Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Chơi vơi hang yến Bình Định

Tổ yến, hắc cáy, mực tuộc, sá sùng, san hô đen, bong bóng cá đường... những sản vật ấy ngày nào là quà tặng hào phóng của đại dương, nay con người phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, thậm chí đánh đổi bằng mạng sống mới có được.

Chon von hang yến miền Trung, bồng bềnh những “hải đoàn” thuyền thúng trên sóng nước Côn Đảo, cheo leo những lều đáy hàng khơi Đất Mũi, và xa hơn: những chuyến lặn biển nơi chân trời góc bể... tất cả những cuộc mưu sinh ấy đều thấm đẫm vị mặn của đại dương. Hay đại dương mặn vì mồ hôi của họ?
Con thuyền 115 mã lực biển số BĐ 91016TS khởi hành ra vũng Bàu vào sáng sớm ngày chủ nhật đầu tháng 11. Gió cấp 6. Tàu vừa ra khỏi cảng, vượt qua mũi hòn Khô, là đối mặt với sóng thứ thiệt, trở thành chiếc lá bé xíu giữa mênh mông nước.

Con tàu bẻ lái lấy hướng, phải cắt ngang sóng, trước khi xuôi theo sóng, mũi tàu ghếch tưởng như thẳng đứng, lườn tàu đập xuống mặt nước kêu binh binh...

Tài công chuyến hải hành này là Đinh Lùn, 60 tuổi, người đã có lần buộc phải chạy tàu ra vũng Bàu khi gió cấp 8, 9, vì phải đưa xác một đồng nghiệp vào bờ. Chuyến tàu định mệnh ấy bị sóng đập bể lườn, chìm, may nhờ có điện thoại di động kịp thời gọi cho ngư dân xã Nhơn Hải ra cứu. Bởi vậy, ông mới bình thản bình về sóng cấp 6: “Như vầy còn nhỏ”.

Trên thuyền hôm ấy có cả thảy chín người, trong đó có hai người vào nghề khai thác tổ yến lâu năm nhất – cùng năm 77 thế kỷ trước là ông Lùn và Đỗ Thanh Vân, 53 tuổi. Ông Vân có mái tóc chải ngược, mũi sư tử, gương mặt vuông phong trần, vẫn ôm tiếc nuối là đứa con trai không chịu theo nghề cha. Tiếc là không đẻ thêm một hai đứa để may ra có đứa theo nghề cha. Ông yêu nghề muốn chết!

Phải mất hai tiếng đồng hồ, vì đi ngược gió, từ cảng Quy Nhơn vượt qua mũi Bát, mũi cực nam của Nhơn Lý giáp với vùng biển của xã Nhơn Hải để đến vũng Bàu. Ở mũi này thuyền một lần nữa phải cắt sóng, bị quăng quật tơi tả, vì gió ngày càng săn.

Qua khỏi mũi Bát một khoảng nữa là vũng Bàu. Mùa tháng 4 khai thác yến, vũng Bàu có lúc như tấm thảm nước phẳng phiu, vì kín gió. Nhưng mùa này, sóng vẫn đập ì ầm ngày đêm vào vách đá phía trước lăng thờ thần của dân khai thác yến ở Quy Nhơn. Neo thuyền đã kỳ công, từ thuyền xuống xỏng vào bờ kè còn kỳ công hơn nữa. Để giữ an toàn cho thuyền ông Lùn và một người phụ lái ở lại trên thuyền, phòng khi sóng gió đứt neo kịp cứu thuyền.

Ba phần tư sản lượng địa phương là khai thác từ khu vực vũng Bàu với tám hang yến lâu đời nhất. Nên người dân cũng lập miếu thờ thần và tiền hiền ở đây, từ những năm 1960 miếu được xây bằng gạch. Đến những năm 2000 được xây dựng to lớn như hiện nay, với móng đá.

Nghề khai thác tổ yến, đặc thù trong các hang nước ở Quy Nhơn, kéo dài không đến ba tháng, những người theo nghề này phải luân phiên nhau canh chừng hang yến quanh năm. Như ông Vân lần đầu tiên được phân về ở ngay tại Lăng, năm sau đi qua hang Đôi, rồi ở hang Cả tám năm liền…

Thế giới của hang yến tuyệt đối không có phụ nữ, ông Đặng Văn Nguyên, người đứng chủ cúng tạ tổ nghiệp ở đây khẳng định. Và rượu. Chỉ có buồn vui với biển quanh năm suốt tháng. Không ít người không trụ được với nghề. Ngày ông Vân còn trẻ, cưới vợ xong, biệt vợ ra hang yến, cô vợ trẻ lúc ấy đã khóc…

Dầu vậy, những ngày không khai thác, chỉ ở canh gác hang, thợ yến được luân phiên chia thành hai tổ ở mỗi khu vực hang để luân phiên trực. Nhóm không trực về với gia đình. Lúc đó họ mới tận hưởng được sự hoà nhập: phụ nữ và rượu, thay cho những ngày thanh cảnh.

