Hiển thị các bài đăng có nhãn sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Nắng Mưa Cuộc Tình.

Trong một bài ngắn trên báo “Tuổi trẻ cười”, Người ta đã chia tình yêu thành hai giai đoạn: trước và sau khi kết hôn, để rồi từ đó, tác giả đã đưa ra một vài hình ảnh so sánh về chị đàn bà cũng như về anh đàn ông. Mình xin ghi lại như sau: Đối với đàn bà:
Trước thì dịu dàng đáng yêu và hiền như một con mèo nhỏ; còn sau thì vẫn là con mèo nhỏ đó nhưng có thêm tiếng gầm và bản năng của sư tử.

Trước là nàng thiên nga xinh đẹp; còn sau là cô vịt bầu xấu xí.
Trước thì thẹn thùng ít nói; còn sau thì hay cằn nhằn và lảm nhảm nói ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Trước thì ăn uống nhỏ nhẹ luôn để lại một nửa, phần vì mắc cỡ, phần vì giữ eo; còn sau thì thanh lý sạch sành sanh, vì bỏ thì tiếc.
Đối với đàn ông:

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

BAO ĐÁ CUỘI

Nếu một lần có ai đó làm tổn thương chúng ta , chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ hận thù, tẩy chay, loại trừ họ một cách vĩnh viễn? Chúng ta sẽ cô lập họ trong cô độc suốt đời? Có lẽ đây không phải là giải pháp hay.
Loại trừ một người thì dễ nhưng tha thứ một người mới khó. Kinh nghiệm cho thấy, sức mạnh của con người nằm ở sự tha thứ, giúp nhau sửa đổi, chứ không phải là trả thù, trả đũa nhau. Hơn nữa, khi chúng ta sống và làm việc cùng với nhau, chắc chắn sẽ có những lúc làm buồn lòng nhau, và đôi khi những người thân thiết nhất lại dễ làm tổn thương đến nhau. Có khi chính chúng ta cũng làm tổn thương họ vì biết bao lời nói, việc làm của mình. Mặc dù chúng ta dễ làm tổn thương đến nhau nhưng chúng ta vẫn phải sống bên nhau, có khi phải sống suốt đời như những đôi vợ chồng với nhau. . . Thế nên, để sống bên nhau điều kiên quyết chính là phải sống tha thứ và hòa giải với nhau.
Chúng ta cũng từng nghĩ rằng mình không thể tha thứ cho kẻ đã làm hại mình. Mình sẽ ôm hận và tìm cơ hội trả thù. Tôi đề nghị mỗi người mang theo một túi vải sạch . Sau đó, cứ khi nào mà mình không tha thứ lỗi lầm cho người khác thì hãy chọn ra một viên đá viết tên người đó và ngày tháng lên rồi bỏ nó vào túi vải. Sau vài ngày, có nhiều túi trở nên vô cùng nặng.
Sau đó lúc nào cũng phải mang cái túi vải ấy theo bên mình dù đi bất cứ đâu, tối ngủ phải để túi bên cạnh, làm việc thì đặt trên bàn. Sự phiền phức khi phải mang vác cái túi khiến chúng ta cảm nhận rõ ràng gánh nặng tinh thần mà mình đang chịu đựng. Không những thế, lại còn phải luôn để tâm đến nó, nhớ đến nó và nhiều khi đặt nó ở những chỗ chẳng tế nhị chút nào.
Lúc này, chúng ta mới thấy rằng: Sự bực tức giận dữ một ai đó chỉ là gánh nặng thêm cho bản thân mình, nó làm cho chúng ta mất thời gian suy nghĩ, để tâm, nhiều khi lại làm cho người khác bực dọc nữa…
Ai cũng biết rằng sự tha thứ chính là một cách để xoa dịu tâm hồn, là tự tìm cho chính mình sự thanh thản và giải thoát về mặt tinh thần, qua đó giúp cho cuộc sống mình trở nên bình yên hơn.
Tha thứ chính là phương thức mang đến cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc. Thế nhưng, nói thì dễ nhưng làm thì thật không dễ. Vì tự ái, vì thiếu lòng quảng đại nên chúng ta đã từng nuôi dưỡng hận thù và tự đầy đọa mình trong bất an, tức giận.

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

Dân Chi Phụ mẫu

Có một trại cô nhi khổng lồ với khoãng trên dưới 80.000.000 (tám mươi triệu)con người  m côi đang chen chúc tồn tại, các bạn có tin không??? Trước hết chúng ta cần xác định ý của từ “mồ côi” ở đây là những con người không được ai bênh vực giúp đở mổi khi bị áp bức trù dập, không được yêu thương đùm bọc, an ủi nâng đở.
Dân số VN hiện tại trên 90.000.000 trừ đi khoãng gần 4.000.000 đảng viên cộng với người thân của họ thì số còn lại là con mồ côi đấy các bạn.

