà vẫn là con đường thôi thúc. Chúng tôi lại đi Tây Yên Tử, lên chùa Hồ Thiên. Từ Hà Nội đến Đông Triều, rẽ tại ngã ba Tràng An để đến thôn Tây Sơn (xã Bình Khê). Bánh xe lăn qua những con dốc đá gập ghềnh để tới sát chân dốc Voi, ở đó có nhà chú Sơn, nhận trông xe mùa lễ hội. Chúng tôi đi lối dốc Voi. Đây là con đường dốc đứng, men theo những lối mòn nhỏ hẹp vốn là lối kéo gỗ từ trên núi xuống.

< Bãi đá chồng.

Hết dốc là lên tới đỉnh bãi Đá Chồng, tại đây có một quán nước nhỏ vốn đóng cửa quanh năm, chỉ mở trong mùa lễ hội làm điểm dừng chân cho khách. Bà chủ quán có món nước nấu từ cây cao cẳng (còn được gọi là sâm cao cẳng) vị ngọt mát, rất dễ uống.

Đường lên chùa đi qua những đồi đá, cỏ tranh đan xen với những khoảnh núi mới được phủ xanh lại bởi thông, keo và bạch đàn. Những khoảng rộng mới trồng lại, nhìn từ xa lấm tấm gợi liên tưởng như những lỗ tổ ong lớn. Nắng gắt cùng bụi tạo nên sự khô hanh, cằn cỗi.

Hồ Thiên hiện tại đã được tu sửa nhiều. Ngoài thầy Thích Trí Thông, hiện có thầy Thái An tu tại đây. Và có một phật tử giúp hai thầy công việc trong chùa, bác An, nhà ở Đông Triều. Cứ mỗi năm ngày một lần lại có người lên và cũng là mang thêm lương thực, đồ dùng cho chùa. Thầy Thái An đang chuẩn bị nhập thất. Mấy anh em gặp thầy Thích Trí Thông và tranh thủ tiếp chuyện với thầy lúc chưa vào giờ kinh kệ.

< Dãy nhà mới chùa Hồ Thiên.

Hồ Thiên là ngôi chùa nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời phong kiến. Chùa được khởi dựng dưới triều Trần. Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông (tức đệ nhất tổ phái Trúc Lâm) từng đăng đàn thuyết pháp tại đây. Sau khi ngài mất, đệ tử chùa Hồ Thiên đã tạc tượng thờ ngài.

< Bia đá chùa Hồ Thiên.

Nhiều năm sau cổ tự Hồ Thiên đã trở thành thiền viện danh tiếng của Phật phái Trúc Lâm. Đời Hậu Lê vào năm Vĩnh Khánh 1729 - 1732 và Vĩnh Hựu 1735 - 1740 triều đình đã cấp tiền trùng tu với quy mô rộng lớn khang trang lộng lẫy nhất vùng. Đến đầu thế kỷ 19 chùa bị đổ nát chỉ còn di tích.

Tại chùa Hồ Thiên còn lưu giữ tấm bia đá soạn vào năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736), đời vua Lê Ý Tông nói về việc trùng tu chùa Hồ Thiên.

< Dấu tích nền móng chùa Hồ Thiên.

Bia được dựng trong nhà bia bằng đá. Tường và mái của tòa nhà toàn bằng đá xanh. Những phiến đá lớn thớ mịn, được mài nhẵn ở tất cả các mặt, xẻ mộng để ghép rất khít vào các răng. Chúng được trang trí bằng các hoa văn họa tiết rất sinh động. Hai mặt cạnh của bia có đôi câu đối khắc nổi. Đế bia cũng được chạm khắc tinh xảo các hình rồng phượng, hoa lá... Qua gần 300 năm, mọi chi tiết, các nét chữ vẫn còn rõ nét.

< Tháp 7 tầng chùa Hồ Thiên.

Năm 1998, chuyên gia Hán Nôm Nguyễn Văn Phong khi lặn lội rừng già để đến được chùa Hồ Thiên đã ngỡ ngàng trước tòa tháp đá xanh bảy tầng tuyệt đẹp cao vút giữa rừng cây. Tiếc thay, khi khu dí tích chùa Hồ Thiên chưa được quan tâm thì tháp đã bị những kẻ đi săn tìm đồ cổ đánh sập. Thầy Trí Thông cũng chỉ đành gom góp những khối đá xanh chỏng chơ còn lại, đến mãi cuối năm 2008 mới dựng lại tòa tháp hiện nay như những gì còn nhớ được.

< Tháp gạch cổ chùa Hồ Thiên.

