Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Một thế kỷ xe ngựa vùng Bảy Núi

Vùng Bảy Núi là nơi duy nhất trong tỉnh An Giang còn có xe ngựa, những người nuôi ngựa và những người hành nghề đánh xe ngựa. Xe ngựa vùng Bảy Núi do người Khmer chế ra rất đơn giản, mui trần, bánh cây, không tay vịn, người ngồi không quen cứ lắc qua lắc lại cơ hồ như muốn ngã. Mãi đến sau năm 1954 bánh xe bơm hơi nên chạy nhanh và êm hơn.

< Chở hàng bằng xe ngựa lộc cộc trên đường.

Từ xa xưa, đa số bà con vùng Bảy Núi, An Giang, sống bằng nghề nông - lâm kết hợp và thường xuyên chở nông sản thực phẩm, gia súc, cây củi ra chợ mua bán, trao đổi. Phương tiện phổ biến nhất là xe bò và xe ngựa.

Gần một thế kỷ trôi qua, bà con ở hai huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn vẫn gắn bó thân thiết với con bò và con ngựa, cũng giống như người đồng bằng sông nước gắn liền với con trâu và chiếc xuồng.

< Diễu hành xe ngựa - nét văn hóa xưa vẫn còn tồn tại ở vùng Bảy Núi, An Giang.

Vào những ngày lễ Tết và hội hè, nhất là lễ hội vía Bà tháng tư, du khách đổ về Bảy Núi sẽ không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy những chiếc xe ngựa chất lỉnh kỉnh nào trái cây, rau củ, gia súc và các sản vật núi rừng, chạy lộc cộc trên những con đường tráng nhựa.
Có lẽ ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chỉ ở vùng Bảy Núi và một số ít nơi còn sót lại những chiếc xe ngựa kiểu dáng thô sơ này.

< Chở cả một chiếc xe gắn máy.

Khác với xe ngựa Đà Lạt và Bình Dương - một loại xe có thùng cây, mui và chỗ dựa chắc chắn, xe ngựa vùng Bảy Núi do người Khơme chế ra rất đơn giản, mui trần, bánh cây, không tay vịn, người ngồi không quen cứ lắc qua lắc lại cơ hồ như muốn ngã. Mãi đến sau năm 1954 bánh xe bằng cây mới được thay thế bánh bơm nên chạy nhanh và êm hơn. Khi xe chạy, người cầm cương (xà ích) thường bóp còi bí bo lại còn gắn thêm chuông hoặc lục lạc lên cổ ngựa để phát ra tiếng leng keng thật lạ và êm tai.

Trước đây, tại các tỉnh miền Tây có loại xe ngựa kiểu dáng Pháp, chuyên dùng chở khách và hàng hóa, nhưng loại xe này đã vắng bóng từ sau năm 1967. Theo một số nguồn tư liệu thì xe ngựa đã xuất hiện ở Sài Gòn vào năm 1920, cho đến năm 1930 mới xuất hiện ở Nam kỳ lục tỉnh. Đó là loại xe kiểu Pháp, có mui, còn loại xe ngựa dáng thô sơ ở vùng Bảy Núi chưa ai biết đích xác ra đời vào năm nào, nhưng thịnh hành nhất là trước năm 1970 ( khoảng 100 chiếc) nay chỉ còn khoảng 40 chiếc, phần lớn do người dân tộc Khmer điều khiển.

Khi những chiếc xe máy ồ ạt xuất hiện ở Việt Nam, nhiều người đã cải tiến xe lôi đạp thành xe lôi máy. Trẻ con ngày xưa thường chạy theo những chiếc xe ngựa trang trí lộng lẫy nào pa nô, áp phích để xin tờ quảng cáo về truyện phim hoặc tuồng cải lương sắp trình chiếu.

Nay những hình bóng ấy đã đi vào quá khứ, nhưng mỗi lần về Tri Tôn nghe tiếng nhạc ngựa nhiều người lại cảm thấy nao nao như được sống lại một thời tuổi thơ êm ả.

Tại Tri Tôn và Tịnh Biên, loại hình xe ngựa vẫn tồn tại cho đến hôm nay do tính đặc trưng của một vùng rừng núi và nhu cầu sử dụng của người địa phương. Xe ngựa Bảy Núi chủ yếu để chở người và hàng hóa từ các phum sóc xuống phố huyện và chở hàng công nghệ phẩm từ thị trấn ngược lên miền núi.


< Những chú ngựa được tháo cương để ăn cỏ ven đường.

Vì phải lên xuống dốc, đôi khi còn phải băng qua những đoạn đường đất đá chông chênh nên kiểu dáng xe ngựa nơi đây rất thấp, nhỏ, gọn để tiện dụng bất cứ nơi nào. Mỗi chiếc xe ngựa có thể chở từ 300 đến 500 kg hàng hóa, đặc biệt là lúa gạo và trái cây, kèm thêm vài ba người.

Các lão làng ở xã Văn Giáo (Tịnh Biên) và xã Lương Phi (Tri Tôn) kể rằng trước đây phương tiện vận chuyển phổ biến ở vùng Bảy Núi chỉ có xe ngựa và xe bò, nhưng xe bò dùng chở các vật liệu nặng hơn như lúa, rơm, cây củi. Dọc theo những con đường dưới chân núi Dài, núi Cô Tô và núi Cấm ngày nay lúc nào cũng có những chiếc xe ngựa và xe bò chở đầy hàng hóa ì ạch bên cạnh những chiếc xe hơi đời mới bóng lộn.