Tủi Thân:
Báo chí liên tục đưa tin về vụ mất tích bí ẩn (không loại trừ đây là một cú lừa thế kỷ)của chiếc máy bay Boeing 777-200 số hiệu MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines, cất cánh rời Kuala Lumpur vào lúc 0h41 ngày 8.3 (giờ địa phương) và dự kiến tới Bắc Kinh khoảng 6h30 cùng ngày. Một cuộc tìm kiếm quy mô với đủ loại máy bay, tàu cứu hộ của 10 quốc gia khác nhau được triển khai, nhưng cho đến hôm nay vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cũng như bất cứ dấu hiệu nào của chiếc máy bay mất tích.
Trong vụ này, nhà nước đã tỏ ra rất tích cực. VN huy động 10 máy bay các loại, 8 tàu hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư, chưa kể trực thăng, thủy phi cơ…, với sự tham gia của các bộ phận khác nhau từ lực lượng hải quân, Quân chủng Phòng không-Không quân, Cục Hàng không VN, Văn phòng Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, lực lượng QĐND Việt Nam…, sự có mặt của hàng chục ông tướng tá, thứ trưởng, chuẩn đô đốc, chính ủy…, lập Sở chỉ huy trực tiếp chỉ đạo cuộc tìm kiếm ngay tại Phú Quốc v.v…
Vẫn biết VN phải có trách nhiệm chia sẻ việc tìm kiếm với các nước láng giềng, nhất là khi chiếc máy bay được cho là đã mất tích trong không phận, hải phận VN. Vẫn biết trước những sự việc như thế này, mỗi hành động tích cực hay không của VN đều có nước khác nhìn vào. Nhưng là người VN, chứng kiến sự nhiệt tình, không tiếc công tiếc sức, huy động lực lượng tối đa của nhà nước trong chuyện này, rồi tức tưởi nhìn lại mới đây, ngày 8.3, một tàu cá của ngư dân VN lại bị “tàu lạ” (hai chữ “tàu lạ” hèn hạ quen dùng) tấn công, khống chế, cướp tài sản vì không được bất cứ lực lượng nào bảo vệ khi ra khơi mà chạnh lòng.

Và đây không phải lần đầu tiên. Từ nhiều năm qua, khi sự tranh chấp quyền lợi biển, đảo giữa các nước láng giềng, đáng nói nhất là VN, trở nên căng thẳng, khi “tàu lạ” ngày càng hung hăng trên biển Đông, thì việc ngư dân VN bị “tàu lạ” rượt đuổi, bắn hỏng tàu, cướp ngư cụ, hải sản, bị đánh đập, bị bắt cóc đòi tiền chuộc…cũng thường xuyên diễn ra.

Trong tất cả những lần như vậy, có khi nào ngư dân VN được các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, tàu chiến VN hỗ trợ, hoặc cứu hộ? Hay như bài báo trên Thanh Niên ra ngày 28/05/2013 “Ngư dân phải tự thuê tàu đi cứu nạn?”. Hay khi chuyện xảy ra, ngư dân một mặt phải gánh chịu tổn thất nặng nề, nợ nần chồng chất, mặt khác, cứ việc báo cáo, cầu cứu lên các cấp chính quyền, nhưng mọi chuyện vẫn cứ để đó, rồi lần sau ngư dân lại tiếp tục ra khơi trong tâm trạng bất an, sợ hãi?

