Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Miền nhớ Hải Dương

Cách Hà Nội chừng 70km, đảo cò ở xã Chi Lăng Nam, Thanh Miện, Hải Dương là một điểm du lịch sinh thái có một không hai ở miền Bắc.

Hải Dương là tỉnh có tiềm năng du lịch dồi dào, một miền đất trù phú với phong cảnh thiên nhiên hữu tình và tài sản vô giá là hàng trăm di tích lịch sử đã được công nhận và xếp hạng. Trong một ngày về miền đất này, chúng tôi đã ghé thăm hai địa danh.

Uy nghi Văn Miếu Mao Điền

Khu văn miếu cổ kính nằm cạnh đường Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng, thế nên bất cứ du khách nào đi qua cũng muốn dừng chân ghé lại. Từ giữa thế kỷ thứ XV, với chủ trương mở mang việc học hành và đào tạo nho sĩ, quan lại… nhà Lê đã cho xây dựng một loạt những trường quốc lập, trong đó có Văn Miếu Mao Điền - công trình kiến trúc văn hóa bề thế, uy nghi.

Qua cổng Tam Quan đồ sộ, du khách dễ dàng nhìn thấy cây gạo cổ thụ hàng trăm năm tuổi in bóng dưới hồ nước xanh mát tôn vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch cho văn miếu. Tương truyền, cây gạo cổ thụ này được trồng từ năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) là thời điểm tái thiết văn miếu trấn Hải Dương tại Mao Điền.

Phía trong hậu cung của văn miếu thờ cả thảy chín bài vị. Chính giữa thờ Khổng Tử, ông tổ của đạo Nho. Lần lượt hai bên là bài vị của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, thầy giáo Chu Văn An, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Danh sĩ Phạm Sư Mạnh, Nhà toán học Vũ Hữu, Danh y Tuệ Tĩnh, nữ tiến sĩ đầu tiên Nguyễn Thị Duệ.

Đến Văn Miếu Mao Điền, lòng người như thư thái và tự hào về một bề dày truyền thống hiếu học của người nước Nam. Hàng năm, từng đoàn sĩ tử tụ hội về đây lòng thành kính khâm phục, quyết tâm noi theo các bậc tiên hiền để trở thành những người con hữu dụng của quê hương, đất nước.

Hấp dẫn đảo cò Chi Lăng Nam

Cách Hà Nội chừng 70km, đảo cò ở xã Chi Lăng Nam (huyện Thanh Miện) là một điểm du lịch sinh thái có một không hai ở miền Bắc. Đây được xem là vương quốc của những cánh cò, nơi tụ hội của chín loại cò quý hiếm với số lượng lên tới hàng nghìn con.

Theo kinh nghiệm của người dân địa phương thì để quan sát cò tốt nhất thì nên chọn một chiếc thuyền cỡ nhỏ để không làm náo động không gian sống của cò. Thời điểm để xem được nhiều cò nhất là lúc hoàng hôn.

Đất lành chim đậu, người dân ở đây vẫn kể cho nhau và cho du khách nghe truyền thuyết về đảo cò và hồ An Dương. Chuyện rằng, vào thế kỷ XV, nơi đây còn là những đồng ruộng trũng mênh mông, nổi trên giữa cánh đồng trũng ấy là một gò cao, bên trên có dựng một ngôi đền.

Bỗng một năm, một trận đại hồng thủy đã làm vỡ đê sông Luộc, nước tràn vào ngập trắng cả một vùng. Xung quanh gò đất nhô cao giữa cánh đồng trũng bỗng nổi lên những xoáy nước khổng lồ. Qua một đêm, ngôi đền trên đỉnh gò cao đó bỗng dưng biến mất. Nước không bao giờ rút nữa tạo thành một hồ lớn, nơi trước kia là ngôi đền hình thành một đảo nhỏ.

Người dân trong vùng xem đây là vùng nước thiêng, không bao giờ tát cạn được, nên đã sống dạt ra phía ven ngoài của hồ. Theo thời gian, cò vạc bắt đầu đến trú ngụ ở đảo mỗi ngày một nhiều. Và đảo cò Chi Lăng Nam cũng bắt đầu được hình thành từ đó.

Đò chầm chậm trôi trong ánh hoàng hôn. Du khách say mê ngắm từng đàn cò nối nhau về tổ. Mỗi đàn có số lượng từ dăm bảy chục tới hàng trăm con. Sau khi lượn nhiều lòng che kín cả khoảng không gian mặt hồ, chúng lần lượt hạ cánh an toàn xuống những lùm cây xanh xào xạc trong ánh nắng cuối ngày giữa biển nước mênh mông.

Trong nắng chiều vàng như mật, ngồi trên thuyền nhỏ bập bềnh giữa lòng hồ bao la sóng nước, những người chèo đò xứ Đông sẽ kể cho khách nghe những truyền thuyết hấp dẫn kỳ bí về đảo cò...

Du lịch, GO! - Theo Danviet, intrnet

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Xã Thượng Bằng La với đèo Lũng Lô lịch sử

Xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) có đèo Lũng Lô, một địa danh nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đi vào lịch sử như một huyền thoại. Toàn xã có diện tích tự nhiên 9.346ha, gồm 7 dân tộc anh em cùng chung sống. Phía Đông có đường sang Thu Cúc, huyện Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ); phía Tây 7km thuộc quốc lộ 37A nối Yên Bái - Nghĩa Lộ; phía Nam 5km vượt đèo Lũng Lô sang Phù Yên, Sơn La.

Đặc biệt, núi Tè có độ cao trung bình hơn 1.300m so với mực nước biển, như một lá chắn hình cánh cung, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ nằm cách Thượng Bằng La gần 2km. Thượng Bằng La có vị trí quan trọng, án ngữ hai con đường huyết mạch là quốc lộ 13A (nay là đường 37A) về hướng tây bắc Tổ quốc và quốc lộ 32 chạy qua phía đông xã, xuôi 160km là đến Thủ đô Hà Nội.

< Trung tâm xã Thượng Bằng La.

Với địa thế có vị trí chiến lược quan trọng nên trong kháng chiến chống Pháp, nhiều đơn vị bộ đội chủ lực, dân công hỏa tuyến theo quốc lộ 13A qua Thượng Bằng La tiến vào giải phóng Tây Bắc, làm nên chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu. Trong khí thế hào hùng ấy, năm 1953, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, cùng Đại đội súng cối 267 thuộc Đoàn B08 hành quân từ Đại Từ vượt đèo Khế, dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù lên miền Tây Bắc.