Người đánh xe ngựa và xe bò bao giờ cũng chậm rãi, thong dong và nhàn hạ, không vội vàng, khẩn trương như các loại xe cơ động. Những người khách ngồi trên xe cũng không có gì hối hả, họ cứ râm ran hết chuyện này đến chuyện nọ.

Xe ngựa ở vùng Bảy Núi ngày nay không còn được ưa chuộng dù cách đây khoảng mười năm, xe ngựa ở Bảy Núi vẫn hãy còn rất thịnh hành. Từ khi xe gắn máy được bán với giá vài triệu đồng một chiếc thì cũng là lúc xe ngựa bắt đầu vắng khách. Một chuyến xe ngựa chở được 3 đến 4 người, đi đoạn đường khoảng 3 đến 4 km, người đánh xe ngựa thu mỗi người 2 ngàn đồng. Tính trung bình một km đi xe ngựa có giá 500 đồng: rẻ hơn nhiều so với giá đi xe gắn máy. Ấy vậy mà nghề đánh xe ngựa cũng phải nhường bước cho cho gắn máy.
Xe gắn máy dần dần thay thế vai trò xe ngựa, lý do vì sao thì có lẽ mọi người đều lý giải được…

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ VnExpress, Lehoikhmer, internet

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Rượu và cái Tết của người Mông ở Mù Cang Chải

Tôi đến Mù Cang Chải vào một ngày đầu tháng Chạp, khi mùa xuân vẫn đang ngủ kín dưới những lớp ruộng bậc thang xám ngắt một màu đất cũ. 

< Giữa trưa, nhưng ở trên Trống Páo Sang trời vẫn mịt mù sương khói. Cái vẻ yên bình vùng cao khiến cho bất kỳ "người thành thị" nào lên đây cũng không còn muốn về xuôi.

Vượt qua "đèo mây" Khau Phạ, Mù Cang Chải hiện ra duyên dáng như cô gái Mông ngày hội, e ấp làm duyên trong màn sương dày đặc của núi rừng Tây Bắc. Không có những con sóng lúa vàng ươm như kéo từ trên trời xuống vào ngày mùa tháng chín, tháng mười, Mù Cang Chải mùa này lại rộn ràng đón Tết người Mông.

< Đặc sản của Mù Cang Chải là sương mù. Cứ mỗi chiều hoặc vào sáng sớm, sương mù chạy lên chạy xuống khắp bản. Người và sương, sương và người hòa quyện với nhau trong một khung cảnh hoang sơ chẳng khác nào xứ tiên. Mà thực ra ở trên núi cao như thế này, người ta không biết nên gọi cái "mờ mờ trắng trắng" này là sương mù hay mây núi cho chính xác. Chỉ biết chắc rằng, đó là thứ gia vị không thể thiếu cho nỗi nhớ của bất kỳ ai đã từng lên đây.

Ngồi trên chiếc xem khách cũ kỹ chạy từ thị trấn đến ngã ba Kim, những giỏ hàng lỉnh kỉnh chất đầy xe từ chợ huyện về, những khuôn mặt cười nói tíu tít thứ ngôn ngữ mà tôi chỉ có thể cảm nhận được bằng âm điệu, báo hiệu mùa xuân của người Mông đã đến.

< Con đường đất đi lên bản, chỉ có thể dùng các loại xe "chuyên dụng vùng cao" như chiếc Win TQ của đồng bào này.

Cái Tết của người Mông diễn ra khi mùa xuân của miền xuôi còn chưa tới. Theo tục lệ, người Mông ăn Tết từ ngày mùng một đến ngày 15 tháng Chạp (âm lịch). Đến Tết, người Mông rất ít khi đi ra khỏi bản, trừ khi có việc thật gấp. Vậy nên trong những ngày này ở phố núi Mù Cang Chải, nơi có 90% dân số là người Mông, đường xá trở nên vắng vẻ hơn rất nhiều.

Những người bán hàng ở chợ bảo, những ngày sắp đến Tết thì người Mông ra đây mua bán, trao đổi nhiều lắm, chật ních là người, có khi còn chật hơn cả đường phố dưới Hà Nội.

Nhưng những ngày sau thì lại chẳng có ai, họa hoằn lắm mới có đôi người mang gà, rau cỏ, chim rừng đi bán để lấy tiền tiêu tiếp cho...15 ngày Tết.

Tết trên đỉnh núi

Muốn biết Tết của người Mông như thế nào thì đương nhiên phải vào bản của người Mông.
Nghe theo lời khuyên của một anh Xá, người Mông chính cống, hiện đang làm công an tại Than Uyên (Lai Châu), tôi đặt quyết tâm là phải vào xã La Pán Tẩn ở Mù Cang Chải cho bằng được, nơi anh giới thiệu là "còn giữ được bản sắc của dân tộc mình lắm."