Những câu chuyện về ngư dân VN chỉ là một trong vô số ví dụ cho thấy nhà nước không thực sự  quý trọng con người, quý trọng sinh mạng nhân dân. Hàng ngày hàng giờ, trên khắp mọi lĩnh vực, mọi miền đất nước, chúng ta đều có thể nghe, xem, đọc, hoặc tận mắt chứng kiến, hoặc từ trải nghiệm của chính bản thân, về tình trạng tính mạng người VN đang bị rẻ rúng như thế nào.
Dân vi Quí !!!!
Ngay trong một lĩnh vực lẽ ra phải hết sức quý trọng sinh mạng con người như y tế, thời gian qua chúng ta đã có quá nhiều thông tin không lấy gì làm vui về cách ứng xử của đội ngũ thầy thuốc, cán bộ công nhân viên ngành y đối với người bệnh, những vụ chết người do sai sót trong nghiệp vụ chuyên môn hoặc do thờ ơ, tắc trách, nạn “phong bì”, tình trạng quá tải tại các bệnh viện lớn, bệnh viện trung ương trong khi các bệnh viện nhỏ, trạm xá địa phương thì điều kiện chữa chạy quá thiếu thốn, yếu kém…
Ngành y đã mang một diện mạo “xấu xí” với hàng loạt sự cố nghiêm trọng: hàng chục trẻ chết oan sau khi tiêm vaccine Quinvaxem 5 trong 1, nhưng Bộ Y tế vẫn cho là không phải tại vaccine và sau một thời gian tạm ngưng, lại quyết định cho tiêm và lại có thêm những em bé vô tội tử vong; vụ “nhân bản” phiếu xét nghiệm” tại BV Đa khoa Hoài Đức, Hà Nội; vụ tráo thủy tinh thể tại BV Mắt, Hà Nội cho tới vụ bác sĩ làm chết người xong ném xác xuống sông Hồng để thủ tiêu…
Tất cả những sự cố này một phần do đạo đức ngành y bị xuống cấp nghiêm trọng, một số thầy thuốc, cán bộ nhân viên y tế thời nay làm việc chỉ biết có tiền, nhưng trên hết, là từ một nếp nghĩ, thái độ hết sức coi thường sinh mạng con người.
Nhưng không có lĩnh vực nào mà danh dự, mạng sống con người lại bị coi rẻ như ngành công an và tòa án ở VN. Công an VN chưa bao giờ được xem là bạn dân mà ngược lại, ngày càng trở thành “hung thần” của dân. Công an giao thông là một trong mấy ngành tham nhũng, hối lộ hàng đầu ở VN. Ngày càng nhiều những thông tin người dân sau khi được “mời”về đồn công an làm việc để điều tra, xét hỏi một vụ việc nào đó, đã bị công an đánh đập thậm chí đến chết, sau đó đổ cho là tự tử chẳng hạn.
Đây chỉ là một số vụ việc xảy ra trong vòng vài tháng qua: “Bốn công an dùng nhục hình, xát ớt bột vào hạ bộ một thanh niên” (Pháp luật VN số ra ngày 04/03/2014), Vụ “Ói ra máu sau khi bị công an làm việc”: Công an nói nạn nhân tự té” (Pháp luật TP.HCM ngày 07/03/2014), “Trưởng công an xã gọi ra ủy ban rồi đóng cửa đánh dân tụ máu não” (Soha ngày 10/03/2014), “Một nghi can hiếp dâm bị chết tức tưởi trong trại tạm giam” (Giáo dục VN ngày 25/12/2013), “Học sinh chết bất thường ở đồn công an, dân vây quốc lộ phản ứng” (Một thế giới 01/01/2014), “Thêm một người chết sau khi làm việc với công an” (Tuổi Trẻ ngày 20/02/2014) tại trụ sở Công an xã Đạo Nghĩa, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. Đây cũng là nạn nhân thứ tư chết trong tay công an từ đầu năm 2014 đến nay…
Và sau tất cả những vụ việc như vậy, chỉ có vài trường hợp là được đem ra xử với bản án giơ cao đánh khẽ (như vụ nguyên trung tá Nguyễn Văn Ninh, công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Cố Ý đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng vào tháng 2.2011, chỉ bị 4 năm tù).
Khi câu chuyện về vụ án oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang “nổ” ra trên báo chí như một trái bom, dư luận bàng hoàng trước cung cách điều tra cẩu thả, dùng nhục hình bức cung, phá án nhanh cốt lấy thành tích, sự vô cảm đến tàn nhẫn trước số phận một con người của cơ quan điều tra cho tới tòa án các cấp ở Bắc Giang. Nhưng câu chuyện của ông Chấn không phải là ngoại lệ.
Báo chí tiếp tục khui ra bao nhiêu vụ việc khác, từ trước đó “Những vụ án oan rúng động VN” (VNExpress) cho đến hiện tại: “Vụ Hàn Đức Long: 8 năm nghiệt ngã người vợ kêu oan cho chồng bị án tử” (Đời sống và Pháp luật), “Thả 7 thanh niên giam cầm nhờ có người khác tự thú” (Một thế giới), “Kỳ án Vườn Mít: cha Lê Bá Mai ra Hà Nội kêu oan cho con” (Tiền Phong), “Sóc Trăng: thêm một vụ tố điều tra bức cung, có dấu hiệu oan sai” (vụ án giết người liên quan đến một thanh niên bị bệnh tâm thần bị giam suốt 18 tháng nay, báo Một thế giới) v.v…
Điều đáng sợ là khi những người trong cuộc gặp phải những oan sai tày trời, bản thân họ và gia đình cất tiếng kêu oan thống thiết, gửi hàng trăm, ngàn bức thư đi khắp nơi, gõ cửa bao nhiêu cơ quan công quyền từ dưới lên trên, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng lạnh lùng, tàn nhẫn. May mắn đến với họ nhưng không phải từ sự hồi tâm nghĩ lại, điều tra lại của các cơ quan có thẩm quyền, mà từ sự ra đầu thú của thủ phạm, như vụ ông Chấn hoặc 7 thanh niên bị giam ở Sóc Trăng chằng hạn.
Với “thành tích” coi thường sinh mạng người dân như vậy, chẳng trách gì những ngày qua, khi nhà nước VN tỏ ra tích cực, thậm chí “ồn ào” trong việc tìm kiếm chiếc máy bay Malaysia mất tích, nhiều người dân, thông qua các trang blog, trang mạng xã hội, đã lên tiếng chỉ trích. Trong mắt họ, hành động của nhà nước có cái gì đó như phô trương, muốn chứng tỏ với các nước, thậm chí, muốn “làm le” với Trung Quốc, quốc gia có nhiều người nhất đi trên chuyến bay định mệnh. Và đáng nói nhất, cuộc trình diễn này lại tốn quá nhiều tiền !

Phải chăng dân VN chỉ là những đứa trẻ mồ côi, không ai bênh vực và luôn bị đè ép.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Câu Chuyện Hạt Muối. (sưu tầm)

Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị, em sắp được hòa trong đại dương”. Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình như thế. Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!“.
Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan. Muối To lên bờ, sống trong vuông muối. Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh. Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi đóng vào bao sạch đẹp…
 Lần đầu tiên nó thấy bị xúc phạm! Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối cùng người ta cho nó vào nồi cám heo. Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn này ư? Nó tủi nhục ê chề! Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo hạ tiện.
 Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được, dù là cái vảy da của nó. Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy, ném nó ra đường. Người người qua lại đạp lên nó!
 Hạt muối là để hòa tan. Hạt Muối phải chịu tan biến chính mình mới thể hiện giá trị đích thực của hạt muối. Muối đã lạt và không còn khả năng hòa tan thì cũng bị quên lãng hay vứt bỏ ta đường cho người qua lại dẫm đạp mà thôi! Con người không được sống cho chính mình.
Con người phải biết dấn thân, hòa nhập với xã hội mới thể hiện vai trò giá trị của mình trong cộng đồng. Nhân loại cũng bỏ rơi những con người lười biếng, vô dụng, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội. Muối đã lạt thì vứt đi. Con người lạt tình người, lạt trách nhiệm sẽ trở nên vô dụng và bị lãng quên.