Khi tới Thượng Bằng La, Đại đội được lệnh dừng chân. Cấp trên phổ biến nhiệm vụ cho đơn vị là tham gia "Chiến dịch Trần Đình". Trần Đình là địa danh nào trên bản đồ Tổ quốc? Không ai biết. Có anh đoán già, đoán non: "Có lẽ ta hành quân nghi binh, qua Nghĩa Lộ rồi lại quặt về đồng bằng", nhiều ý kiến đồng tình, nhiều ý kiến dự đoán khác, sôi nổi hẳn lên.

< 58 năm về trước, công binh phá đá trên đèo Lũng Lô mở đường ra chiến dịch.

Bỗng trong đoàn hành quân có một chiến sĩ cất giọng nói to: "Thôi, dẹp thắc mắc nhé! Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi". Nhạc sĩ Đỗ Nhuận chộp lấy cuốn sổ tay và cẩn thận ghi nguyên câu nói của người chiến sĩ ấy. Đơn vị lại hành quân tiếp và bài hát được ra đời ngay trong tâm tưởng nhạc sĩ trên bước hành quân lên Tây Bắc đẫm sương... Bài hát nhanh chóng được phổ biến, trở thành nguồn động viên tinh thần của bộ đội.

"Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi", bài hát thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng, ý chí quyết thắng của lớp lớp Bộ đội Cụ Hồ, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ xông ra tiền tuyến diệt quân thù, làm nên thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay, tinh thần ấy vẫn còn tươi mới, theo bước chân các chiến sĩ bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc.


< Đường 32A, đoạn đèo Lũng Lô được nâng cấp, tôn tạo.

Từ mảnh đất cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã ghi dấu ấn đầu tiên để thành bài hát "Hành quân xa" ấy, trong hai cuộc kháng chiến đã động viên 532 thanh niên các dân tộc lên đường chiến đấu trên khắp các chiến trường và cũng chính từ mảnh đất ấy đã có 131 liệt sĩ, 55 thương binh, bệnh binh cống hiến, hy sinh xương máu của mình cho ngày tự do, độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Dẫu vẫn còn không ít khó khăn nhưng với truyền thống cách mạng và khí thế, tinh thần bài hát "Hành quân xa", cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc xã Thượng Bằng La càng vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hăng say lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Du lịch, GO! - Theo Yenbai.gov, ảnh sưu tầm

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2012

Độc đáo cách xếp đá ở Trường Lũy

Với những lớp đá xếp chồng rồi gia cố đất bên trong, Trường Lũy là công trình dài và quy mô nhất Đông Nam Á với sự đa dạng của cấu trúc và kỹ thuật xây dựng quân sự, giao thương.

Để khám phá một số đoạn trong Trường Lũy thuộc tỉnh Quảng Ngãi đã được Bộ VH-TT&DL công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 9/3/2011, chúng tôi từ Chu Lai cưỡi chiếc xe máy thuê của nhân viên khách sạn xuôi về TP. Quảng Ngãi rồi ngược lên huyện Ba Tơ theo quốc lộ 24.

Qua địa phận đèo Đá Chát huyện Ba Tơ cách Quảng Ngãi hơn 40 km thì nắng đã lên cao, từ đây muốn vào khu vực Trường Lũy thuộc thôn Tân Long Hạ phải đi bộ 500 mét trên lối mòn xuyên qua khu vực trồng keo lá Tràm của người dân tộc H’re bản địa. Cảnh sắc thiên nhiên nơi đây thực sự thanh vắng, mơ màng.
Bất ngờ đường đi bỗng bị chắn ngang bởi  bức tường xếp bằng đá cao 1,5 mét, dày hơn 2 mét và trên mặt còn đắp thêm đất.

Chúng tôi quyết định đi dọc theo Trường Lũy hướng tới mạch núi Đá Chát, phát hiện nhiều đoạn bị che lấp giữa đám cây dại hoặc sạt lở vì những cây cổ thụ mọc um tùm.

Phóng tầm mắt về phía bắc cách lũy không xa là dòng sông Liên thượng nguồn sông Vệ đang êm đềm trôi xuôi giữa đôi bờ là những gềnh đá nửa chìm, nửa nổi như bồng bềnh trên mặt nước. Nỗi vương vấn về một nơi lịch sử xa xưa đã thôi thúc chúng tôi tiếp tục đến Trường Lũy, thôn Nam Lân, xã Ba Động, cách Tân Long Hạ 5 km.

Đó là bức thành đá dài hơn 300 mét, hiện trạng còn nguyên vẹn được xếp khéo léo vững chãi, nhưng không hề có chất kết dính nằm giữa vùng bán sơn địa đầy sắc hoa mua, hoa sim nở tím biếc. Ở đây còn là nơi tộc người Hre sống thưa thớt bên những cánh đồng lúa đã lên xanh.

Điều khá lý thú là khi chúng tôi hỏi tới những phế tích còn sót lại đâu đó trong khu vực thì từ trẻ chăn bò đến già làng đều chỉ dẫn khá tường tận. Thậm chí, họ quả quyết đã từng ngẫu nhiên đặt chân đến tận “bức tường đá” thuộc huyện An Lão, tỉnh Bình Định - cách Ba Động 45km cùng nhiều phế tích, đồn lũy, hào sâu... trên đỉnh núi nhân một chuyến đi điền dã hái lá thuốc.

Trường Lũy, hay Trường Lũy Tĩnh Man, tức lũy dài yên định các bộ tộc, tên gọi chung của một hệ thống bao gồm đồn lũy, sơn đạo, các tụ điểm buôn bán, những xóm làng người Việt... khởi thủy được xây dựng từ thời vua Lê Trang Tông, qua triều Nguyễn  tiếp tục trùng tu đồng thời đào hào trồng tre cho kiên cố nhằm chống lại các bộ tộc hiếu chiến ở phía tây Trường Sơn thường tràn xuống đánh phá, cướp bóc.

Song, công trình này không phải đề khép kín, chia cắt mọi sự quan hệ giữa người miền xuôi với các người miền ngược. Bằng chứng dọc theo lũy một số nơi vẫn còn khoảng trống cắt ngang như lối cũ đường xưa kế bên phế tích đồn canh (còn gọi bảo) nơi lính sơn phòng chặn kiểm soát người qua lại và điều hành các mối giao thương hàng hóa.

Hơn thế nữa, theo các nhà khảo cổ thì Lũy kết cấu từ kỹ thuật xếp đá độc đáo của người Hre, cho nên có thế khẳng định quá trình tạo dựng đã được hai dân tộc Kinh và Hre chung lưng gánh vác.
Theo Đại Nam thực lực triều Nguyễn, lũy dài 117 dặm, tức hơn 50 km, nhưng sách Viêm Giao trưng cổ ký lại ghi 177 dặm thì chưa tới 80 km.