Xã La Pán Tẩn nằm cách thị trấn Mù Cang Chải tầm 26km, muốn đến phải đi xe dọc quốc lộ 32 nằm cheo leo ngang sườn núi đến ngã ba Kim, rồi từ đó lại ngoặt vào thêm tầm 7km đường núi nữa thì mới vào được trung tâm xã.

< Hai đứa bé Mông cười khúc khích khi thấy người lạ đi vào bản. Dù đời sống còn khó khăn, hiếm khi nào thấy những gương mặt hồn nhiên như thế này không có nụ cười trên môi.

Dẫu đường đã được trải bê tông, nhưng vừa hẹp lại vừa dốc, ô tô loại vừa vừa là chịu chết, còn xe máy thì chỉ có thể dùng các em "chuyên dụng vùng cao" như Win, Minsk thì mới kéo qua được mấy con dốc thẳng đứng ở đây.

Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy trung tâm xã có độc mỗi cái nhà ủy ban, còn xung quanh chỉ lèo tèo mấy cửa hàng bán đồ tạp hóa, chứ không tập trung dân cư đông đúc như ở các "trung tâm"khác.
"Chỗ này thấp quá, người Mông không thích ở đâu," Anh Nguyễn Thanh Bình, công an xã La Pán Tẩn, cười. "muốn thăm người Mông "xịn" thì phải trèo lên núi kia."

Cái "bản núi" mà anh Bình đưa tôi lên thăm có cái tên rất lạ-Trống Páo Sang. Nó chỉ cách ủy ban xã tầm 2km, nhưng để đi bộ thì cũng phải mất gần một tiếng đồng hồ mới đến nơi, bởi đường dốc quá. Đã dốc lại còn cheo leo: một bên là vách đá, một bên là vực, chỉ toàn những khúc cua gập khuỷu tay mà không có rào chắn bảo vệ.

Con đường này làm tôi sực nhớ ra chuyện vui của một đồng bào vùng cao đi thi lấy bằng lái xe máy.
Đến phần thực hành đi vòng số tám, bác này tắt máy rồi nhảy xuống dắt bộ. Giám sát viên ngạc nhiên quá chạy lại hỏi tại sao, bác mới trả lời là "ở trên nhà tao đoạn nào khó tao toàn làm thế!". Đến đây mới thấy chuyện nói để cho vui thôi nhưng mà rất thật.

Bê tông hóa đến chỗ này thì dừng, chỉ còn lại đường đẩ gồ gề toàn bụi là bụi, cứ mỗi khi gió thổi hoặc xe máy của đồng bào đi qua thì y như rằng quần áo, mặt mày, tóc tai của người đi đường ai nấy đều vàng ệch như bị đổ phấn vôi từ trên đỉnh đầu xuống.

Anh Bình bảo chính quyền cũng thuyết phục người dân xuống vùng thấp hơn để sống cho dễ dàng, nhưng họ không chịu. Có đợt nhà nước cho mỗi gia đình chịu di dời một con trâu để họ xuống núi, nhưng do không biết chăm sóc nên trâu chết, cả nhà mổ thịt đi bán rồi lại...trèo về núi.

Chuyện xưa-nay bên bếp lửa

Ngôi nhà đầu tiên mà tôi vào thăm là nhà của ông Lý Chồng Di, phó chủ tịch xã La Pán Tẩn.
Đến đúng vào giờ ăn trưa, ông Di mời luôn tôi vào dùng bữa cơm Tết thân mật của người Mông. Gọi là giữa trưa, nhưng bên ngoài sương vẫn phủ mờ tịt lên khắp bản làng. Trời miền núi rét căm căm, không có gì hay bằng ngồi bên bếp lửa nghe các cụ cao niên rầm rì kể chuyện.

Tay rót rượu mời khách, ông Di tâm sự rằng cái Tết năm nay của người Mông khấm khá hơn một chút so với năm ngoái. "Ở đây chủ yếu là trồng thóc, trồng lúa, năm nào không mất mùa thì ăn Tết sẽ vui,". Năm nay Trống Páo Sang không phải là được mùa, nhưng cũng không mất mùa. Nhà nào có trồng thêm cây thảo quả nữa thì tiền bạc có dư dả hơn để sắm Tết.

Ông Di bảo, dẫu bây giờ cuộc sống hiện đại hơn nhiều rồi, người Mông ở đây vẫn không quên cái Tết của dân tộc mình. Tết không chỉ là dịp để những người tha hương trở về quê cũ đoàn tụ với gia đình, mà còn là lúc người Mông đuổi tà ma, xui xẻo, muộn phiền năm cũ đi, và hi vọng vào một năm mới đời sống sung túc hơn.

Với trai gái tuổi cập kê, Tết cũng là dịp để yêu đương, và rồi kết nên duyên vợ chồng. Khác với người dưới xuôi thường làm đám cưới vào cuối năm, người Mông chỉ lấy vợ lấy chồng vào dịp Tết.

Với người Mông, phụ nữ có quyền lựa chọn người chồng tương lai của mình. Con trai sẽ kéo nhau đến sân nhà con gái để tìm hiểu, cô thích chàng nào thì sẽ ném pao cho chàng đó. Thế nên mới có câu

" Em ném pao, anh không bắt
Anh không yêu, quả pao rơi rồi
Anh chọn người nào, anh bắt pao nào..."