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Bán Vé Số.


Bán vé số
Mỗi cuộc đời một số phận khác nhau, bởi vì không có trình độ học vấn, không có vốn liếng, không nghề nghiệp, không có nhiều sức khoẻ nên quá ít cơ hội để thăng tiến, nhưng lại nhất quyết không ngửa tay xin bố thí của thiên hạ.

Ở độ tuổi nầy đáng ra các em đang ngồi trên ghế nhà trường chứ không là:
Một chồng vé số trên tay
Lang thang đi khắp nơi này nơi kia
Mời ai mua vé như nài
Mở lòng giúp đỡ mua vài tấm đây
Nhọc nhằn trên quãng đường dài
Qua bao góc phố tìm ai mua dùm
Bước chân thoăn thoắt theo cùng
Mồ hôi nhuễ nhoại, thấm vùng lưng sau
Nơi đâu em cũng mời chào
Mời ai mua vé, lời nào nuôi thân
Cuộc đời quá đổi nhọc nhằn
Bỏ quên hạnh phúc, phước phần tuổi thơ
Nỗi lòng lo lắng từng giờ
Bố thì ốm nặng, mẹ giờ chợ khuya
Phận nghèo bữa cháo bữa khoai
Dầu em nhọc sức như thoi đi về
Bao trẻ thơ được mọi bề
Cha mẹ cưng quý, vỗ về sớm trưa
Áo quần mới đẹp thích ưa
Hạnh phúc có được, xây thừa hân hoan
Thân em bao nỗi rộn ràng
Nhọc nhằn kiếm sống xa - gần đó đây
Bao người qua lại có hay
Tấm lòng hiếu thảo, tuổi này mấy ai...!

Và chắc chắn đây là một công việc chính đáng, lương thiện và điều quan trọng là họ tìm thấy niềm vui khi họ làm ăn lương thiện.
Nếu như mọi công việc khác thường bắt đầu từ buổi sáng thì những người đi bán vé số dạo lại chẳng có thời điểm để bắt đầu. Có những người bán cả ngày lẫn đêm, lại có những người mệt thì đi ngủ, miễn sao là không trễ giờ trả vé. Họ nhận vé số từ chiều tối hôm trước (ngay sau khi có kết quả xổ số trong ngày) rồi đi bán cho đến tận hôm sau. Và cuộc sống của họ ngày này qua ngày khác cứ tiếp diễn như vậy, đồng tiền họ kiếm ra bằng chính những giọt mồ hôi và nước mắt của họ, đôi khi còn phải trả bằng máu.
Những người bán vé số dạo thì muôn hình muôn vẻ, nam phụ, lão ấu đều có đủ cả. Họ có thể là một người lành lặn, đi rạc cả đôi chân suốt ngày để kiếm dăm bảy chục ngàn cho cơm gạo. Họ có thể là người tàn tật, ngồi trên chiếc xe lăn bán vé số dạo vì không muốn lệ thuộc vào người khác. Họ cũng có thể là những em nhỏ, học sinh nghèo tranh thủ bán vé số để phụ giúp gia đình. Có người vừa bán vé số vừa ôm con nhỏ, có người bán vé số vừa tranh thủ lượm ve chai. Họ lao động cật lực để kiếm sống. Nhưng cũng có kẻ gian xảo hơn, giả dạng người tàn tật hòng mua sự thương hại của mọi người, họ nằm lê lết dưới mặt đường bán vé số, nhưng thực chất là để xin tiền nhiều hơn




Bản thân những người đi bán vé số dạo cũng chẳng biết một ngày họ phải đi bao nhiêu km, vào bao nhiêu quán nước, mời bao nhiêu khách….có người thì quanh quẩn bán trong một khu vực, nhưng lại có người nhận vài trăm vé số rồi đi khắp nơi, mệt thì tiện đâu nghỉ đó. Tất nhiên càng đi nhiều thì càng bán được nhiều và thu nhập sẽ tăng đáng kể.

Ai từng ngồi cafe vỉa hè hẳn đã gặp những người tật nguyền ngồi xe đẩy đi bán vé số. Có người không đủ khả năng cầm nổi tập vé, có người đi bán phải kèm một người đẩy xe... Họ cứ đi như vậy và đợi ai đó gọi đến mua thì dừng lại bán, nếu không cũng chẳng làm phiền hoặc ép người khác thương hại bằng cách năn nỉ. Họ tự kiếm sống, không chịu biến mình thành phần thừa của xã hội. Cũng có nhiều người khiếm thị chọn nghề bán vé số. Họ cùng đi, cùng dựa vào nhau để sống và tự hào vì không phải đi ăn xin. Và rồi mỗi buổi chiều về họ hỏi thăm nhau bằng những câu đầy cảm động: Hôm nay có ai đi lạc không? Có ai rơi xuống hố không?
Đôi lúc cảm thấy thật chạnh lòng cho số phận rong ruổi và len lỏi khắp phố phường từ mờ sáng cho đến đêm khuya và những giọt mồ hôi lăn dài trên trán của họ, chỉ mong bán hết những tờ vé số trên tay để còn kịp về đoàn tụ cùng với gia đình cho những buổi cơm chiều. Đôi lúc chúng ta có thể thấy họ ngồi trong một góc khuất nhỏ cùng với hộp cơm rẻ tiền và ly trà đá để tiếp sức cho hành trình mưu sinh tiếp theo.