Trong khuôn viên của chùa Hồ Thiên, các công trình kiến trúc vẫn còn giữ nguyên phần tường xây, nền chùa và chân bệ. Hiện còn lại dấu tích của ba lớp nền bó vỉa bằng đá cuội. Ba lớp ứng với ba tầng bậc cao dần lên. Ở mặt bằng của tầng cao nhất còn nguyên các bệ đá kê chân cột, mặt tròn nền vuông có hình cánh sen được chạm cách điệu. Các bệ đá kê liền nhau, sắp xếp theo vị trí kiến trúc cột cái, cột con. Quanh chùa còn những ngôi mộ tháp, tháp gạch, tháp đá rất hiếm gặp. Các tháp này mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê. Trong một ô lõm của tháp có đặt pho tượng bằng đá trắng. Tượng được tạc trong tư thế ngồi thiền.

Buổi tối, trăng rất sáng. Mọi người nhất trí tắt máy nổ, dùng nến và ánh trăng để vừa ăn tối vừa trò chuyện. Bữa tối có món măng rừng xào ớt. Măng trúc có vị đắng nhiều hơn ngọt, gợi nhớ lại những năm trước, thời gian mà nhà chùa chỉ có vả luộc, măng trúc và chuối rừng chát ngâm muối. Đó là tất cả những gì đã giúp thầy và phật tử duy trì cuộc sống tu hành.

< Bữa tối trên chùa.

Đêm đó chúng tôi ngủ thật ngon. Hồ Thiên vẫn luôn yên tĩnh và thanh tịnh. Vẫn luôn có gió núi, trăng rừng và tiếng chuông lẩn khuất trong mây.

Lại chia tay với thầy và bác An cùng mọi người, mong sẽ sớm quay lại. Vẫn còn lối lên Hồ Thiên từ phía đập Bến Châu. Vẫn còn con đường là vẫn có lối đi. Nhất là khi một phần nơi đây đã in dấu trong mỗi chúng tôi, đó là Yên Tử, góc phía tây tĩnh lặng.


Góc lặng phía tây

Trăm năm tích đức tu hành/ Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu. Câu thơ chẳng biết có tự bao giờ, nhưng nó như kim chỉ nam để hằng năm khách thập phương lũ lượt đổ về Yên Tử, nơi từ góc nhìn tại Ngọa Vân am hay Hồ Thiên tự chính xác mang tên Yên Tử Đông. Tức ở về phía đông.

< Hồ Bến Châu, xã Bình Khê.

Vô tình như một cách chơi chữ, nó cũng thật sự là nơi đông đúc khách thập phương. Còn ở đây, sau nhiều năm chìm trong quên lãng, một góc thiền lặng phía tây đang hồi sinh từng ngày.

< Lối đi Thùm Thùm ngược dòng suối.

Để lên am Ngọa Vân và chùa Hồ Thiên, ngoài lối đi qua Thông Đàn hoặc lối đi qua dốc Voi, còn một lối đi nữa là đi đò qua hồ Bến Châu. Từ chợ Bình Khê, đi vào tới khu vực đập Bến Châu, chúng tôi hỏi đường lên đập tìm vào nhà anh San chị Luận chuyên chở khách đi thuyền.

< Lối đá nhỏ qua suối dẫn lên miếu Cậu.

Hồ Bến Châu khá rộng, nhưng với chiếc thuyền gắn máy, một chiều đi chỉ mất chừng 10 phút. Xe máy cũng được gửi lại đây.

Nước hồ xanh và trong vắt. Nhưng sau mới biết do việc khai thác than làm lượng than bùn cùng hóa chất lắng xuống hồ quá nhiều, rong rêu không thể mọc và tôm cá cũng chẳng loài nào sống nổi.

Trên mặt hồ giữa các đảo có một dãy cột bêtông, dự định để bắc cầu nối các hòn đảo lại với nhau. Cột có lẽ đã được xây một thời gian nhưng cầu vẫn chưa xong. Bờ bên kia hồ, một đàn trâu lớn thả rông đang nhẩn nha nằm nghỉ ngay sát mép nước.

Rời thuyền, chúng tôi bắt đầu hành trình đi bộ theo lối Thùm Thùm. Đoạn đầu đi qua một dãy vườn vải, sau đó ngược dòng suối. Con suối trong hướng dẫn nằm tít dưới sâu, lòng suối cạn, thỉnh thoảng có những đoạn nước dồn thành vũng lớn. Đi đến khi gặp những tảng đá nhỏ xếp ngay ngắn thành con đường cắt ngang suối, vậy là đã tới được miếu Cậu.