Sauk hi bắt pao, người con trai sẽ kéo cô gái về nhà mình, tục của người Mông gọi là "cướp vợ." Tuy "cướp", nhưng cả "thủ phạm" lẫn "nạn nhân" đều bằng mặt bằng lòng với nhau. Sau đó hai gia đình sẽ làm thủ tục để hợp thức hóa đời sống vợ chồng cho đôi lứa.

Đất trời nghiêng ngả hơi men...

< Những đứa trẻ Mông vừa ngại vừa thích gặp những người lạ từ miền xuôi lên. Hỏi các em thích nhất là được quà gì, các em nói chỉ ước có thật nhiều quần áo ấm để mặc.

Không biết có phải vì sống ở trên miền giá rét quá hay không, mà người Mông rất thích uống rượu.
Mùa xuân của người Mông đến trên đôi má thiếu nữ hây hây ửng hồng hơi rượu, và trên dáng đi ngật ngưỡng của những chàng trai trẻ chơi xuân choáng hơi men. Đất trời dày đặc sương mù nhấp nhô trên thửa ruộng bậc thang, là đà bám trên những mái nhà gỗ, những cành mận rừng chớm nở đỏ thắm, như cũng say thứ rượu thóc trứ danh của người Mông ở La Pán Tẩn.

Anh Hừa, một người ở bản Trống Páo Sang, khẳng định như đinh đóng cột rằng một gia đình người Mông phải uống ít nhất...20 lít rượu trong dịp Tết.

Tính sơ sơ cho người lớn, mỗi ngày hết tầm hai lít. Mà rượu thóc La Pán Tẩn có phải là nhẹ nhàng gì cho cam, ngậm trong miệng thấy nóng ran như ngậm dầu sôi, rượu trôi đến đâu thì ngấm đến đấy. Mỗi khi bếp lịm dần, hất một bát rượu vào thì lửa lại bừng bừng bốc lên như làm phép.

Rượu thì nhà ai cũng nhiều, nhưng khách phải quý lắm thì người Mông mới mời uống. Mà đã uống thì phải uống bằng bát, uống cho bằng hết rượu trong nhà thì thôi. Chủ nhà "chào cỗ" với khách bằng hai bát rượu, khách cũng pphải đáp lễ bằng hai bát. Uống xong mặt cười phơ lớ, rồi bắt tay nhau, rồi lại uống tiếp. Uống cho say đến độ không biết gì nữa, rồi cả chủ lẫn khách ôm nhau nằm ngủ dưới sàn đất trải rơm. Khách quý của người Mông thì phải như thế.

Được cái rượu người Mông uống say không bao giờ bị đau đầu như thứ rượu Vodka hay cuốc lủi pha thuốc sâu ở dưới xuôi. Đêm uống say sáng ra người tỉnh táo như vừa trải qua một giấc ngủ đã đời. Rượu thóc La Pán Tẩn ngon nổi tiếng đến nỗi hàng năm Tết đến, nhiều người ở dưới Hà Nội kì công phóng cả ô tô lên mua vài chục lít về vừa uống vừa đi tặng. Giá một lít chỉ vào khoảng 30 nghìn đồng, không nhiều, nhưng cũng là một nguồn tăng thu nhập cho người La Pán Tẩn.

Ở đây còn có chuyện thanh niên uống rượu say quá, không đi nổi về nhà, khiến cả bản nhốn nháo đốt đuốc đi tìm cả đêm. Tìm mãi không thấy, tưởng đã rơi xuống vực rồi, thì sáng hôm sau lại thấy anh này lồm cồm bò dậy từ một bụi cây ven đường.


< Dân bản Trống Páo Sang tập trung ở nhà văn hóa để giao lưu và nhận quà Tết từ miền xuôi lên.

"Ngày xưa thì nhiều chuyện thế này lắm, nhưng bây giờ thì bớt đi rồi," Ông Lý Chồng Di cười cho biết.

Thời đại bây giờ giao thông thuận tiện, đi xuôi về ngược dễ dàng hơn trước rất nhiều. "Hà Nội thì tao chưa xuống, nhưng Nghĩa Lộ (Yên Bái) với thị xã (Yên Bái) thì đến rồi, tao không thích, đông quá, ồn ào quá, không bằng cái bản của mình," Anh Hừa làm một ngụm rượu rồi nói.

< Những cô thiếu nữ Mông đang tập ném pao cho nhau để chuẩn bị kén chồng. Khi thấy phóng viên chụp ảnh, một cô ném luôn quả pao cho tôi. Đáng tiếc là do không luyện tập, quả pao rơi mất, không thì có lẽ tôi đã làm...rể người Mông ở Trống Páo Sang.

Ông Di bảo, người Mông lo cho cái bản sắc của mình lắm, nên mấy cái tục từ ngày xửa ngày xưa như cướp vợ, chơi ném pao, ném còn, chơi tù lu (con quay ở dưới xuôi), và mời thầy mo,thầy cúng vẫn được người Mông cố gắng lưu truyền.
"Mấy cái đó bỏ đi thì mình mất gốc, còn gì là người Mông nữa," Ông Di cười.