Hàng kỳ đi nhận lương thực họ phải đi đường núi, từ dưới khu nhà Lăng leo lên đỉnh núi khá cao, rồi mới theo đường ruột dê xuống núi mất cả tiếng đồng hồ mới ra đến trạm nhận lương. Hôm ấy trời mưa, không thể đi đường bộ được, nên mới có chuyến hải trình đầy sóng gió để đến tổng hành dinh khai thác tổ yến của Quy Nhơn.

Cũng có những hang đi đường bộ tiện hơn như hang Dơi. Từ Quy Nhơn đi Nhơn Lý, rồi vượt đường bộ chừng 15 – 20 phút là đến đỉnh núi, từ đó trụt xuống chừng bảy, tám mét là đến nhà canh hang Dơi, nằm ở lưng chừng núi, quay mặt ra biển.

Phụ trách trực ở đây là Nguyễn Minh Cường, 47 tuổi, người Tuy Phước, vào nghề từ năm 1996. Cường nhỏ người, thường xuyên nở nụ cười trên miệng thật vô tư, thợ bậc 3/6. Mấy lần thi nâng bậc đều bị rớt môn lý thuyết vì múa ngòi bút không giỏi bằng múa bấy lấy tổ yến. Copy tài liệu thì nhát vì vốn tính… thật thà. Không bù được với ông Vân bậc 6/6 cách đây đã hơn 20 năm.

Con người lạc quan này dường như chấp những cái không thành đạt của mình. Ngay cả cái nhà yến ở quê đầu tư trên 1 tỉ đồng, gần ba năm nay chỉ thu được 14 tổ yến. Trong khi đó, cái nhà ở của ông Lùn trên đường Hùng Vương chỉ tốn vài triệu cải tạo thành nhà yến mỗi năm kiếm được cả chục ký tổ. Ông Nguyên bình luận: “Yến nó không thích đi kinh tế mới, chỉ thích ở thành phố thôi”. Anh Cường lại cười.

Tuy chữ nghĩa có khá hơn, nhưng khi kể lưu loát về ông tổ nghề yến là ai, đến lập nghiệp từ lúc nào, gốc gác ra sao, trước 1975 ai thầu các hang yến ở đây... ông lại có vẻ ngậm ngùi nói với đồng nghiệp trẻ tên Nam: “Các chú chữ nghĩa nhiều hơn, cần ghi chép lại tông tích của nghề để lại cho hậu thế. Tụi tui nhớ thì có nhớ, nhưng không ai viết để lại cái gì”.

Với cái nghề “ai cũng phải tụt quần” như cách gọi của ông Vân – khai thác hang yến nước như ở Quy Nhơn, lúc nào cũng phải lội nước biển, không mặc quần dài được – quanh năm đối mặt với sóng nước, họ phải đặt niềm tin vào nhiều người như Phật bà Quan Âm, tổ nghề, các bậc tiền hiền, những người đã mất ở khu vực trung tâm, mất vì nghề. Hàng năm, họ còn phải về cúng tổ chung tại Hội An vào tháng 5.

Sản lượng yến hàng năm ở Bình Định chừng 400 – 500kg, thấp hơn trước, do phải dưỡng yến, không khai thác tận diệt hết tổ trong kỳ 3 hàng năm, còn gọi là kỳ dưỡng yến, tức là cho yến đẻ ra nở đến 30%, để chúng tăng bầy. Ở Quy Nhơn có 16 hang đang được giao cho công ty cổ phần Yến Ngọc, Bình Định thầu khai thác nằm ở hai xã Nhơn Lý – 14 hang và Nhơn Hải – 2 hang.

Bình Định, theo ông Nguyên thì không có yến sào huyết như ở Khánh Hoà, một loại tổ yến màu đỏ do phản ứng của nước dãi yến với địa chất đặc biệt của vách đá.

Du lịch, GO! - Theo SGTT, internet

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Lụa Vạn Phúc

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông - Hà Nội) từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống, và nay các sản phẩm được làm từ lụa của làng đã đến với người dân trong và ngoài nước với nhiều mẫu mã đa dạng mà vẫn không mất đi nét truyền thống của một làng nghề trên đất Bắc…

< Tơ tằm đã tạo nên thương hiệu nổi tiếng của lụa Vạn Phúc.

Làng lụa Vạn Phúc xưa là làng Việt cổ nổi tiếng với nghề dệt lụa có từ ngàn năm nay. Đặc biệt, chiếc áo dài lụa Hà Đông duyên dáng đã quyến rũ du khách xa gần. Áo lụa Hà Đông có một sức hút lạ kỳ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nghề dệt lụa vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời khác, góp phần tạo nên một nét văn hóa rất riêng trên đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. Lụa Vạn Phúc “mịn mặt, mát tay” chính là “lụa Hà Đông” đã đi vào nhiều câu ca dao được lưu truyền trong dân gian.

< Xưởng dệt lụa truyền thống của làng lụa Vạn Phúc.

Nét độc đáo của lụa Vạn Phúc là ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Thiếu nữ mang trên mình chiếc áo lụa Hà Đông sẽ thấy mình trẻ trung, đầy sức sống.