Gần đây, qua một số tài liệu của các đoàn khảo sát thì Trường Lũy nếu tính từ khu vực Trà Bồng (Quảng Ngãi) trườn qua hàng loạt ngọn núi rồi băng xuống những thung sâu, lũng thấp huyện Ba Tơ trước khi đến khu vùng cao An Lão - Bình Định dài 133 km.
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng độ dài của nó xấp xỉ 200 km hoặc 300 km. Vì thế chiều dài đích thực của nó hiện nay vẫn chưa được giải đáp chính xác, đầy đủ.

Chưa hết, Trường Lũy vượt qua nhiều địa hình phức tạp nên việc thi công cũng khá đa dạng. Ở khu vực đồng bằng, lũy được xếp đá rồi gia cố đất bên trong, nơi sống lưng những ngọn núi, dốc cao hoặc gần sông suối người ta bắt buộc phải xây dựng hoàn toàn bằng đá để đạt độ bền cao chế ngự thiên tai, sạt đổ.
Hiện tại phần đông các nhà nghiên cứu nhận xét Trường Lũy là công trình dài và quy mô nhất Đông Nam Á với sự đa dạng của cấu trúc và kỹ thuật xây dựng quân sự, giao thương.

Chốn dừng chân cuối ngày của chúng tôi là bức tường đá được xây khúc khuỷu bao quanh đỉnh núi Nứa thuộc thôn Thiên Xuân, xã Hành Tính Đông, huyện Nghĩa Hành. Với chiều dài hơn 400 mét, chiều cao tới 3 mét, chân đế rộng 4-5 mét và bề mặt rộng 2 mét có thể đi tuần tra dễ dàng thì kích thước, hình dáng lẫn chất liệu xây dựng công trình này xem ra to đẹp gấp 2-3 lần so với Trường Lũy thôn Tân Long Hạ và Nam Lân.

Ngoài ra, trong khuôn viên thành lẫn khuất dưới đám cỏ dại là giếng cổ, những nền gạch nham nhở, rêu phong, các mảnh gốm vỡ ra từ chum ché...
Đó là tất cả là những gì còn sót lại của một trại lính sơn phòng nằm tách biệt trên cử điểm xung yếu để kiểm soát cả vùng đồng bằng rộng lớn phía tây xưa kia.

Cho đến lúc này, các nhà nghiên cứu đều khẳng định về giá trị kiến trúc và vai trò lịch sử của Trường Lũy trong quá trình mở mang bờ cõi. Tuy nhiên, để bảo tồn toàn bộ di sản Trường Lũy thì khó trăm bề bởi nó dàn trải qua nhiều địa hình hiểm trờ, chưa kể nhiều đoạn đã bị xóa trắng vì thiên tai và do con người khai thác, phá bỏ để lấn chiếm đất đai mở rộng diện tích trồng trọt hay canh tác nông nghiệp.

Vì thế, ngoài kế hoạch dài lâu hướng tới việc bảo tồn toàn bộ, nên chăng trước mắt các nhà quản lý cũng cần chọn ra một số di tích đặc sắc, tiêu biểu nhằm tôn tạo và đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Như vậy, quá khứ sẽ được 'sống' trong hiện tại và cả trong tương lai.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet

Mỹ Sơn, từ góc nhìn chính diện

Thay vì khám phá thánh địa Mỹ Sơn từ phía sau lưng khu đền tháp theo lỗi mòn cũ mà BQL khu di tích này khai thác từ năm 1999 (thời điểm được công nhận Di sản văn hoá thế giới) đến nay, bắt đầu từ 28.12.2011, du khách đến với Mỹ Sơn sẽ được chiêm nghiệm, thưởng lãm khu di tích độc đáo này từ góc nhìn chính diện (mặt tiền) của những cụm tháp.
Cũng từ thời điểm này, BQL khu di tích đang thay đổi phương thức khai thác, bảo vệ theo hướng bền vững, trả lại không gian yên tĩnh vốn có cho thung lũng Mỹ Sơn…

"Làm sạch" Mỹ Sơn

Sáng 28.12.2011, UBND huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn chính thức đưa hệ thống xe điện, phục vụ khách tham quan.

Theo đó, đưa vào sử dụng 5 xe điện phục vụ trung chuyển khách cùng hệ thống nhà chờ, trạm điều hành... Kinh phí triển khai hệ thống xe điện này là 1,2 tỉ đồng, được đầu tư từ nguồn quỹ tích luỹ của Ban Quản lý và vốn vay ngân hàng. Theo Trưởng ban Quản lý khu di tích Mỹ Sơn - ông Nguyễn Công Hường, dự kiến năm 2012, Ban Quản lý tiếp tục đầu tư thêm 5 xe điện từ 12-14 chỗ, tiến đến cấm toàn bộ xe động cơ xăng dầu vào thung lũng Mỹ Sơn.

Với lượng khách 70-100 người mỗi ngày những năm 1999-2000, nay đã tăng lên trên 1.000 người mỗi ngày đến Mỹ Sơn, nếu không sớm có biện pháp hạn chế xe cơ giới vào sát chân tháp sẽ dẫn đến nguy cơ cao cho di sản. Đây là điều mong đợt từ lâu của Mỹ Sơn, bởi lẽ, nếu trang bị đầy đủ hệ thống xe trung chuyển thân thiện như xe điện này sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ di tích vốn đã quá xuống cấp.

Cùng ngày, Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn, Sở VH-TT-DL Quảng Nam đã trao giải thưởng cho cuộc thi thiết kế logo riêng cho Mỹ Sơn và chính thức chọn mẫu thiết kế logo của tác giả Lê Quang Lợi - một hoạ sĩ tỉnh Bình Dương sáng tác để làm logo riêng. Như vậy, sau 10 năm kể từ khi được UNESCO công nhận là di sản Văn hoá thế giới, Mỹ Sơn lần đầu tiên có logo riêng.

Logo có hai màu vàng nâu, lấy cảm hứng chủ đạo từ màu gạch Chăm rêu phong, hình tượng thần Siva cách điệu vốn làm nên điểm đặc sắc nhất trong văn hoá Chăm. Logo này cũng sử dụng hình ảnh cách điệu chữ cái M trong tên di sản Mỹ Sơn và chữ W trong cụm từ tiếng Anh World heritage (di sản thế giới). Trước đó, với sự trợ giúp của Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, Ban Quản lý di tích du lịch Mỹ Sơn đã phát động cuộc thi sáng tác logo cho khu di sản thế giới từ tháng 7-11.2011.

Trải nghiệm mới

Cũng từ dịp này, Ban Quản lý khu di tích Mỹ Sơn đã hoàn chỉnh, đưa vào sử dụng hệ thống bảng biển báo, hướng dẫn, thuyết minh mới. Lối khám phá, tham quan khu đền tháp Mỹ Sơn sẽ đi theo hướng ngược lại với đường đi xưa nay. Nghĩa là du khách sẽ được chiêm ngưỡng Mỹ Sơn bắt đầu từ "mặt tiền" của các đền tháp (thay vì tiếp cận từ lưng tháp) như trước.