Du lịch, GO! - Theo Tuanvietnam, internet

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Nhà sàn dáng rùa thiêng miền thung lũng

Ngôi nhà sàn Mường chứa đựng nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống, đồng thời cũng là nơi hội tụ và tỏa sáng tình người giữa rừng núi bao la cửa ngõ vùng Tây Bắc.

Sự tích về ngôi nhà sàn của người Mường

Đồng bào Mường cư trú ở các thung lũng vùng đồi núi thấp, ven sông suối nơi có dồi dào nguồn nước. Theo truyền thuyết cổ xưa từ thời khai thiên lập địa, đẻ đất, đẻ nước đồng bào cư trú trong các vòm hang mái đá lưỡng tiện cho tập quán săn bắt, hái lượm.

Khi biết trồng trọt và chăn nuôi, tiếp cận với nền sản xuất lúa nước thì hang đá không còn phù hợp với cuộc sống canh tác mới. Bà con khao khát, mày mò tìm cách tạo dựng ngôi nhà của riêng mình nhưng không tài nào làm được.

May nhờ cứu vớt con rùa thoát khỏi móng vuốt loài thú dữ ăn thịt, nên người Mường được rùa bày cho cách làm nhà mô phỏng theo dáng rùa. Nghe theo lời rùa, bà con làm bốn cái cột cái giống hệt bốn chân rùa, mái nhà giống hệt mai rùa, sàn nhà giống hệt bụng rùa, cầu thang chủ giống hệt đuôi rùa, cầu thang khách giống hệt đầu rùa.

Cách bố trí không gian sống

Người Mường từ đó có nhà sàn to đẹp tiện dụng vừa có mái che độ mát giống vòm hang vừa có sự hanh thông thoáng đãng của sàn nhà cao ráo. Cửa sổ, cầu thang tiện dụng dễ dàng giao hòa với thiên nhiên hào phóng lại ngăn được thú dữ, thú độc hại người. Gia súc, gia cầm nuôi trong nhà thêm điều kiện sinh sôi nảy nở đông đàn dài lũ. Trải qua đời này sang đời khác tín ngưỡng và những nét sinh hoạt văn hóa dân gian dần dần được hình thành ngày càng lộ rõ nét đẹp đặc sắc của ngôi nhà sàn Mường.

Ngôi nhà truyền thống của người Mường xưa được dựng với bốn cột trụ chính (cột cái) tùy theo sự mở rộng có thể có các hàng cột phụ (cột quân) chạy xung quanh. Hệ thống kèo xà với cột không hề có mộng mẹo để lắp ghép mà gác lên nhau rồi tra chốt đỡ để cố định. Công cụ làm nhà tuyệt đối không dùng cưa đục, không đóng đinh mà chỉ sử dụng rìu, dao và đóng chốt bằng tre, chốt gỗ.

Ngôi nhà Mường có 4 mái gồm mái trước, mái sau rộng và mái hẹp hai đầu chái nhà. Mái dựng khá dốc và thấp xuống lưng cửa sổ đủ để chắn gió che sương, chống mưa rừng hắt tạt xối xả vào sàn nhà. Người Mường cư trú từng bản, chòm bản nên từ xa ngắm các ngôi nhà sàn hệt như bầy rùa bám vào sườn đồi, lưng núi hay đang ẩn mình dưới thung lũng xa.

Trong ngôi nhà Mường truyền thống bao giờ cũng có bếp chủ bếp khách, cầu thang chủ cầu thang khách. Bếp khách ở vị trí trung tâm nơi giao tiếp, nấu nướng, phơi sấy chủ yếu. Bếp chủ lui khuất vào phía trong là chốn riêng tư và để sưởi ấm không gian ngủ nghỉ. Cầu thang bao giờ cũng làm với bậc lên xuống lẻ, năm, bảy, chín. Thông thường là chín bậc nên được ví von chín bậc tình yêu là thế.

Vật dụng trong nhà sàn không thể thiếu được là bàn thờ gia tiên và ngoài sân, trong vườn thêm cái miếu thờ thổ công rất nhỏ. Trong nhà thường có nhiều chăn, đệm, gối của hồi môn con dâu mang về nhà chồng cùng nhiều vật dụng như rượu cần, nỏ, súng kíp, chài lưới, khung dệt thổ cẩm và nhạc cụ dân tộc. Phổ biến nhất là cồng chiêng, sáo, nhị cò ke, sừng trâu, sừng hươu, nai, hoẵng, răng nanh hổ, báo, gấu, lợn lòi làm vật trang trí mĩ thuật và coi đó là vật thiêng.

Dưới gầm sàn không thể thiếu các ống bương đựng nước, máng vò lúa, cối giã gạo, những đôi cà kheo thay cho gốc dép để đi lại trong sân, ngoài ngõ. Đôi khi máng vò lúc cùng với chày giã gạo được tấu lên thành bản nhạc gõ nhịp tiết tấu của rừng. Sát bên cầu thang khách có vại nước, gáo múc bằng ống tre để khách rửa tay chân trước khi lên nhà sàn. Cách nhà không xa nơi có nguồn nước chảy qua bao giờ cũng có cối gạo nước và guồng nước chuyển động luân hồi theo nhịp sống của bản Mường. Cũng vì thế nên người Mường luôn tự hào về văn hóa cư trú nhà sàn của mình qua câu tục ngữ "Cơm đồ nhà gác, nước vác lợn thui, ngày lui tháng tới".