< Lụa Vạn Phúc nổi tiếng “mịn mặt, mát tay”.

Hoa văn trang trí trên lụa rất đa dạng như long phượng, mây bay, lưỡng long song phượng, lưỡng long song thọ, song hạc,... khiến các bộ trang phục trở nên duyên dáng, sống động.

< Khách hàng tự chọn cho mình những mảnh lụa ưng ý nhất.

< Những sản phẩm may đo của làng lụa Vạn Phúc được khách hàng rất quan tâm.

Ngày xưa, lụa Vạn Phúc đã được lựa chọn là một trong những vật phẩm cao cấp dành cho vua chúa và quan lại.

< Thiếu nữ Hà thành dịu dàng với trang phục truyền thống được làm bằng chất liệu lụa Hà Đông.

Trong thời kỳ thuộc Pháp, lụa Vạn Phúc còn theo chân những người nghệ nhân tới tham dự các cuộc đấu xảo ở Marseille, Paris (Pháp)... và cũng từ đó, lụa Vạn Phúc bắt đầu được biết đến trên toàn thế giới. Ngày nay, cùng với công nghệ dệt may tiên tiến, mẫu mã đa dạng, các sản phẩm được làm từ lụa Vạn Phúc như những chiếc khăn quàng cổ đến bộ áo dài, áo sơ mi, chiếc áo khoác khi đông sang… đều hấp dẫn khách hàng trong và ngoài nước.

Trải qua bao thăng trầm đổi thay, làng Vạn Phúc vẫn giữ được nguyên vẹn những giá trị cổ truyền trên từng vân lụa, thớ vải. Nghề dệt vẫn được truyền từ đời này sang đời khác, góp phần tạo nên một nét văn hóa trang phục của người dân Việt Nam.

Du lịch, GO! - Theo BAVN Online

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Tới thăm làng chài biển Vung Viêng

Trong ngôi làng vẻn vẹn vài chục nóc nhà ấy, mọi việc đều diễn ra bồng bềnh với sóng nước trong lòng vịnh Hạ Long.

< Lũ trẻ đến trường.

Nằm ở trung tâm của vịnh Bái Tử Long, cách đất liền 24 km, làng chài Vung Viêng nằm ở vị trí yên tĩnh, thanh bình với phong cảnh hữu tình. Trong ngôi làng nhỏ bé nằm bồng bềnh trên biển ấy, cuộc sống đơn sơ giản dị vẫn diễn ra hàng ngày.

< Những ngôi nhà đơn giản trên mặt biển xanh.

Những ngôi nhà giản dị, tivi đang chiếu một bộ phim gì đó, người vợ đang thổi bữa cơm chiều trong khi mấy đứa trẻ đang nghịch ngoài hiên. Ông bố trẻ đang chuẩn bị thuyền cho buổi câu đêm. Chú chó sủa nhặng xị, đưa mắt dõi theo đoàn thuyền nan đi qua.

< Làng chài Vung Viêng.

Trên một chiếc thuyền nan, người ta bán đủ thứ hàng hóa, một cửa hàng tạp hóa thu nhỏ trên sông nước.
< Công việc chính của làng là đánh bắt thủy sản và nuôi cấy ngọc trai.
< Mọi sinh hoạt đều trên sóng nước.

Hơn 160 ngư dân sinh sống ở làng chài Vung Viêng trong cộng đồng ngư dân trên Vịnh Hạ Long đã phản ánh rõ nét truyền thống của một làng đánh cá trên biển.
< Đôi mắt trong trẻo của cô bé làng chài.
< Lớp học háo hức.
< Những chiếc thuyền câu.

Từ vài năm trở lại đây, khi du lịch du thuyền trên Vịnh Hạ Long phát triển, Vung Viêng trở thành ngôi làng được nhiều chương trình tour khai thác đưa khách đến tham quan.

Cùng các chương trình đi thuyền nan còn có hoạt động chèo thuyền kayak. Những người phụ nữ trong làng chài tham gia để có thêm thu nhập cho cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn.

Du lịch, GO! - Theo Afamily

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Làng bánh chưng Tranh Khúc trong vụ Tết

Mỗi ngày sản xuất hàng nghìn chiếc, các nghệ nhân làng bánh chưng Tranh Khúc (Thanh Trì, Hà Nội) đang hối hả gói bánh để phục vụ Tết Nhâm Thìn.

< Mấy ngày nay, các hộ gia đình ở Tranh Khúc bắt đầu lấy lá dong về chất đầy sân để chuẩn bị gói bánh chưng phục vụ dịp Tết.

Làng Tranh Khúc thuộc xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội - nơi từ lâu đã nổi tiếng với nghề nấu bánh chưng quanh năm.

< Lá dong chủ yếu được lấy từ Thanh Hoá, Hà Giang. Công đoạn rửa lá khá quan trọng và mất nhiều thời gian. Sau khi rửa sạch, lau khô, lá dong được cắt sống để khi gói không bị gẫy, bánh sẽ vuông, đẹp.