Vì vậy, chúng ta hãy có một cách nhìn thương cảm cho những người mưu sinh như thế bằng những hành động giúp đỡ thật thiết thực.

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Bài Sưu Tầm



Các cô gái Việt xếp hàng để được đàn ông Hàn Quốc tuyển chọn - Hình - Phunutoday.vn





LTCGVN (31.07.2013) - Một thống kê gần đây cho biết, mặc dù Việt Nam có bình quân thu nhập đầu người vào loại thấp nhất thế giới, nhưng mức tiêu thụ rượu bia đứng đầu Đông Nam Á và xếp hàng thứ tư của Châu Á.
Việc nhậu nhẹt rượu bia chủ yếu xẩy ra đối với các quan chức công quyền trong khu vực nhà nước, nơi có hàng núi tiền chùa rơi vãi không ai kiểm soát được. Theo khảo sát của các nhà xã hội học, phần lớn các hợp đồng kinh tế, xây dựng và các quyết sách hành chính nhiều khi được ký kết ngay trên bàn ăn của các quán nhậu.
Cũng theo tâm sự của một cô dâu Việt tại đồng bằng sông Cửu Long lấy chồng Hàn, thì phần lớn bọn con trai làng cô đều nghiện ngập bia rượu, say bét nhè suốt ngày đêm, thô lỗ và bê trễ công việc kể cả công chức nhà nước. Nhiều ông chồng về nhà say xỉn đánh đập vợ con để lấy tiền đi nhậu. Nên các cô dâu Việt thà chịu khổ ở nước người nhưng tại đó còn có nhân quyền, tự do dân chủ và pháp luật bảo vệ, còn hơn ở quê nhà bị rượu bia chà đạp nhân phẩm mà không một cấp chính quyền nào cứu giúp.


Sao con đi lấy chồng Hàn?
Cách xa ngàn dặm tủi thân nhớ nhà
Rời quê ly biệt mẹ cha
Nhỡ khi đau ốm ai là người chăm
Quê mình đâu thiếu trai tân
Sao con không lấy, cho gần má ba?


Má ơi trai Việt quê nhà(1)
Quanh năm nhậu nhẹt bê tha suốt ngày
Chồng gì mà bét nhè say
Tiền xài không đủ về nài vợ đưa
Vợ đâu có sẵn tiền chùa
Của dân đóng góp mà đưa dễ dàng

Liều thân đi lấy chồng Hàn(2)
Số may thì được ân cần đón đưa
Được yêu thương, được mong chờ
Có tiền nuôi dưỡng em thơ, mẹ nghèo

Không may chẳng được chồng yêu
Thôi đành duyên phận cũng liều, biết sao!
Còn hơn ruột thịt đồng bào
Đã nghèo còn xéo dày nhau suốt đời

Bắc thang lên hỏi ông trời
Bao giờ trai Việt chịu rời hũ, be?
Cho con được lấy chồng quê
Gần ba má để đi về sớm hôm






Hàn Quốc non nước hôm nay
Nhân quyền coi trọng, không dày xéo dân
Ước gì nước Việt mến thân
Ngày mai cũng giống nước Hàn mẹ ơi
Để em con được làm người
Ngay trên non nước đất trời Việt Nam!

Hà Nội, 28/7/2013



Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Trẻ Em Xưa Và Nay


một lúc nào đó bất giác bạn nhớ quay quắt những trò chơi mộc mạc ngày xưa mà vui đến cười thành tiếng cả trong giấc mơ của mình.
Trẻ em ngày xưa không có nhiều lựa chọn như bây giờ. nên những trò chơi thường đơn giản và dể thực hiện, không như bây giờ có khi lại quá đắc tiền, tuy nhiên nó đòi hỏi suy nghỉ  nhiều hơn, nhưng không biết nên buồn hay vui cho tuổi thơ ngày nay  nửa .

Các cậu bé ngày xưa thường rất mê bắn bi. Chả thế mà ngày xưa, đứa nào cũng có một “bộ sưu tập” các loại bi đủ màu sắc và kích cỡ. Chỉ trong 15 phút ra chơi, các cậu học sinh cũng kịp chơi vài ván bắn bi. Vài viên bi tròn tròn mà có biết bao kiểu chơi. Một kiểu chơi thường gặp nhất là vẽ một vòng tròn hoặc hình vuông nhỏ, cách đó 1,5-2m vẽ một vạch thẳng. Mỗi người chơi góp một số lượng bi bằng nhau và cho vào ô hình vuông đó. Những người chơi lần lượt bắn bi cái từ vạch thẳng về phía ô vuông đó. Những viên bi bị bắn ra khỏi ô sẽ thuộc về người chơi.