Văn hóa tín ngưỡng

Người Mường có phong tục hiếu khách đặc biệt "Trâu ra đồng ăn cỏ, người lên nhà ăn cơm". Gia đình, vợ chồng không cãi chửi nhau, cha mẹ không bao giờ đánh mắng con cái. Chính vì thế mà ngôi nhà Mường luôn luôn là tổ ấm bình yên, nơi giao đãi tiếp khách nồng hậu, có thể trở thành điểm sinh hoạt cộng đồng hấp dẫn, quyến rũ mỗi khi có việc nhà, việc bản. Lúc đó tiếng cồng chiêng lại ngân nga trầm bổng, làn điệu dân ca Mường hát lời thương lại tha thiết lắng sâu và rượu cần lại có dịp tỏa hương vấn vít.

Mỗi độ đón mùa xuân về đan xen với mái nhà sàn Mường là những vườn hoa mơ nở rộ trắng muốt tinh khiết, phảng phất hương thơm của núi rừng. Dịp đó, nhà nào cũng dựng cây nêu trước nhà theo tín ngưỡng dân tộc để cho ông bà tổ tiên biết lối về. Cây nêu được chọn là cây tre đẹp mã, dáng thẳng cao vút đến ngọn để chừa lại tán lá. Sau lễ khai hạ, Rằm tháng giêng mới hạ cây nêu.

Vào đêm 30 Tết, trước thời khắc giao thừa, các cô gái Mường trẻ trung xinh đẹp thường vác ống bương lên tận mó nước ngọn suối đầu nguồn lấy nước về. Đón giao thừa, mọi ống bương đựng nước trong nhà sàn đều đầy ăm ắp. Nước đó được rót ra bát cúng tổ tiên cùng với mâm ngũ quả và bánh chưng dạng ống, giống như bánh tét ở các tỉnh miền Nam.

Cho đến bây giờ đồng bào Mường vẫn coi rùa là con vật thiêng trong tín ngưỡng dân gian bản địa của mình. Đồng bào không ăn thịt rùa và luôn tự hào về ngôi nhà sàn là công trình phỏng sinh học tuyệt vời của dân tộc mình.

Du lịch, GO! - Theo Làng Việt, internet

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Mùa xuân trên bản người đẹp

Trong một lần trảy hội xuân Yên Tử, chúng tôi được nghe một câu chuyện thú vị về ngôi làng người Dao Thanh Y dưới chân núi thiêng Yên Tử.
Ngôi làng còn lưu giữ nhiều nét đẹp về phong tục tập quán. Đặc biệt nơi đây là xứ sở của các cô gái mang vẻ đẹp trong sáng, nhẹ nhàng... như sương núi, hoa rừng. Tương truyền đó là hậu duệ của các cung nữ xưa kia theo Phật hoàng về Yên Tử. Tò mò vì sự tích này, chúng tôi lặn lội vào trong núi rừng Yên Tử đi tìm dấu tích của xứ sở này.

Chuyến đầu trên đường vào bản chúng tôi bất ngờ gặp mưa lớn ở xã Thượng Yên Công (TP Uông Bí). Anh Lý Đức Hải, Phó Chủ tịch UBND xã nhất quyết ngăn: Vào làng phải qua nhiều suối, ngầm, mưa to lũ đổ về rất nguy hiểm.

Tìm về câu chuyện và dấu vết bản người đẹp

Trên hành trình trở lại lần này, chúng tôi đi cùng “chuyên gia” Ngô Ngọc Ảnh, nguyên Trưởng phòng VHTT Uông Bí, hiện là cán bộ Ban quản lý di tích danh thắng Yên Tử, người đã nhiều năm nghiên cứu về các dân tộc người Dao vùng này. Ông kể: Tương truyền rằng Thượng hoàng Trần Nhân Tông cách đây trên 700 năm quyết định bỏ lại triều chính vào Yên Tử tu luyện.

< Ngôi đền “Năm Mẫu” dưới chân núi Yên Tử, tương truyền thờ năm mẫu (mẹ) có công với làng.

Không muốn vua cha vào Yên Tử, vua Anh Tông ngầm sai 300 cung tần mỹ nữ đến đây can ngăn, xin vua quay về. Tìm mọi cách không thể mời được vua về kinh, 300 cung tần mỹ nữ đã gieo mình xuống con suối của đại ngàn Yên Tử để tỏ lòng trung trinh. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đau xót cho lập đền cúng tế và đặt tên con suối này là suối Giải Oan. Hiện nay, suối Giải Oan nằm vắt ngang xã Thượng Yên Công, bốn mùa có làn nước trong vắt.

Lại nói tiếp chuyện trong số 300 cung tần, mỹ nữ trầm mình ở non thiêng Yên Tử thì có năm người được làng người dân tộc thiểu số Dao Thanh Y dưới chân núi Yên Tử cứu sống. Để cảm nghĩa cứu mạng, năm cung tần mỹ nữ này đã tình nguyện lấy năm chàng trai bản địa và những hậu duệ nơi này được thừa hưởng nhan sắc cũng như phong cách lịch lãm của các cung phi. Khi các bà qua đời, dân làng Thượng Yên Công đã lập đền thờ Năm Mẫu để tưởng nhớ những nàng dâu vốn là cung tần mỹ nữ sắc nước hương trời.