Tại một nơi có tới hơn 200 hộ làm bánh chưng bán (chiếm 70% số hộ toàn thôn), trung bình mỗi ngày một hộ cũng bán ra thị trường vài trăm chiếc như ở đây thì chuyện người ta chỉ nói về  bánh chưng suốt ngày cũng là lẽ thường.

< Gạo nếp chủ yếu được lấy từ Hải Hậu thơm và ngon, rất hợp để làm bánh Tết.

< Nhân đỗ xanh được nấu nhuyễn, nặn thành bánh kẹp thịt lợn ba chỉ ở giữa.

Ngay từ rằm tháng chạp thì người ta đã cảm nhận không khí vui như tết ở đây với những công đoạn cho ra những chiếc bánh chưng truyền thống.

< Điều đặc biệt ở Tranh Khúc là người dân không bao giờ dùng khuôn để gói bánh.

< Mỗi bánh thường được gói bởi 6-7 lá dong. Khi gói phải thao tác nhanh, nếu không gạo sẽ rơi ra ngoài.

Dường như bất cứ ai tới với làng Tranh Khúc cũng sẽ có cảm giác như đang là ngày cuối cùng của năm cũ khi mà lá dong, gạo nếp, nhân thịt, đỗ xanh …tràn ngập khắp nơi.

< Dù chỉ gói bằng tay mà hàng trăm chiếc bánh vẫn vuông và đều như nhau.

Không chỉ thế, người dân trong làng từ già tới trẻ, thậm chí cả phụ nữ đang mang bầu cũng tham gia vào việc gói bánh khiến người ta cảm nhận rõ mồn một hơn khoảnh khắc gần đêm Giao thừa.

< "Nhiều người ở Tranh Khúc biết gói bánh chưng từ hồi nhỏ, nên nhiều thanh niên gói rất nhanh và đẹp", anh Thành tâm sự.

< Anh Nguyễn Văn Xuân, một gia đình làm bánh chưng ở Tranh Khúc cho biết, làm bánh chưng khó và lâu nhất là công đoạn gói và buộc lạt. Nếu không cẩn thận, bánh sẽ không vuông góc và hình thức không đẹp. Còn chất lượng bánh phụ thuộc vào thời gian luộc.

Năm nay, gia đình anh Xuân làm nhiều hơn năm trước vài trăm chiếc, xuất chủ yếu lên Hà Nội. Đến khoảng 23 tháng chạp, anh sẽ thuê thêm 2 nhân công cùng làm để kịp tiến độ giao hàng cho khách.

< Sau khi gói, bánh chưng sẽ được luộc trong nồi to, mỗi mẻ thường hơn 8 tiếng là bánh chín rền. Sau đó bánh được vớt ra rửa qua nước lạnh và đem ép nhẹ.

Bánh chưng Tranh Khúc có nhiều mức giá, phổ biến từ 30 ngàn trở lên. Thông thường người ta hay đặt loại bánh có giá 50 nghìn đồng. Ngoại lệ: có những khách dạng VIP đặt bánh nhiều tiền hơn, thậm chí hàng trăm ngàn để ăn hoặc đem biếu. Tuy nhiên, trên thực tế thì bánh "VIP" và bánh thường cũng chỉ khác nhau thêm... 1 miếng thịt! Ngẫm ra nhiều đại gia bị xỏ mũi, cứ tưởng nhiều tiền, bánh ngon hơn đã là oách nhưng thật ra thì bánh càng có giá đắt bao nhiêu thì người gói càng lãi nhiều!

Du lịch, GO! - Biên tập từ VnExpress, Baomoi

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Về Đề Gi ăn gỏi cá mai

Khởi thuỷ, làng biển Đề Gi là một khu rừng rậm, trải dài ven biển, từ Gành cho đến Chánh Oai, qua Cát Tiến. Gia phả của dòng họ Nguyễn còn ghi rõ: người lập làng là vị quan đại thần của chúa Trịnh. Vì phạm tội với chúa mà phải trốn vào Nam cùng với những người thân tín. Tới vùng biển này, thấy sau lưng là núi, trước là biển, liền dừng lại lập làng.
Sau này, chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu sang Xiêm La (Thái Lan ngày nay), có ghé lại vùng biển này, vô tình đào vài tấc cát ven đầm đã thấy nước ngọt nên mới đặt tên là Đạm Thuỷ, còn trước đó, người dân gọi là đầm Đề Gi.

Từ Biển Đông, muốn vào đầm Đạm Thuỷ phải qua cửa biển Đề Gi. Sách Đại Nam nhất thống chí có nhắc đến cửa biển này: “... rộng 11 trượng, thuỷ triều lên sâu sáu thước, thuỷ triều xuống sâu bốn thước. Phía tây có đầm Đạm Thuỷ, thuyền buôn thường đỗ ở đây...”