Thời ấy, cậu nhóc nào cũng có cả một "bộ sưu tập" bi đủ màu sắc.

Trong khi đó, các bé gái ngày ấy đặc biệt “kết” hai trò là nhảy dây và chơi chuyền. Nhảy dây có 2 kiểu là nhảy dây thừng và nhảy dây thun. Nhảy dây thừng thì đơn giản nhưng nhảy dây thun thì không phải cô nhóc nào cũng chơi được. Người chơi phải nhảy từ bậc đầu gối đến khuỷu tay rồi bậc kiễng chân... 





...
và nhảy dây thun.

Trò chơi chuyền thì khiến nhiều cô nhóc mê tít đến nỗi mang cả đũa nhà ăn cơm ra chơi, chơi xong lại bỏ vào ống. Quả chuyền thường thì bằng quả bưởi, cam nhỏ, nhưng ko có thì lấy củ khoai tây hay gọt củ su hào, miễn tròn tròn là được. Quả chuyền tung lên hạ xuống nhịp nhàng theo tiếng bài thơ vần và tiếng cười lanh lảnh đến giờ vẫn còn in đậm trong ký ức nhiều người.



Nhiều cô nhóc mê tít trò chơi chuyền.

Những trò chơi “0 đồng” và mang tính tập thể của ngày xưa giờ chỉ còn lưu lại qua những bức ảnh và câu chuyện kể lại. Trẻ em thời nay có những thú vui hoàn toàn khác, tốn kém hơn và có xu hướng thích chơi một mình. Nhiều người lớn giờ ngậm ngùi vì nhà cửa san sát, không còn nhiều khoảng trống để nuôi lớn những tâm hồn trẻ nhỏ.


Bé Hào giờ mê chơi điện tử với máy tính cực mạnh.

Với các gia đình ở thành phố hiện nay thì có lẽ chi phí dành cho tuổi thơ của con là một khoản không nhỏ. Những món đồ chơi đắt tiền như xe điều khiển, máy chơi game, các đồ điện tử đều có giá hàng trăm nghìn đồng. Trẻ em chơi thường không biết giữ nên việc hư hỏng thường xuyên là một điều không tránh khỏi. Sang hơn nữa, nhiều bậc phụ huynh còn mua cho con chơi iPhone, iPad từ lúc còn bé tí. Các bé gái thì được sắm sửa bộ sưu tập nào búp bê Barbie, bộ đồ chơi đồ hàng, thú nhồi bông sặc sỡ. Tính ra trị giá của những món đồ chơi ấy cũng phải lên đến tiền triệu.


bé Sang chơi máy tính bảng của ông nội rất thành thạo




Nhiều cậu nhóc còn lao vào thú vui chơi game trực tuyến, tiền nạp thẻ, mua đồ cho các nhân vật ảo nhiều khi lên đến tiền triệu. Ngay cả ở những vùng quê nghèo, các tiệm chơi điện tử cũng mọc lên như nấm. Nhìn những cô bé, cậu bé mới học cấp 1 bấm máy tính, iPad nhoay nhoáy và nhớ lại hình ảnh chân chất ngày xưa, có thể thấy sự khác nhau rất nhiều của 2 thế hệ.

Tắm rửa

Có một điều mà không cần nói thì ai cũng biết, đó là trẻ con ngày xưa… bẩn hơn trẻ con bây giờ nhiều lắm. Mùa hè thì may ra ngày nào cũng nhảy xuống ao hồ hay tắm ngoài bờ giếng, chứ ngày đông thì cả tuần hay thậm chí cả tháng mới tắm một lần.

Với trẻ con ngày xưa, mỗi trận mưa rào đổ xuống mùa hè là một lần vui như hội. Không ai bảo ai, mỗi đứa đều nài nỉ bố mẹ cho được tắm mưa, rồi sau khi được phép thì liền ào ngay ra đường, nơi có những “chiến hữu” đang đợi sẵn.(6)


Trẻ con xưa "vui như hội" mỗi khi có trận mưa rào.

Chúng bày đủ mọi trò chơi dưới mưa. Hết rượt đuổi nhau trong mưa, ném bùn đất vào nhau, xây lâu đài, hoặc đào những hố nhỏ rồi đào kênh dẫn cho nước chảy vào…

Những đứa bé lớn lên trong thời đại mới có lẽ chẳng có cậu nhóc nào được thử cái cảm giác ấy. Các bậc phụ huynh thời nay thì áp dụng đủ mọi phương pháp khoa học nhất, tiên tiến nhất để bảo vệ con mình khỏi những hiểm nguy tưởng như lúc nào cũng đang rình rập xung quanh. Và việc để cho lũ trẻ chạy rong trên nền đất sình lầy, dưới cơn mưa lạnh lẽo có lẽ là không tưởng. Làm sao những ông bố, bà mẹ nuôi con theo khoa học dám để con trầm mình dưới làn nước ào ào như thác đổ, khi mà có biết bao nhiêu thứ dơ bẩn đang ẩn mình trong đó?(7)




Trẻ con ngày nay được tắm dưới vòi hoa sen hay trong những bồn tắm trắng tinh.