Sau quãng đường khoảng 10km với nhiều suối, ngầm, chúng tôi đặt chân tới vùng đất trong câu chuyện, bản Khe Sú. Từ xa, bản Khe Sú dần hiện ra trong sương mờ, từng khoảng ruộng yên bình nằm lẫn trong màu xanh núi rừng. Bản kéo dài từ con suối Giải Oan chảy qua làng tới chân đại ngàn Yên Tử. Bản có khoảng 1.000 khẩu, 100% là người Dao Thanh Y.

Cụ Bàn Cương, trưởng bản, năm nay gần 90 tuổi kể: Bản có trên 300 hộ, chủ yếu là các dòng họ như: Lý, Trương, Bàn… Không rõ thực hư câu chuyện ra sao nhưng đã bao đời nay phụ nữ vùng này rất xinh đẹp, duyên dáng. Có lẽ do nơi đây nguồn nước, khí hậu trong lành, mát mẻ hội tụ ở vùng non thiêng nên con người sống vui vẻ khoẻ mạnh… Lại được thừa hưởng nét đẹp của tổ tiên, các cô gái người Dao ở đây sinh ra đều có nước da trắng sáng, vẻ mặt rạng rỡ. Thiếu nữ Dao nơi đây có dáng người cao, mảnh mai, thanh thoát, giọng nói dịu dàng thánh thót như chim rừng…

Trưởng bản chỉ về phía con suối chảy vắt qua làng, tiếp: Tích đó chúng tôi được các cụ truyền lại qua nhiều thế hệ. Xưa kia con suối Hổ Khê (sau là Giải Oan) vốn dài, rộng có thể dong thuyền rồng vào tận Yên Tử. Một ngày nọ, trai làng đã cứu 5 thiếu nữ, vốn là các cung nữ quyên sinh trên dòng Hổ Khê. Họ đã một lòng ở lại, kết duyên sinh con đẻ cháu, nuôi dạy con cháu nên người… Sau khi mất, dân làng lập đền thờ Năm Mẫu, đến nay vẫn còn miếu thờ ở xã Thượng Yên Công. Tên vùng đất Nam Mẫu nay cũng được cho là đọc chệch từ Năm Mẫu mà thành.

Đang trò chuyện ngoài sân, chúng tôi thoáng thấy một tốp thiếu nữ người Dao đi làm về, vừa đi, họ vừa vui vẻ trò chuyện bằng tiếng Dao. Các cô gái người Dao đều mang trang phục đỏ truyền thống, đầu đội mũ thêu đính bạc, cổ đeo xà tích, chuông bạc duyên dáng. Họ ghé thăm nhà trưởng bản. Cô gái đi đầu tên là Triệu Thị Thắm có khuôn mặt trái xoan, dáng người cao, khoẻ mạnh, giọng nhẹ nhàng, cười tươi chào chúng tôi bằng giọng lơ lớ tiếng Kinh.

Chị Lý Thị Hà dù đã gần 40 tuổi, ngày ngày vẫn vất vả với công việc đồng áng nhưng vẫn có nét đẹp, sự duyên dáng và nước da trắng, đặc trưng của các cô gái Dao vùng này. Chị nhiệt tình mời đoàn chúng tôi về thăm tổ ấm gia đình, thưởng thức chè, xem các thiếu nữ dệt lụa, may trang phục dân tộc… Trông họ ai cũng duyên dáng trong trang phục truyền thống.

Các cô gái Dao tuy không được học cao nhưng đều có cách cư xử nhẹ nhàng, lịch thiệp, khéo léo. Các cụ bà trong bản kể: Theo phong tục tập quán của người Dao vùng này, từ xa xưa cách giáo dục con cháu, đặc biệt là các cô gái Dao rất cẩn thận, thậm chí có phần nghiêm khắc. Người Dao dùng roi dâu để dạy con. Bởi theo họ quan niệm con hư là do bị ma quỷ ám chứ sinh ra vốn đã ngoan rồi. Khi lớn, các thiếu nữ được dạy bảo kỹ về cách ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng từ tốn, nhẹ nhàng…

Anh Lý Đức Hải cho biết: Không phải ngẫu nhiên mà đông đảo thanh niên thành phố, tỉnh ngoài, thậm chí đàn ông nước ngoài đua nhau tìm về làng hỏi vợ.

Nhiều cô gái trong bản cũng đã được đưa đi thi người đẹp và đoạt các giải cao, tiêu biểu như người đẹp Trương Thị Hậu, đoạt giải ba trong cuộc thi người đẹp các dân tộc vùng Đông Bắc…

Ngày mới trên bản người Dao

Em Triệu Thị Thắm tâm sự: Em không có điều kiện học tập nhiều. Học xong lớp 12, em trúng tuyển và được một đơn vị nhận đưa đi tu nghiệp và làm việc tại Nhật. Em mong muốn có điều kiện làm việc để gánh vác cùng bố mẹ cho các em đi học. Em cũng mong muốn được học thêm về văn hoá, du lịch để khi về quê nhà có thể giúp đỡ cha mẹ, bà con quê hương bớt nghèo, bớt khổ.