Không chỉ có cá mai

Đề Gi chẳng có nghĩa gì cả và chẳng ai biết cái tên làng ấy có từ bao giờ. Ông Nguyễn Văn Tri, chủ tịch xã Cát Khánh cho biết thêm, ngoài tên Đề Gi, làng biển này còn có một tên khác: JéJi. Cuối thế kỷ 19, người Pháp lập một trạm thu thuế muối đặt tên là JéJi, có lẽ ghi âm từ “Đề Gi” mà ra. Trạm thuế quan này kiểm soát toàn bộ vùng muối Đề Gi. Nước trong đầm Đề Gi mặn chằng nên hạt muối to và trắng. Sau ngày giải phóng, từ chợ Gành xuôi về Ngãi An, hai bên đường chỉ thấy những ruộng muối... Mấy năm sau này, ruộng muối hẹp dần, nhường chỗ cho ao nuôi đặc sản cá mú, cá chua... nhưng theo lời ông Tri, “Đề Gi vẫn là vùng muối lớn nhất tỉnh Bình Định, lớn hơn cả vùng muối Hà Ra, Phú Thứ bên xứ Phù Mỹ. Còn về chất lượng, muối Đề Gi ngon hơn cả muối Sa Huỳnh, Cà Ná...”


< Cá Mai.

Cứ cuối tuần, ông Phan Thanh Tâm (kỹ sư xây dựng) ở thành phố Quy Nhơn về Đề Gi ăn món gỏi cá trỏng. Gần đây, người ghiền gỏi cá lại thích cá mai hơn vì thịt giòn và ngon hơn cá trỏng. Nước chấm đậm đà làm gỏi cá mai ở đây “bốc” hơn. Có ông bạn sành ăn, đã từng ăn gỏi cá mai nhiều nơi, thừa nhận “gỏi cá mai Đề Gi ngon nhất nước. Con cá mai ở đây múp không chịu nổi”. Cá mai được bắt trong đầm Đề Gi mà chẳng cần đi đâu xa. Ước chừng, mỗi ngày, ngư dân đánh khoảng hai tạ cá mai, bán cho quán để làm gỏi. Tuỳ mùa mà giá khác nhau, thường giá từ 50.000 – 70.000đ, lúc khan hiếm bán với giá 100.000đ một ký. Những ngày cuối tuần, làng biển Đề Gi rộn ràng với những chiếc xe hơi từ Phù Cát, Quy Nhơn... về ăn gỏi cá mai với giá 25.000đ/dĩa (khoảng chừng 20 con). Ở Sài Gòn, muốn ăn gỏi cá mai cũng không quá khó. Chỉ cần gọi điện, chủ quán ướp cá trong thùng đá, gập ghềnh trên quốc lộ 1 khoảng 12 tiếng đồng hồ là có cá để ăn.

Ở làng biển này còn có những đặc sản, như cá chua, cá bống mú, cá hồng, sò huyết, lịch huyết... Cũng là những loại cá như những miền biển khác nhưng không hiểu sao, chúng lớn lên ở đầm Đề Gi lại ngon, ngọt và thơm hơn. Nhiều thực khách sang trọng nhưng vẫn thích cách ăn “nhà quê”: luộc hay nướng rồi cuốn bánh tráng, rau sống, chấm nước mắm nguyên chất ngai ngái, chêm với rượu đế Đồng Lâm (cách Đề Gi vài cây số)...

Đề Gi còn nổi tiếng với nghề làm nước mắm, cụ Dệt, nay đã 98 tuổi kể rằng, từng đoàn ghe bầu dong buồm chở nước mắm Đề Gi ra Huế tiến cho triều đình nhà Nguyễn. Còn gần đây, cứ đến tết dương lịch, ông Tri phải mua cả trăm lít nước mắm tặng mấy người bạn ở Quy Nhơn vì nước mắm Đề Gi “đã ăn sẽ khó quên”! Cũng là con cá nục, cá cơm, cá lồ ồ, cá hố, cá sơn, cá thu, cá bạc má, cá ngân... nhưng khi làm mắm ở Đề Gi, mắm lại có vị khác, mùi khác. Người dân ở đây tự hào, nước mắm hay con mắm làm ở Đề Gi ngon hơn những vùng khác là nhờ muối Đề Gi mặn hơn muối ở những vùng khác!

Muối mặn cho sản vật tuyệt hảo

< Cảng cá Đề Gi.

Các loại mắm Đề Gi, tuỳ theo mùa mà chọn cá. Cá rửa sạch, trộn đều với muối theo công thức “ba cá một muối”. Để chờ ráo “nước máu”, rồi bỏ vào thạp, sau đó bịt kín, ủ từ bốn đến sáu tháng tuỳ theo loại cá. Thời gian ủ càng lâu càng ngon nhưng không quá một năm vì sợ mắm “xẵng” (đắng). Muốn ăn nước mắm đục, dùng vải mùng lược bỏ xác mắm, chỉ còn nước, chắt vào chai. Còn làm nước mắm trong, quậy đều thùng mắm, dùng vải mùng lược xác mắm nhiều lần. Sau đó dang nắng từ năm tới mười ngày, khi nước mắm chuyển sang màu vàng trắng là ăn. Nước mắm trong tinh chế theo kiểu “gia truyền” có mùi ngai ngái, màu sắc chẳng lấy làm sang. Đã nước mắm phải mặn nhưng nước mắm Đề Gi lại “mặn êm”.