Điều đáng nói hơn, với cung đường gần 2km, xuyên giữ khu rừng trồng ngút xanh, uốn lượn qua những triền đồi, qua những con suốt trong vắt... chắc chắn sẽ mang lại cảm giá trải nghiệm mới, đầy thích thú cho du khách. Lối đi vòng qua các di tích về đến nhóm tháp đẹp nhất Mỹ Sơn không chỉ giúp du khách có một trải nghiệm mới, một cái nhìn tổng quan hơn về Mỹ Sơn, có thời gian suy ngẫm về những gì đã thấy, đã nghe".

Ông Nguyễn Công Hường rất phấn khởi khi khu Thánh địa có được logo - điểm nhận biết riêng có, độc đáo của di sản vốn nổi tiếng trong và ngoài nước. Tuy nhiên, theo ông, điều mà người làm công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích ở Mỹ Sơn tâm đắc hơn đó là sự hoàn thiện chất lượng phục vụ du lịch, khám phá, nghiên cứu. Hơn 50 hướng dẫn viên, thuyết minh về khu di tích vừa được tập huấn kỹ về kiến thức, nghiệp vụ cũng như thái độ phục vụ.

Mỹ Sơn không còn tiếng ồn, khói bụi xe cơ giới, không gian được mở ra nhờ lối đi, tiếp cận mới, hoà với môi trường sinh thái tự nhiên đã tạo sự hấp dẫn mới đối với khu di tích cũ này.

Du lịch, GO! - Theo Thanh Hải báo Lao Động, internet

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

Những cột cờ 'độc nhất vô nhị' ở VN

Không chỉ thể hiện chủ quyền lãnh thổ của các vương triều phong kiến, cột cờ còn là điểm nhấn kiến trúc cảnh quan ở các đô thị hiện nay.

Theo đó, cột cờ Hà Nội, Kỳ đài Huế, cột cờ Thành Nam (Nam Định), cột cờ Hiền Lương (Quảng Trị) và cột cờ Lũng Cú (Hà Giang) được xem là những di sản "độc nhất vô nhị" ở Việt Nam.

Cột cờ Hà Nội

Tọa lạc trên đường Điện Biên Phủ (quận Ba Đình, Hà Nội), cột cờ Hà Nội là một trong năm di tích còn được bảo tồn nguyên vẹn trong quần thể khu di tích thành cổ và là biểu tượng thiêng liêng của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Cột cờ Hà Nội được xây dựng năm 1812, dưới thời Vua Gia Long triều Nguyễn, trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long; là một công trình bề thế, cao nhất trong thành phố thời bấy giờ; có chức năng là vọng canh. Đứng từ trên đỉnh của cột cờ, có thể quan sát cả một vùng khá rộng trong và ngoài khu thành cổ.

Kiến trúc cột cờ bao gồm ba tầng đế và một thân cột, cao hơn 41 m, trông như khối lăng trụ xếp chồng nhau, cao thót dần từ dưới lên trên, nên không hề tạo cảm giác nặng nề, mà rất hài hòa và thanh thoát. Tầng một mỗi chiều 42,5 m, cao 3 m, có 2 thang gạch dẫn lên. Tầng hai mỗi chiều 27 m, cao 3,7 m có 4 cửa. Tầng ba mỗi chiều 13 m, cao 5 m; cũng có 4 cửa theo hướng đông, tây, nam, bắc.

Cửa hướng Đông được đắp hai chữ "Nghênh húc" (đón ánh nắng ban mai), cửa hướng Tây với "Hồi quang" (ánh sáng phản chiếu), cửa Nam với "Hướng minh" (hướng về ánh sáng). Riêng cửa hướng bắc được bố trí hai cầu thang lên sân thượng phía bên phải và trái, mỗi cầu thang gồm 14 bậc, có tay vịn bằng sắt. Sân thượng được bao quanh bằng lan can gỗ cùng với tường hoa trổ những hình lục giác có hình vuông ở giữa, được đan lồng với nhau trông tựa hình mạng nhện.

Từ tầng 1 đến tầng 3 đều có cầu thang xoắn dẫn lên. Trên tầng 3 là thân cột cờ có 8 cạnh thon dần lên phía trên, mỗi cạnh 2,13 m với thân cao 18,2 m. Trụ hình thang xoáy trôn ốc gồm 54 bậc; được rọi sáng bằng 39 ô cửa sổ hình hoa thị và 6 ô cửa sổ hình dẻ quạt. Trong khi đó, đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác, cao 3,3 m có 8 cửa sổ tương ứng 8 cạnh. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4 m và cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ, cao 8 m.

Hiện nay, dù có nhiều công trình cao lớn hơn hiện diện bên cạnh, công trình cột cờ Hà Nội vẫn rất hoành tráng, sừng sững chiếm một vị trí quan trọng trong lòng Hà Nội.

Kỳ đài Huế

Kỳ đài Huế là công trình thuộc quần thể kiến trúc cố đô Huế, nằm ở phía trong mặt tiền kinh thành, trước Ngọ Môn, theo hướng Nam, ở khoảng giữa hai cửa Ngăn và cửa Quảng Đức, trên pháo đài Nam Chánh.

Dư địa chí Thừa Thiên Huế ghi, Kỳ đài Huế được chính thức xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (Đinh Mão 1807); lúc đầu còn đơn giản, đến thời vua Minh Mạng thì liên tục được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840. Kỳ đài được xây dựng bằng gạch gồm ba tầng, với ba hình khối xếp chồng lên nhau, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ dần từ dưới lên trên; được dùng để treo cờ của nước Việt Nam dưới triều Nguyễn (cờ quẻ ly).

Năm 1846, vua Thiệu Trị cho thay cột cờ mới (Tân kiến trụ). Năm 1904, một trận bão lớn xảy ra ở Huế gọi là trận bão năm Thìn (Giáp Thìn), khiến cột cờ lại bị gãy, đến thời vua Thành Thái, cột cờ lại được dựng bằng chất liệu gang. Đầu năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp một lần nữa cột cờ Huế bị đổ. Đến năm 1948, Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ cho xây dựng cột cờ bằng cốt thép cao lớn hơn và chính là công trình hiện nay -cũng đã được Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã tổ chức trùng tu từ giữa năm 1994 đến năm 1995.

Kiến trúc kỳ đài có ba tầng. Từ mặt đất lên tầng dưới bằng 1 lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng 1 cửa vòm rộng 4 m; tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng 1 cửa vòm rộng 2 m. Ðỉnh mỗi tầng có xây 1 hệ thống lan can cao 1 m, được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Nền 3 tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới.

Ấn tượng nhất để ngắm nhìn kỳ đài Huế là đứng trên lan can cao nhất phía đông đàn Nam Giao nhìn xuống thành phố Huế.