< Con đường lên chùa qua những ngọn đồi mới trồng thông, lấm tấm như tấm thảm rộng.

Đi tiếp theo hướng những mũi tên sơn đỏ do bà con trong vùng vẽ chỉ lối lên chùa, đến gần trưa mọi người mới dừng lại nghỉ. Trời nắng gắt, nhưng gió nhẹ và không khí trong lành làm mọi mệt nhọc đều tan biến.

Nghỉ trưa xong, hành trình tiếp tục với những đoạn dốc lên xuống và những đoạn suối uốn lượn lùi lại. Một trảng cỏ rộng trải ra trước mắt. Mùa khô, mọi thứ đều cằn cỗi. Qua đoạn này là tới khu vườn vải, ngã ba đường đi tới am Ngọa Vân hoặc lên chùa Hồ Thiên.

< Phật tử lên chùa, đồ mang theo còn có can xăng nhỏ giúp nhà chùa chạy máy phát khi mùa nước cạn.

Đường lên chùa là dốc núi khó đi. Những đoạn dốc đứng đường đất, gần như không có bậc để đặt chân. Chỉ đến những đoạn dốc đá mới có bậc được xếp tạm.

Cảnh cũ, chùa cũ và cây cỏ cũ. Gặp lại thầy Trí Thông, bác An thì đã về Đông Triều. Thầy Thái An cũng không còn ở đây. Nhà chùa đang cho xây thêm một gian nhà khách, cũng gần xong. Cả Ngọa Vân và Hồ Thiên đều đang có những thay đổi. Những thay đổi làm nơi này bớt hoang vắng, nhưng cũng đang mất dần sự yên tĩnh trước đó.

< Nắng sớm bên chân tháp chùa Hồ Thiên.

Mâu thuẫn vẫn là mâu thuẫn. Cái sang trọng và thanh tịnh dường như là hai khái niệm khó có thể đi cùng với nhau.

Có thể nhận thấy điểm tương đồng giữa Hồ Thiên và Ngọa Vân là cùng một thế núi vòng cung, mà như mọi người vẫn nói: thế núi ngai vua. Cùng nằm ở nơi xa khuất, không dễ dàng gì tới được. Và sự khác biệt cũng cảm nhận được: Ngọa Vân giờ đông đúc hơn (các sư thầy, đội khảo sát Thông Đàn, cùng những người làm), còn Hồ Thiên vắng vẻ hơn dù về quy mô Hồ Thiên lớn hơn Ngọa Vân nhiều.

Đường vào vẫn còn khó khăn, nhưng so với thời gian các thầy chỉ có chuối rừng muối, lá vả luộc, cũng như rau củ rừng giờ đã khác xa lắm rồi. Đều đặn vẫn có phật tử gánh đồ theo những dốc đá mà người bình thường đi thấy bở hơi tai để mang lên cho chùa.

Cuộc sống tu hành đã bớt đi một phần lo toan, tuy nhiên vẫn chưa phải hết. Có lẽ phải có được cái tâm bình lặng trước mọi sự biến đổi như thầy Trí Thông mới có thể giữ trọn đạo tu.

Hiện nơi đây vẫn còn đủ yên tĩnh. Trăng đầu tháng nửa vầng đủ soi rõ cảnh vật, gió đêm mới chỉ se se lạnh, và vị ngòn ngọt từ nước giếng chùa. Tiếng chuông gió khẽ đưa từ mái hiên, tiếng côn trùng rả rích bốn bề. Đó thật sự là sự lôi cuốn của tĩnh lặng chứ không phải của sự ồn ào. Ngoài xa dưới kia, ánh đèn đường 18 vẫn sáng lung linh suốt đêm, ở đó cuộc sống vẫn đang diễn ra không ngừng nghỉ.

Đi xa hơn một chút, vắng vẻ hơn một chút, thời gian dư ra thêm một chút, người ta có thể nghĩ nhiều hơn và quên đi nhiều hơn. Quên con đường vào lắt léo, quên dốc Đô Kiệu dựng đứng, quên bãi Thông Đàn nền cũ ngổn ngang, quên cả am chùa tĩnh mịch, rồi quên cả gió, núi và trăng... Người ta cố đi thật xa là để nhận ra chân lý hay là để trốn tránh bụi trần?

Vẫn là Hồ Thiên và Ngọa Vân với những nền móng, chùa tháp cũ sót lại. Vẫn còn xa tới khi đường vào tây Yên Tử được hoàn thành.


Du lịch, GO! - Theo Hoàng Hà Mai, TTO, Zing...
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...