Trẻ con ngày nay được tắm rửa trong căn phòng kín đáo. Mùa hè thì nước mát, mùa đông thì nước ấm. Nếu chẳng may đi đường gặp trời mưa và dính phải chút nước mưa, các ông bố bà mẹ sẽ vội vàng giục giã con đi tráng lại người bằng nước ấm cho khỏi ốm. Sống trong những ngôi nhà tiện nghi không thiếu thứ gì, trẻ em thời nay được bao bọc từng li từng tí.

Chuyện học hành

Hình ảnh các bậc phụ huynh tấp nập đèo con đến trường vào buổi sáng rồi lại đón con vào mỗi buổi chiều đã quá quen thuộc thời nay. Nhớ lại ngày xưa, cô cậu học trò nào cũng phải tự mình đi bộ đến trường. Đứa nào may lắm thì được bố mẹ hay anh chị tiện đường chở đến trường.(8)

Trẻ em xưa trên con đường đến trường....


... Và trẻ em ngày nay.

Đến bây giờ, có lẽ những cô cậu học trò sẽ chết ngất khi nghe nói bố mẹ mình thời xưa từng phải đi bộ đến cả chục cây số để đến trường. Nhưng quãng đường tưởng xa tít tắp ấy ngày nào cũng ngập tiếng cười của những cô bé, cậu bé rủ nhau cùng đi bộ tới trường.

Trẻ con bây giờ sáng vừa mở mắt đã có sẵn bữa sáng đầy đủ đồ ăn, thức uống. Chỉ vệ sinh sạch sẽ xong là bố mẹ sẵn sàng đèo đến trường. Nhiều cô cậu nhà có điều kiện còn được đưa đón bằng xe hơi, mưa không tới mặt, nắng chẳng tới đầu.(9)
 

Trẻ em xưa trên con đường đến trường....



... và bây giờ.
Ngày ấy, nơi trẻ con đến học chủ yếu là những ngôi trường công lập. Trường được xây dựng đơn giản kiểu nhà cấp 4 bây giờ. Tuy phòng học ọp ẹp và cũ kỹ, song khoảng sân trường lại thường rất rộng rãi và nhiều cây cối. Thời ấy chỉ có hệ thống trường công lập chứ không có trường tư, trường quốc tế hoành tráng như bây giờ.

Ăn mặc

Những người trưởng thành bây giờ có lẽ vẫn còn nhớ như in cái thời tuổi thơ thiếu thốn ngày xưa. Khi ấy, trẻ con chỉ có 2, 3 bộ quần áo mùa hè, mùa đông có thêm chiếc áo len và áo khoác ấm. Bộ đẹp thì để mặc đi học, ở nhà chỉ mặc bộ nào cũ kỹ, xấu xí, tích kê dày cứng cả đũng quần. Trẻ con vốn nghịch ngợm, quần áo lăn lê bò toài chẳng mấy chốc mà rách bươm. Ấy là còn chưa kể có đứa lớn nhanh, quần áo mua chẳng mấy bận mà chiếc quần chấm gót đã trở nên ngắn cũn cỡn. (
10)

Trẻ con ngày ấy chỉ được diện quần áo mới vào dịp Tết.

Có lẽ cả năm trời, thời điểm duy nhất trẻ con được mặc áo mới là khi Tết đến. Bộ quần áo mùa đông dành cho ngày Tết ấy được nâng niu lắm, mãi đến sáng mùng một mới mang ra mặc cho mới, cho đẹp. Còn ngày thường thì mặc quần áo cũ, chị để cho em hoặc bà cắt từ những chiếc áo của bố mẹ, may nhỏ lại thành ra của trẻ.

Cuộc sống thiếu thốn khiến trẻ nhỏ lúc nào cũng háo hức chờ mong đến Tết. Không chỉ được mặc quần áo mới, dịp Tết là lúc chúng được thỏa chí ăn những món ngon lành mà ngày thường chỉ dám mơ.(11)

Trẻ con giờ được bố mẹ dẫn đi mua sắm quần áo thời trang.
Còn trẻ em bây giờ, đặc biệt là ở thành phố, thì áo bò, áo phao, quần nhung, quần yếm đủ cả, con gái thì thời trang với đủ loại váy áo, mũ, khăn… Với các bậc phụ huynh bây giờ, có lẽ việc mua cho con những bộ quần áo xinh xắn hay hàng hiệu là một điều không có gì phải nghĩ ngợi.

Xã hội ngày càng phát triển. Trẻ em giờ không thiếu đồ ăn thức uống. Trong ngăn tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp thực phẩm, lũ trẻ không còn phải chờ đến Tết mới được ăn thịt cá, bánh kẹo. Thậm chí, nhiều cô cậu bây giờ còn không hào hứng đến Tết vì... sợ làm bài tập về nhà. So sánh với hình ảnh thiếu thốn cách đây chừng 20, 30 năm mới thấy cuộc sống thay đổi nhanh đến nhường nào.