Cột cờ Thành Nam

Nằm trên đường Tô Hiệu (phường Ngô Quyền, TP Nam Định), cột cờ Thành Nam là một công trình kiến trúc cổ, có giá trị lịch sử và văn hóa và còn là biểu tượng khơi dậy lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức tự hào, quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do của Tổ quốc.

Theo tư liệu lịch sử, cột cờ Thành Nam được xây cùng thời với cột cờ Hà Nội, vào năm Gia Long thứ 11, cao 23,84m. Toàn bộ cột cờ nằm trên hai tầng bệ, cột hình vuông thu dần từ dưới lên. Tầng dưới cùng hình vuông mỗi cạnh dài 16,33m, cao 2,40m. Hai phía Đông và Tây của tầng một có hai cầu thang xây bằng gạch 10 bậc dẫn lên tầng hai, mỗi cạnh dài 11,42m, cao 3,10m. Bốn mặt bệ đều xây lan can, trổ bốn cửa. Trên khuôn cửa Đông có hai chữ Nghênh húc (đón ánh ban mai). Khuôn cửa Nam có hai chữ Hướng quang (hướng theo đức sáng).

Cột cờ Thành Nam gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng. Ngày 27/3/1883, tàu chiến của Pháp từ sông Đào bắn phá vào trong Thành. Tại cột cờ, ở độ cao 11m, về phía Nam còn một vết đạn cắm sâu vào 4cm, đường kính 6cm. Thời kỳ hoạt động bí mật, nhiều cán bộ, Đảng viên vẫn lấy Cột cờ làm nơi liên lạc và sinh hoạt để bàn kế chỉ đạo phong trào. Đến ngày 11/6/1972, máy bay Mỹ đã bắn rocket và ném bom khiến công trình cột cờ bị sập hoàn toàn. Tuy nhiên, năm 1997, kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng thành phố Nam Định, cột cờ đã được phục dựng nguyên dạng.

Cột cờ Hiền Lương

Đây là công trình trọng điểm nằm ở khu vực giao nhau giữa sông Bến Hải và quốc lộ 1A (km 735), trong đó phía Bắc thuộc thôn Hiền Lương, huyện Vĩnh Linh, phía Nam thuộc thôn Xuân Hòa, huyện Gio Linh; được xây dựng vào năm 1963 với chiều cao 38 m, trong đó phần đài cao 11,5 m.

Theo lịch sử, việc dựng cờ và treo cờ Tổ quốc hàng ngày ở đồn Hiền Lương là một cuộc đấu tranh gay go, một cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch.

Ban đầu ta làm cột cờ bằng gỗ phi lao cao 12 m. Bờ nam địch cắm cờ trên nóc lô cốt cao 15 m. Các chiến sĩ của ta lên rừng tìm được cây gỗ 18 m đưa về dựng cột cờ. Địch xây cột cờ bằng bê tông cốt thép cao 30 m. Ta lại dựng cột cờ bằng thép ống cao 34,5 m. Địch tôn cột cờ lên 35 m. Ta xây cột cờ cao 38,6 m, treo lá cờ 134 m2. Lúc đó, nhân dân bờ nam, ở phía trong Dốc Miếu, Cồn Tiên vẫn thấy rõ lá cờ Tổ quốc ở bờ bắc tung bay, vẫy gọi.

Ngày 2/8/1967, địch tập trung nhiều tốp máy bay bắn phá suốt ngày, cột cờ bị gãy. Trong đêm đó, có chiến sĩ đã dũng cảm mang bộc phá sang sông đánh sập cột cờ của địch, chấm dứt vĩnh viễn cờ ba que của ngụy quyền trên bờ nam sông Bến Hải. Bên ta tiếp tục thêm 11 lần dựng cờ bằng gỗ...

Đến ngày 24/4/2005, nhân dịp cả nước kỷ niệm 30 năm ngày thống nhất đất nước, UBND tỉnh Quảng Trị đã tổ chức dựng lại cột cờ Hiền Lương nguyên mẫu với lá cờ đỏ sao vàng có diện tích 75 m2 tại thôn Hiền Lương, xã Vĩnh Thành (bờ Bắc sông Bến Hải- vĩ tuyến 17).

Cột cờ Lũng Cú

Hiên ngang đứng trên đỉnh Lũng Cú (thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang), nơi điểm cực Bắc của Việt Nam, cột cờ Lũng Cú có độ cao khoảng 1.700m so với mực nước biển.

Cột cờ Lũng Cú có lịch sử rất lâu đời, trải qua nhiều lần phục dựng, tôn tạo và lần khánh thành gần đây nhất vào ngày 25/9/2010. Cột cờ mới có tổng chiều cao 33,15m, trong đó phần thân cột cao 20,25m, phần cán cờ cao 12,9 m, đường kính ngoài thân cột là 3,8m, với cầu thang 135 bậc để khách tham quan lên tới cột cờ.

Về kiến trúc, cột cờ được thiết kế theo hình bát giác, chân cột cờ được gắn 8 tấm phù điêu đá xanh minh họa cho các giai đoạn thời kỳ lịch sử của đất nước và các phong tục tập quán của nhân dân tỉnh Hà Giang, phía trên có gắn 8 mặt trống đồng. Lá cờ Tổ quốc có chiều dài 9m, rộng 6m, diện tích 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên đất nước Việt Nam.

Cột cờ Lũng cú đã được cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử va danh lam thắng cảnh của đất nước.

Du lịch, GO! - Theo Datviet, internet

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Bến Nhà Rồng 150 năm trước

Bến Nhà Rồng hay Bảo tàng Hồ Chí Minh là Di tích lịch sử nổi tiếng của cả nước. Trong gần 150 năm, đây vẫn là thương cảng lớn nhất của Nam Bộ và cả nước, có từ thế kỷ 19 do người Pháp khai thác, nằm bên sông Sài Gòn.

< Bến Nhà Rồng.

Tại Bến Nhà Rồng có tòa nhà lớn, kiến trúc theo kiểu Á Ðông, cao hai tầng do Công ty vận tải đường biển của Pháp là Messageries Maritimes xây dựng vào năm 1863, dùng làm nơi bán vé tàu và nơi ở cho người Pháp quản lý tàu vào ra. Trước đây, từ mé sông Sài Gòn hoặc từ đường Nguyễn Tất Thành, quận 4 (hiện nay) nhìn vào sẽ thấy hai chữ M.I (chữ viết tắt của Công ty vận tải Hoàng Gia Messageries Impériales).