Đến bây giờ vẫn chưa thấy ai đứng ra đăng ký thương hiệu cho nước mắm Đề Gi. TS Nguyễn Thanh Bình (ĐH Luật TP.HCM), một người con của làng biển này, trăn trở: “Muốn giữ được uy tín của nước mắm Đề Gi, không thể sản xuất theo kiểu công nghiệp được mà phải sản xuất thủ công. Nhưng sản xuất thủ công thì phải có cách đáp ứng số lượng cho nhu cầu thị trường. Muốn gì cũng phải đăng ký thương hiệu trước”. Hỏi chuyện, ông Tri ước đoán mỗi năm Đề Gi sản xuất chừng vài ngàn lít nước mắm theo “công nghệ cổ truyền” để ăn và để tặng!

Muốn đến làng biển Đề Gi, từ Quy Nhơn, chạy dọc theo đường ven biển Nhơn Hội, khoảng 54 cây số. Còn theo quốc lộ 1, tới ngã ba Chợ Gồm, quẹo phải, ngót nghét 70 cây số. Cho đến bây giờ, chẳng ai hiểu vì sao làng biển ấy lại được mang tên Đề Gi khi mà địa danh này là tên gọi chung của cả một vùng đất gồm năm xã của hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ (thuộc tỉnh Bình Định). Có lẽ, vì làng nằm ngay cửa biển.

< Lễ hội cầu ngư tại Đề Gi.

Năm 1994, làng biển Đề Gi tan tác vì khai thác titan. Bãi cát cuối làng là nơi chơi đùa của lũ trẻ trong xóm bỗng dưng bị cày xới, lục tung để tìm một thứ bùn đen mà sau này người dân trong làng mới biết đó là titan. Cát bay mù mịt. Những chuyến xe chở titan xé nát con đường cái quan giữa làng. Cuộc sống nhộn nhịp hơn, ồn ào hơn, phá vỡ nhịp sống quen thuộc hàng trăm năm nay của một ngôi làng biển. Năm ngoái, công ty liên doanh khai thác khoáng sản Việt Nam – Malaysia hết hạn khai thác. Để lại những vệt cát nham nhở, những gốc dương xiêu vẹo.

Cách đây ba năm, 200ha của khu khai thác titan đã được quy hoạch để xây dựng trung tâm nhiệt điện Sài Gòn – Nhơn Hậu với công suất thiết kế 2.400MW. Đây là dự án của công ty Tân Tạo (TP.HCM). Theo kế hoạch của nhà đầu tư, năm 2013 sẽ khởi công. Nhìn thấy trong tương lai hiện lên một nhà máy nhả khói đen kịt trong không gian xanh ngắt của trời và biển! Mà cũng có thể sẽ không có điều đó. Lạy trời...

Du lịch, GO! - Theo SGTT, internet

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Làng chuyên cung cấp "phương tiện" cho ông Táo

Năm nào cũng vậy, độ cuối tháng Chạp Dương lịch, người dân thôn Thủy Trầm, xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê (Phú Thọ) lại tất bật quăng chài, thả lưới thu hoạch cá chép đỏ để phục vụ nhu cầu của người dân trong ngày đưa ông Công, ông Táo về chầu trời.

< Ở Thủy Trầm cá nhỏ được giá hơn cá to.

Nghề nuôi cá chép đỏ ở Thủy Trầm xuất hiện cách đây khoảng 40 năm, đây cũng là nơi khai sinh ra nghề nuôi cá chép đỏ của cả nước.
Trước kia, nghề nuôi cá chép đỏ chỉ xuất hiện ở một vài hộ trong làng, chủ yếu nuôi để làm cảnh chơi vui. Nhưng vài năm trở lại đây, phong trào người dân dùng cá chép đỏ làm "phương tiện" lên thiên đình của ông Công, ông Táo thì nghề nuôi cá chép đỏ ở làng Thuỷ Trầm cũng theo đó phát triển mạnh. Không ít hộ đã giàu lên từ nghề này.

< Những người dân Thủy Trầm hối hả thu gom cá sát ngày ông Táo về trời.

Ông Hà Công Kỷ, người có nhiều năm kinh nghiệm nuôi cá cho biết cá chép đỏ rất dễ nuôi, tiền đầu tư ít. Cá giống chỉ cần được tiêm thuốc kích thích đúng kỹ thuật là đẻ "ầm ầm."

< Anh Hiếu 1 trong những gia đình xuất cá đỏ nhiều nhất.

Thức ăn chính của cá là củ sắn xay. Chi phí cả năm cũng chỉ cho ăn hết tấn sắn, hết vài triệu bạc, không đáng là bao.

< Cá đỏ Thủy Trầm được nuôi cùng cá chép để cho chậm lớn.

Theo ông, cá càng nhỏ càng dễ bán và có giá lại đỡ tốn thức ăn nên nghề nuôi cá chép đỏ cho lợi nhuận rất cao.

< Lọc và tuyển chọn những loại cá tốt.

Qua sáu tháng thả cá chép đỏ, với giá bán thông thường là 150.000đồng/kg, trừ chi phí người dân có thể lãi được 25 triệu đồng/ao.