Cụ Bàn Cương cho biết: Dù đã bị mai một theo thời gian nhưng những nét đẹp, phong tục tập quán như: Lễ cấp sắc, phong tục lễ tết vẫn được người Dao lưu giữ cẩn thận. Tục ma chay, cưới hỏi thì được giản tiện cho phù hợp… Các cô gái Dao vẫn giữ được “nếp nhà”, những phẩm chất vốn có của người con gái Dao.

Anh Lý Đức Hải, Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Yên Công cho biết: Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống, văn hoá đồng bào dân tộc Dao đã đổi thay nhiều. Bản đã có đường đi lại dễ dàng, có nhà văn hoá, có trường học cho con em.

Nhiều mô hình kinh tế, cây, con giống năng suất cao đã góp phần cải thiện cơ bản đời sống của bà con. Hiện chúng tôi nỗ lực cùng bà con nghiên cứu để lưu giữ, phát huy những nét đẹp truyền thống của người Dao.

Trên vùng đất yên bình dưới chân núi thiêng Yên Tử, một mùa xuân nữa lại đến với bản Khe Sú. Cụ Bàn Cương vui mừng chứng kiến một lớp trẻ của bản người Dao dần lớn khôn, đang nỗ lực xây dựng quê hương, phát huy những nét đẹp bản sắc truyền thống của dân tộc.

Du lịch, GO! - Theo Hà Phong (Quảng Ninh Online), internet

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Đội mưa đi chợ Viềng đầu năm

Không ngại gió rét, đêm qua hàng vạn người đội mưa nườm nướp kéo về chợ Viềng (Nam Định) mua hàng cầu may.

< Bắt chấp gió lạnh, hàng vạn người vẫn đội mưa đi chợ Viềng trong đêm.

Du khách đến đây đơn giản chỉ để mua cái cuốc, con dao hay cân thịt bò… để hi vọng trong năm gặp nhiều điều may mắn.
Khoảng 19h chiều qua, đường Trần Huy Liệu - tuyến đường chính dẫn vào chợ Viềng (Vụ Bản) đông nghẹt người đổ về. Mặc dù chợ Viềng buôn bán chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp như cày, cuốc, giống cây… nhưng từng tốp ô tô con đeo biển kiểm soát Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình… xếp thành hàng dài nối đuôi nhau tiến vào chợ.

< Hoa và cây cảnh luôn thu hút rất đông người đến "hỏi thăm".

“Đi chợ Viềng như một thú vui, không kể người làm nông nghiệp, công nhân, viên chức từ khắp nơi trong cả nước đều đổ về đây mua hàng – mua điều may mắn đầu năm.

< Nhiều bạn trẻ cũng mò mẫm đi chợ Viềng "rinh" về nhà cây cảnh.

< Cây sung, sanh, tùng và lộc vừng được bày bán rất nhiều tại chợ.

Người làm nông nghiệp chọn cái cày, cái cuốc, hạt giống; còn người thành phố thì mua hoa, cây cảnh.

< Đêm khuya hoa vẫn rực rỡ khoe sắc tại chợ Viềng.

< Du khách tò mò trước cây mít lạ (gốc bé bằng cổ tay đã ra 2 quả).

< Trước khi rước cây may mắn về nhà trồng nhiều người kiểm tra chất lượng từ gốc đến ngọn rất kỹ.

Tựu chung lại là cả người mua lẫn người bán đều cầu may nắm cho cả năm”, ông Nguyễn Văn Vinh người thành phố Nam Định cho biết.

< Nhiều khu vực không có điện, chủ gian hàng bật đèn pin tù mù giới thiệu cây cho khách.

Gió rét quyện với mưa phùn càng làm cho chuyến đi chợ Viềng của du khách thêm nhiều ý nghĩa khi chọn được món hàng ưng ý.

< Đi chợ Viềng, nhiều người tranh thủ mua nông cụ.

< Chợ Viềng không thiếu nông cụ phục vụ người làm nông nghiệp.

< Tiền "may mắn" được rao bán khắp chợ.

< Một vài món "cổ vật" được bày bán, người khác tò mò tìm hiểu giá trị sử dụng của cổ vật.

Trong ánh sáng tù mù, không khí trong chợ không kém phần tấp nập từ cảnh mua bán đến những trò chơi trong đêm.

< Nhiều người đến chợ mua về nhà miếng thịt bò tươi cũng để hi vọng có được điều may mắn trong năm mới.

< "Chiến lợi phẩm" thu được sau khi đội mưa, gió ở chợ Viềng.

< Nhiều trò chơi mang tính chất ăn thua vẫn tồn tại ở chợ Viềng.

Điều đặc biệt là trong chợ Viềng người mua, kẻ bán đều rất thoáng vì lý do bán được cũng may và mua được cũng may.

Gần 24h đêm, lượng người đổ về chợ Viềng càng đông khiến cho tuyến đường Trần Huy Liệu chật cứng cả hai chiều ra và vào chợ. Nhiều người phải chôn chân dưới trời mưa hàng giờ mới vào được chợ.

Du lịch, GO! - Theo Quang Phong, Dantri
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...