Ðây là tên gọi của Công ty Vận tải đường biển, vì năm 1859, lúc Pháp chiếm Gia Ðịnh, nước này còn theo chế độ quân chủ, sau chiến tranh Pháp - Ðức 1870, nhà vua bị lật đổ, lập ra chế độ Cộng hòa (tức đệ tam cộng hòa), vì vậy Công ty vận tải Hoàng Gia được đổi tên thành Công ty Vận tải đường biển để xóa bỏ di tích quân chủ của thời "chính quốc" Pháp lúc đó.

Ðáng chú ý là trên nóc tòa nhà này có gắn một đôi rồng lớn làm bằng đất nung, tráng men xanh, cho nên nhân dân quen gọi là Bến Nhà Rồng. Những người lớn tuổi lại gọi là Sở ông Năm bởi tòa nhà này do viên quan năm người Pháp tên là Domergue xây dựng năm 1863. Ðến tháng 10/1865, Nhà Rồng còn có tên khác là Sở Canh Tân tàu biển, sau khi ở đây xây thêm cột cờ Thủ Ngữ treo cờ hiệu giúp tàu thuyền ra vào dễ dàng. Ðến cuối năm 1899, công ty mới được phép xây cất bến tàu đàng hoàng để tàu cập bến.

Bến được lót bằng ván dày, đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông. Bến này cách bến kia chỉ 18 m. Bề ngang của mỗi bến vào phía trong bờ 8 m, chỉ vừa đủ cho tàu ra vào. Xong cảng, người Pháp làm đường ra vào cảng và con đường sát bến cảng xây sau, người Pháp gọi là bến Khánh Hội. Bến này xây dựng thiếu kiên cố, nhiều chỗ bị sụt lở, cho nên ít tàu ra vào. Năm 1900 bến Khánh Hội được khởi công tu bổ, nhưng công việc này kéo dài mãi đến năm 1912 mới hoàn thành để các tàu loại nhỏ và vừa ra vào.

Một di tích có bề dày gần 150 năm nay còn nguyên vẹn như thuở ban đầu là điều không dễ có. Ðiều quý giá hơn, là nơi đây, sáng ngày 4/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã xuống làm việc tại con tàu Latouche Tréville,  đậu ở cảng. Sáng hôm sau, ngày 5/6/1911, tàu nhổ neo ra khơi mang theo người thanh niên Nguyễn Tất Thành. Từ đây Người bắt đầu cuộc hành trình trên bốn biển, năm châu để tìm ra chân lý sáng ngời - con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, khỏi ách áp bức bóc lột của phong kiến đế quốc và thực dân.

Ðón Xuân Nhâm Thìn 2012, đến Bến Nhà Rồng được xây dựng cách đây gần 150 năm để nhớ lại những ngày đầu gian nan, vất vả trong cuộc hành trình của người thanh niên vĩ đại Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường đúng đắn nhất giải phóng dân tộc. Tết này, có về thăm lại Bến Nhà Rồng cũng là để tham quan, tìm hiểu về một di tích quý tại trung tâm TP Hồ Chí Minh, cảm nhận hơi ấm của Người từ 100 năm trước ra đi. Nhìn cảnh cũ, nhớ người xưa. Và không có người xưa, cảnh cũ thì làm sao có một Sài Gòn hoa lệ, một nước Việt Nam giàu đẹp như hôm nay.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Cema, Baomoi... và nhiều nguồn khác

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

Quảng trường Ngọ Môn

Trong những năm gần đây, giới báo chí gọi khu vực bãi đất trống nằm giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài là “Quảng trường Ngọ Môn” vì nó nằm ở trước mặt Ngọ Môn. Dùng địa danh này xem ra là thích hợp hơn cả, vì Ngọ Môn cùng với Lầu Ngũ Phụng ở trên đó là một trong những công trình kiến trúc có giá trị nhất của Huế về các mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, và đặc biệt nó là cái khán đài danh dự lý tưởng khi có cuộc lễ diễn ra ở quảng trường trước mặt nó.

Có một bãi đất trống nằm giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài. Nói chính xác hơn, không gian ấy được giới hạn bởi đường 23 tháng 8 ở phía bắc, chân tường Kinh thành ở phía nam, con đường ngắn sau cửa Thể Nhân (thường gọi là cửa Ngăn) ở phía đông và con đường ngắn sau cửa Quảng Đức ở phía tây. Chiều bắc nam của nó rộng gần 125m và chiều đông tây dài khoảng 360m.

Trong khi qui hoạch và xây dựng Kinh thành và Hoàng thành vào đầu thế kỷ XIX, các nhà kiến trúc triều Nguyễn đã thiết lập không gian trống này một cách có ý thức: vừa tạo ra một khoảng cách thích hợp giữa mặt tiền Hoàng thành và mặt tiền Kinh thành, hay nói cách khác, giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài, vừa để cho triều đình có nơi để tổ chức một số cuộc đại lễ hoặc làm một số công việc cần thiết.

Không thấy triều đình bấy giờ đặt tên riêng chính thức cho quảng trường này. Chỉ thấy Nội các cho biết đây là nơi “Đại duyệt” hoặc nơi “Duyệt binh” tức là khu đất mà triều đình dùng để tổ chức những cuộc diễn tập vào đầu xuân hàng năm của các đơn vị bộ binh, trong đó có sự duyệt khán của vua và các đình thần cao cấp.

< Phía ngoài quảng trường Ngọ Môn trong lễ tế Nam Giao xưa.

Trong quyển “Souvenirs de Hué” được viết vào giữa thế kỷ XIX, một chứng nhân lịch sử từng sống tại Huế từ thời Gia Long (1802 - 1819) đến đầu thời Minh Mạng (1820 - 1840) là Michel Đức Chaigneau, đã gọi là khu đất này là “trường diễn binh nhỏ” (le petit champ de Mars, place de manoeuvres) để phân biệt với “trường diễn binh lớn” (grand champ de Mars) bấy giờ tọa lạc tại bờ bắc Sông Hương ở trước mặt Kinh thành .

Vào khoảng đầu thập niên 1930, khi khảo sát kỹ về các địa danh ở phạm vi Kinh thành Huế, Léopold Cadière đã gọi khu đất trống tại đó là “Hội đồng diễn quân trường” được dùng bằng tiếng Pháp là “champ de manoeuvre pour les troupes” , nghĩa là trường diễn binh của các đơn vị quân đội. Nhưng, nhà nghiên cứu này không cho biết tên gọi chữ Hán ấy đã lấy từ tư liệu nào.

Từ khi triều Nguyễn cáo chung vào năm 1945 đến nay, dân chúng địa phương Huế thường gọi nó một cách nôm na và dễ nhớ là “sân Cột Cờ”. Sở dĩ nói là “sân”, vì nó thường được dùng làm sân bóng đá, và gọi là “Cột Cờ”, vì khu đất này nằm sát chân Kỳ Đài, trên đó có cột cờ cao nhất nước (52,81m).