< Bổ sung oxy và giúp cá nhả sạch bùn đất.

Theo cán bộ khuyến nông của xã Thủy Trầm, vào tháng Sáu Âm lịch hàng năm là thời điểm thích hợp thả cá chép đỏ. Nguồn nước nuôi cá đảm bảo sạch (nước giếng khoan), được lưu thông thường xuyên tránh bệnh tật trong suốt 5-6 tháng nuôi.

Nuôi làm sao cho cá không lớn quá nhanh, để đến khi thu hoạch cá bằng hai đầu ngón tay là vừa đẹp. Do vậy mỗi mét vuông mặt nước có thể thả tới 500 đến 700 con, mỗi ao cá có thể thả lên đến hàng vạn con cá.

< Những gia đình có cá đẹp luôn được các lái buôn để mắt tới.

Nuôi cá chép đỏ lãi gấp chục lần trồng lúa và hoa màu nên người dân xã Tuy Lộc thi nhau chuyển đổi sang nuôi cá, nhiều nhất là ở thôn Thủy Trầm.

< Bơm oxy mỗi khi cá được vận chuyển đi xa.

Cả thôn có 564 hộ thì có tới gần 500 hộ có ao nuôi chép đỏ, với tổng diện tích lên đến cả trăm hécta, mỗi năm sản xuất tới 60-70 tấn cá cung cấp cho thị trường cả nước.

< Còn vài ngày nữa là đến ông Táo nên trong làng hầu hết mọi nhà đã vét sạch cá.

Từ ngày 14, 15 tháng Chạp, ao chưa tát xong, tư thương từ Yên Bái, Hà Giang, Hà Nội... đã đánh ôtô, xe máy về đậu kín đầu làng. Cá chép đỏ rực cả sân, ruộng. Nhiều khi dân lái buôn thường phải lên Thủy Trầm đặt tiền trước cả tháng, thậm chí nửa năm để chắc chắn có nguồn hàng, không bị mua hụt.

< Phút nghỉ ngơi cùng mùi cá nướng thơm phức.

Nghề nuôi cá chép đỏ đã góp phần làm làm giàu cho nhiều hộ dân và làm thay đổi bộ mặt ở vùng trung du miền núi Thủy Trầm.

< Chuyến hàng đầu tiên được các lái buôn đưa đi tỉnh xa.

Tháng 6/2011, Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định công nhận thôn Thủy Trầm là làng nghề, đây là điều kiện thuận lợi để con cá chép đỏ vươn xa hơn nữa cả về chất lượng và thị trường tiêu thụ trong thời gian tới.

Du lịch, GO! - Theo Vietnam+, Bee.net

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Đặc sắc nhà gốm Long Hồ, Vĩnh Long

Từ xa xưa, Vĩnh Long là mảnh đất rộng nhất Đồng bằng sông Cửu Long. Với yếu tố “cố cựu” đó, dù hiện nay Vĩnh Long đã thu hẹp địa giới nhưng vẫn còn lưu giữ khá nhiều di tích của tiền nhân, trong đó có làng gạch ngói Long Hồ tồn tại khoảng 150 năm nay. Thăm làng gạch ngói Long Hồ cũng là chuyến du lịch làng nghề.

Có dịp đến làng gạch ngói Long Hồ, những năm sau ngày hòa bình trên con đường đất đá lổn nhổn, bạn sẽ được chứng kiến những lò gốm hình trứng khổng lồ nằm “úp” dọc bờ sông Cổ Chiên một cách ngoạn mục. Năm 1997, làng gạch ngói trở thành làng gốm đỏ. Đi dài theo các phường xã dọc bờ sông Cổ Chiên như: Phường 5 (TX Vĩnh Long), xã Thanh Đức (Long Hồ), các xã Mỹ An, Mỹ Phước, Chánh An (Mang Thít) các cơ sở sản xuất gốm đỏ hầu như nằm liền kề bên nhau. Xe tải nhận hàng tấp nập các chuyến đến, đi. Không khí sinh động này đã thay cho làng gạch ngói nghèo nàn năm xưa.

Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động, làng gốm này còn phát triển dịch vụ vận tải thủy bộ, bao bì và làm khuôn mẫu. Đất sét ở đây nhiều phèn, khi qua lửa nung sẽ cho thứ gốm không men có nhiều sắc độ “lạ kỳ” mà họa sĩ tài ba cũng không thể nào phối màu được. Hiện nay, đến với làng gốm Long Hồ, đến thăm một làng nghề nổi tiếng bạn sẽ sững sờ chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc đặc sắc hầu như có một không hai ở nước ta; đó là nhà gốm.

Cách xa hàng chục thước, bạn đã thấy dãy tường rào của ngôi nhà gốm đỏ au ánh lên trong sắc nắng. Tiếp cận, chắc chắn bạn sẽ chắc lưỡi khen những hoa văn họa tiết được khắc họa trên những cột gốm thật hài hòa.