Trong những năm gần đây, giới báo chí gọi là khu vực ấy là “Quảng trường Ngọ Môn”, vì nó nằm ở trước mặt Ngọ Môn như trên đã nói. Dùng địa danh này xem ra là thích hợp hơn cả, vì Ngọ Môn cùng với Lầu Ngũ Phụng ở trên đó là một trong những công trình kiến trúc có giá trị nhất của Huế về các mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, và đặc biệt nó là cái khán đài danh dự lý tưởng khi có cuộc lễ diễn ra ở quảng trường trước mặt nó.

Mỗi lần tổ chức lễ gì ở đây cũng có đông người tham dự. Lịch sử triều Nguyễn cho thấy rằng các cuộc lễ lớn từng diễn ra ở đây đều mang tính quốc gia, chẳng hạn như Lễ Truyền lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), Lễ Ban sóc (phát lịch), Lễ Duyệt binh hàng năm, Lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của vua Khải Định (năm 1924), Lễ thoái vị của vua Bảo Đại (1945).

Tiếp tục sử dụng chức năng truyền thống đó, từ năm 1975 đến nay, chính quyền tỉnh thành sở tại đã tổ chức ở đây một số cuộc lễ long trọng có hàng vạn người tham dự. Ví dụ, gần đây nhất:

Vào ngày 26/3/1999, chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức ở Quảng trường Ngọ Môn cuộc Lễ Kỷ niệm 5 năm Quần thể Di tích Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn Hóa Thế giới và mừng 24 năm ngày Huế giải phóng, trong đó có khoảng 1 vạn người tham dự với sự hiện diện của nhiều quan chức Việt Nam và quốc tế.

Vào đêm 8/4/2000, chính quyền tỉnh sở tại đã phối hợp với một số cơ quan văn hóa nghệ thuật ở Trung ương, các địa phương và phía đối với tác Pháp, tổ chức cuộc Lễ Khai mạc Festival Huế 2000 tại quảng trường này, với sự hiện diện của nhiều quan chức cao cấp Việt-Pháp và hơn 2 vạn dân chúng địa phương cùng hàng ngàn du khách nội địa và quốc tế.

Mặc dù chức năng chính của Quảng trường Ngọ Môn từ xưa đến nay vẫn như nhau, là dùng để tổ chức những cuộc lễ quan trọng mang tính quốc gia hoặc địa phương, nhưng diện mạo của nó đã có sự thay đổi ít nhiều qua thời gian.

Trong bộ sách “Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ”, Nội các Triều Nguyễn cho biết rằnng dưới thời Gia Long và đầu thời Minh Mạng, triều đình đã cho xây dựng ở hai bên quảng trường này 7 dãy nhà gồm 143 gian để che cho nhưng khẩu đại bác được đúc trong giai đoạn mấy chục năm ấy.

Những dãy nhà bằng gỗ lợp ngói này đã được gọi tên là “Tả Đại Tướng Quân Xưởng”, “Hữu Đại Tướng Quân Xưởng”, “Thượng Tướng Quân Xưởng”, “Tả Trung Tướng Quân Xưởng”, “Hữu Trung Tướng Quân Xưởng”. Từ “xưởng” ở đây có thể hiểu nghĩa là nhà chứa súng.

Đến năm 1832, khi bắt đầu nâng cấp bộ mặt kiến trúc của Hoàng thành, vua Minh Mạng đã cho dời một số dãy nhà súng ấy vào dựng “ở bên tả bên hữu trước cửa Ngọ Môn” .

Không thấy tư liệu nào cho biết rõ triều đình đã thiết trí bao nhiêu loại đại bác và bao nhiêu khẩu súng ở các dãy nhà súng hai bên Ngọ Môn. Nhưng, vào đầu thời Thành Thái (1889 - 1907), ở hai dãy nhà hai bên Ngọ Môn chỉ còn 9 khẩu “Thần oai Vô địch Thượng tướng quân “được đúc bằng đồng vào những năm 1803 - 1804 dưới thời Gia Long (Về sau, 9 khẩu súng lớn này thường được gọi là Cửu Vị Thần Công). Bấy giờ, ở dãy nhà bên trái, người ta đặt 4 khẩu mang tên “tứ thời”: Xuân, Hạ, Thu, Đông; và ở dãy nhà bên phải là 5 khẩu mang tên “ngũ hành”: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Vào năm 1896, triều đình Thành Thái đã cho di chuyển 5 khẩu bên phải qua đặt chung với 4 khẩu bên trái thành một dãy 9 khẩu. Lúc đó, dãy nhà bên phải trở thành “Mã khái” (Nhà để ngựa), và dãy nhà súng bên trái được gọi là “Pháo xưởng” .

Đến tháng 6/1917, dưới thời Khải Định, Nam triều đã cho Bộ Công đứng ra tổ chức di chuyển 9 khẩu thần công ấy một lần nữa và lại chia thành 2 nhóm, đặt ở 2 vị trí mới: 4 khẩu Tứ thời đặt ở phía sau cửa Thể Nhân và 5 khẩu Ngũ hành đặt phía sau cửa Quảng Đức, và xây 2 ngôi nhà bằng gỗ lợp ngói để bảo quản chúng . Đó chính là vị trí của Cửu Vị Thần Công mà chúng ta đang thấy hiện nay. Hai nhà súng này cho thấy rõ hơn nữa giới hạn chiều đông-tây của Quảng trường Ngọ Môn.

Mặt bằng của quảng trường này trong gần 200 năm qua, thường là một bãi đất trống. Một số ảnh chụp vào những thập niên đầu thế kỷ XX cho thấy triều đình có cho trồng một hàng dương liễu (cây filao) ở gần chân Kỳ Đài.

Có một trường hợp đặc biệt đã làm cho diện mạo của Quảng trường Ngọ Môn trở nên khác hẳn. Vào năm 1924, để cử hành cuộc lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của mình, vua Khải Định đã cho xây dựng tạm thời tại quảng trường này một tòa cung điện ở gần chân Kỳ Đài, mặt hướng về phía Ngọ Môn, và 2 dãy nhà ở 2 bên tòa cung điện, nằm đối diện nhau; đồng thời, chỉnh trang phần mặt sân ở khu vực trung tâm của quảng trường. Bấy giờ, người ta đã bố trí lại các thảm cỏ và đường đi lối lại. Các lối đi được lát gạch Bát Tràng. Nhìn chung, sự xây dựng, tôn tạo và trang hoàng lúc đó dù là tạm thời (trong một giai đoạn rất ngắn khi diễn ra cuộc lễ), nhưng trông thật tươm tất và đẹp đẽ...

Du lịch, GO! Theo Phan Thuận An (Tạp chí Sông Hương), ảnh sưu tầm

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Đi tour “1 ngày ăn cơm 3 nước”

Cứ khoảng 10km lại gặp một di tích từng in dấu lịch sử dân tộc. Đi trên đường 9 những ngày này, du khách sẽ hiểu thêm số phận kỳ lạ của con đường mà không một tuyến đường nào trên đất nước này có thể thay thế được.

Cùng là những tuyến đường nối hai nước Việt - Lào ở Trung bộ để phục vụ nhu cầu khai thác thuộc địa Đông Dương cuối thế kỷ 19, đường 9 từ Đông Hà chạy qua Lao Bảo, xuyên ngang tỉnh Savannakhet và dừng lại bên bờ sông Mekong, biên giới Lào - Thái Lan.

10km một di tích

Rời thành phố Đông Hà, tỉnh lỵ của Quảng Trị, đi khoảng 10km bạn sẽ đến huyện lỵ Cam Lộ, miền đất đã hai lần là “thủ đô” buổi sơn hà nguy biến, nhưng sau ngày hòa bình dường như ít ai biết đến.

Nơi đây vẫn còn chứng tích của một thời “thủ đô” Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khu nhà xưa, nơi làm việc của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã được phục dựng với nhiều tư liệu ghi lại hình ảnh đại sứ các nước trình quốc thư lên chính phủ ngày ấy. Đất Cam Lộ cũng kỳ lạ khi năm 1885 kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi đã cùng tùy tùng lấy Tân Sở làm căn cứ, ban chiếu Cần Vương, dựng cờ kháng chiến.

Từ Cam Lộ đi 10km nữa sẽ đến Tân Lâm, nơi trong lịch sử chiến tranh Việt Nam lần đầu tiên có cả một trung đoàn kéo cờ trắng về với cách mạng. Năm 1972, ngay tại căn cứ Carol, km 20 quốc lộ 9, trung tá Phạm Văn Đính, trung đoàn trưởng quân đội Sài Gòn, đã đưa cả trung đoàn lính ra hàng. Ở km 22 là cứ điểm Đầu Mầu nổi tiếng, đến km 27 là căn cứ Rock Pile. Hầu như cựu binh Mỹ nào trở lại Việt Nam cũng đều dừng lại đây nhìn lên đỉnh núi chon von, nơi xuất phát câu chuyện “đi lính kiểu Mỹ” bởi lính Mỹ ngày xưa khi đóng quân trên đỉnh núi, áo quần đều được trực thăng đưa về Đông Hà giặt, tất cả nhu yếu phẩm đều tiếp tế bằng trực thăng...

Bom đạn chiến tranh xưa nay còn lưu dấu trong những chiếc máy bay, xe tăng trưng bày ở Bảo tàng chiến thắng Tà Cơn. Đây cũng là điểm đến thích thú của du khách quốc tế khi được sờ tận tay những chiếc máy bay Chinook, trực thăng HU 1A mà người Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Bây giờ từ cầu Đakrông lên Khe Sanh, hai bên đường là những bản làng Vân Kiều. Từ đường 9 nhìn xuống, giữa thung lũng lúa xanh, những mái nhà sàn quây quần trong màu nắng rực vàng và thị trấn Khe Sanh hiện ra trước mắt. Tôi nhớ mãi lời ghi trong sổ cảm tưởng ở sân bay Tà Cơn của một nữ du khách tên Nguyệt: “Khe Sanh đẹp vô cùng. Tôi đã cố mà vẫn không hình dung nổi cảnh bom đạn chết chóc nhiều năm về trước”...

Từ đây thêm đúng 10km nữa sẽ gặp tượng đài chiến thắng Làng Vây, nơi năm 1968 lần đầu tiên binh chủng tăng - thiết giáp của ta tham chiến. Chiếc xe tăng tham gia trận đầu ấy nay đặt trên một bệ đá hoa cương cao sát bên đường, những đứa bé vẫn leo trèo chơi đùa trên nòng súng như một ngụ ngôn của bình yên.

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo cũng cách Làng Vây 10km. Từ một vùng rừng thiêng nước độc mà người Pháp dùng làm nơi giam giữ tù nhân xưa, Lao Bảo giờ đã hiện lên sắc vóc một đô thị biên ải năng động. Phần đường 9 phía Việt Nam dài 85km sẽ dừng lại ở vị trí giữa cầu Xà Ớt, sang bên kia là đất Lào.

Nguyên sơ xứ Nam Lào

Nếu đường 9 phía Việt Nam quanh co gấp khúc để vượt dãy Trường Sơn thì phía đất Lào như chạy trên bình nguyên bao la với những bản làng nằm giữa rừng cây cổ thụ. Sau cung đường gần 250km từ Lao Bảo bạn sẽ gặp Savannakhet, thành phố lớn thứ hai Lào (sau Vientiane). Như sót lại từ đầu thế kỷ 20, ngoại trừ những chiếc ôtô đời mới khá nhiều trên phố, Savannakhet vẫn mang vẻ bình yên với những người dân sống chậm rãi khoan hòa, những ngôi nhà cổ nằm ở con phố gần bến phà cửa khẩu ra sông Mekong.

Cuối tuần, không chỉ dân Lào, hàng ngàn người Thái từ bên kia sông Mekong qua biên giới đến ngôi tháp Inghang nổi tiếng linh thiêng cầu nguyện. Savannakhet còn có nhà đá Huan Hine, đền Phone, bảo tàng khủng long, thư viện cổ Hortai Pitok, chiếc cầu Hữu Nghị 2 nối Savannakhet của Lào và thành phố Mukdahan - cửa ngõ miền đông bắc Thái Lan hoàn thành năm năm trước với sứ mệnh khai thông tuyến hành lang kinh tế đông tây. Điểm cuối của con đường 9 nằm ngay giữa chiếc cầu này...

Với những thác nước, rừng nguyên sinh, buổi chiều ở Savannakhet không gì thú vị hơn xuống những nhà bè, thưởng thức món đặc sản cá nướng với bia Lào nổi tiếng và ngắm nhìn hoàng hôn trên dòng Mekong. Từ đây dòng nước sẽ băng qua cả ngàn cây số thác ghềnh đổ vào Việt Nam, ra biển Đông...

Gợi ý:

Muốn đi dọc đường 9, bạn có thể xuất phát từ Đông Hà lúc 6g sáng, khoảng 3g chiều sẽ có mặt ở Savannakhet. Công ty cổ phần lữ hành Sepon (Quảng Trị) cũng đang khai thác tour “Một ngày ăn cơm ba nước” với lịch trình tương tự, nhưng sau khi đến Savannakhet khách sẽ qua Thái Lan và ngủ đêm ở thành phố Mukdahan. Ăn sáng ở Việt Nam, ăn trưa ở Lào, buổi tối bạn đã có thể ngồi nhâm nhi cá nướng ở Mukdahan.

Du lịch, GO! - Theo Dulich Tuoitre, internet
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...