Nối giữa những cột gốm là những bức họa gốm đỏ đẹp không thua kém. Mái nhà lợp ngói đỏ. Sân nhà lót gạch tiểu với màu đỏ cố hữu, bóng lưỡng, chắc chắn, tạo hình hoa văn mỹ thuật. Toàn bộ nền nhà khách, nhà bếp đều được lót gạch tàu. Tường nhà là những hàng gạch tiểu đỏ lựng được xây hết sức khéo léo, mặt ngoài, mặt trong có nơi để trần, có chỗ che kín bằng vách gốm đỏ.

Đi dọc tường nhà, bạn sẽ bị “choáng ngợp” bởi những bức bích họa; bức màu đỏ hồng độc đáo, bức màu giả đồng đen...

Đó là tác phẩm gốm đỏ liên hoàn của họa sĩ Thế Đệ thể hiện bản đồ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng ba cô gái mặc trang phục truyền thống vùng miền mình: Bắc, Trung, Nam; là bức tranh hồng hạc - thể hiện thời thái bình thịnh trị.

Đó là những bức bích họa đưa bạn trở về thời cha ông đổ mồ hôi, kể cả xương máu để khẩn hoang vùng “nê địa” Đồng bằng sông Cửu Long này; những lễ hội dân gian đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, qua nét bút tạo hình không lẫn vào đâu của họa sĩ Lê Triều Điển.

Bạn sẽ sững sờ chiêm ngoạn những bức phù điêu màu đồng đen. Nhưng không, đó chỉ là những bích họa gốm đỏ được phủ đồng đen cho thêm phần giá trị. Chưa hết, gốm Long Hồ còn được thể hiện qua những bình, những chậu nhiều sắc màu bóng láng, lấp lánh, tinh khôi như sơn mài. Mà, sơn mài thật. Người ta đã chuyển những chậu, những bình gốm đỏ thành sản phẩm đặc thù của sơn mài để làm tăng thêm giá trị ngôi nhà gốm.

Để gia chủ tiếp khách còn có bộ bàn trà, với bốn chiếc đôn, đều bằng gốm đỏ. Giữa nhà là chiếc đi-văng, nhưng không phải được làm bằng cẩm lai, gõ đỏ, thao lao, mà hoàn toàn bằng gốm có màu vàng sậm, mát lạnh tay sờ.

Tại đây, khách có thể đặt mua chiếc đi-văng gốm rộng 1,6 mét dài 3 mét, bốn gờ xung quanh trang trí hoa văn mỹ thuật với cả chân quỳ. Sản phẩm được làm bằng đất sét cùng hóa chất, không cho vô lò nung như các sản phẩm gốm khác, thoạt nhìn giống như đi-văng bằng gỗ quý như căm xe, cà chất, gỗ đỏ hoặc thao lao.... Đi-văng gốm có tuổi thọ như đi-văng gỗ. Đang mùa nắng gắt, nằm đi-văng gốm thì khỏi phải nói. Bạn sẽ nghe cảm giác mát mẻ, sảng khoái lan thấm vào thớ thịt, giúp bạn đi sâu vào giấc ngủ lúc nào không hay. Giá 45 triệu đồng/chiếc. Đây là sản phẩm độc đáo ở “vương quốc gốm đỏ” Long Hồ này.

Chặp tối, bạn thư thả ngồi trên một trong bốn chiếc đôn gốm của chiếc bàn trà đặt trong căn nhà mát. Nhà mát là loại nhà được các giới chức hoặc nhà giàu địa phương xưa kia xây dựng bên bờ sông. Bây giờ, nhà mát được kết cấu bằng gốm đỏ, vừa đẹp vừa bền, vừa giữ được phong vị xa xưa cho những tâm hồn hoài cổ. Ngồi trong nhà mát gốm, bạn vừa thưởng thức đặc sản quê hương vừa cùng anh em nhỏ to tâm sự, tính toán chuyện làm ăn tương lai, trong những cơn gió mát lành từ bờ sông thổi vào, thật là hạnh phúc!

So với nhà được xây dựng bằng gỗ, nhà gốm và nhà mát có giá rẻ hơn. Trung bình, một căn nhà gốm để ở có giá khoảng 150 triệu đồng, còn nhà mát thì chừng 80 triệu đồng. Bàn trà gốm có giá 1,8 triệu đồng.

Nhà gốm là “kiệt tác” xuất sắc của làng gốm Long Hồ, được kết cấu hoàn toàn bằng gốm nung đỏ, kể cả rui, mè, đòn tay, đòn dông, kèo, cột..., tất cả đều vững chắc và hài hòa dưới bàn tay tài hoa của các nghệ sĩ mỹ thuật, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam đảm trách. Nhìn đại thể, nhà gốm cấu trúc giống nhà chữ “đinh”, là một trong những kiểu nhà truyền thống của Nam bộ. Nó là nơi lưu giữ dấu ấn không gian sinh sống của một tầng lớp cư dân khá giả xưa, là nét văn hóa bản địa độc đáo, sang trọng, phù hợp với sự phát triển theo đà tiến hóa của dân tộc trên nền tảng truyền thống. Chính vì vậy mà nhà gốm là điểm thu hút khách tham quan.

Du lịch, GO! - Theo web TCDL, ảnh internet
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...