Cuộc sống thiếu thốn, rất nhiều người thuộc thế hệ 6X đã lớn lên cùng những trò chơi, những món đồ chơi cực kỳ mộc mạc. Đôi khi chỉ với những chiếc lá, mẩu gỗ, viên sỏi, mảnh sành, đôi dép và cái lon sữa bò…, mà 6X thời ấu thơ cũng có thể chơi cả ngày không chán.(12)

Tuổi thơ thiếu thốn, không có gì chơi, có thể ra vườn cắt tàu lá chuối về làm “súng” nổ lốp bốp (13)

Chơi đồ hàng. Đóng vai bố, mẹ, con thành một gia đình nhỏ xíu. Lấy lá dâm bụt làm tiền. Hái một xấp tiền rồi đi chợ mua đồ ăn, cũng trả lại tiền…(14)

Cười giòn tan với trò lia ống bơ (nhiều nơi gọi là tạt lon)15

Cũng bằng những viên sỏi, có thể tạo ra rất nhiều trò chơi(16)

http://stipple.cachefly.net/production/external/spinner.gif
Súng cao su (ná) loại làm bằng dây thun

Cỏ gà và chọi cỏ gà

Làm diều bằng sách vở cũ. Không có keo dán, dùng cơm nguội để dán diều

Súng phốc (ống thục) làm từ ống tre nhỏ. Cho quả xoan non hoặc giấy vụ vo trò vào làm “đạn” bắn đau điếng, “tức muốn chết”!



Đồng hồ tự chế từ lá dừa,

Cho chuồn chuồn cắn rốn vì “niềm tin bất hủ”: chịu đau rồi sẽ biết bơi

Đua tốc độ theo cách của 6X


Chơi đánh bài bôi nhọ nồi

Tuổi thơ thiếu thốn của thế hệ 5&6X khác tuổi thơ đầy đủ của em, của con, của cháu, của những thế hệ sau họ rất nhiều. Nhưng dù thiếu thốn, bao nhiêu người 5&6X vẫn lớn lên, vẫn trưởng thành và cảm thấy trân quý, “rưng rưng” với tuổi thơ mộc mạc ấy.

Những trò chơi đơn giản, ngây ngô mà “vui thả ga” của ngày xưa có lẽ sẽ còn in sâu trong ký ức của thế hệ 5&6X. Để mỗi khi nhớ về, họ thấy lòng thanh thản, bồi hồi và mỉm cười với “1 vé đi tuổi thơ”…

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

HỌC

Ngày nay sự học được mọi người quan tâm hàng đầu trong việc giáo dục con người, đến nỗi nói đến giáo dục là người ta nghĩ ngay đến việc đi học, vô tình nó được đồng hóa với từ “giáo dục”. Có lẽ đây là nguyên nhân và mấu chốt của vấn đề dẫn con người xa dần cái ý nghĩa cao quý đích thực của việc học nói riêng, giáo dục nói chung. Nó khác với lối học ngày xưa chính là ở điểm này.

 NGÀY XƯA
 Trước đây, xã hội công nghiệp chưa ngự trị, con người chủ yếu đi học về nhân văn và nghệ thuật tư tưởng, đặc biệt là bên Đông phương, người đi học chuyên về tư tưởng đạo lý, đến nỗi đi học là học Đạo chứ không phải học các ngành khoa học như ngày nay.
 Triết học Đông phương được gọi là Đạo học, mục đích là để hiểu về Đạo, để trở thành hiền giả, hiền triết, thánh nhân. Nó khác ngày nay là đi học để trở thành những người thợ, chuyên viên, chuyên gia hoặc nhà khoa học, triết gia…, có thể nói phần lớn nó chẳng liên quan gì đến đạo lý, tư tưởng, văn hóa gì cả, ngoại trừ một ít ngành nghiên cứu thuộc lãnh vực chuyên môn, nhưng chỉ là vấn đề thuộc tri thức mà thôi.
 Cái học trước đây chủ yếu lấy Đạo, lấy Đức làm nền tảng và là mục đích, nên người ta thường nói: “học làm người”, và người xưa quan niệm rất nhân bản: “không thành công cũng thành nhân” và luôn luôn phải là “văn dĩ tải đạo” .
Bởi thế nếu đi học mà không làm quan giúp đời thì kẻ sĩ vẫn ung dung tự tại vui thú với điền viên, với lối sống dân dã hết sức mộc mạc giản dị và thanh cao, không cần những tiện nghi vật chất, vì họ sợ bị ràng buộc và nô lệ vào đời sống vật dục. Nhiều kẻ sĩ có khuynh hướng ẩn dật để tu tâm dưỡng tính, trở thành những ẩn sĩ thanh bạch đáng khâm phục. Hay ít ra họ cũng tìm được cái triết lý an vi cao quý, tìm được cái Đạo sống cao thượng, như trong sử sách đã ghi lại rất nhiều.
 Tuy cái học ngày xưa không mang tính chuyên môn sâu rộng như ngày nay, nhưng nó luôn được gọi là cái học quán thông, vì học là tìm và nương tựa vào CÁI ĐẠO, mà Đạo là tất cả, là cứu cánh của vạn vật, nó là toàn thể của mọi quy luật phát sinh, tồn tại và hủy diệt, “hữu sinh tất hữu diệt; hữu thành tất hữu hủy”. Nó diễn tiến không ngừng theo mỗi thời gian, không gian và điều kiện trong quy luật của nó. Trong đó, sự vật và con người, vũ trụ và nhân sinh đều hòa quyện và tác động vào nhau, phát triển hoặc hủy diệt lẫn nhau. “Thiên địa vạn vật nhất thể” là như thế.
 Cái học tổng quan - nhất nguyên - này cho phép con người biết “một” cũng là biết tất cả, vì: “nhất bất biến ứng vạn biến”, nên mọi hiện tượng, hay mọi quy luật không thể chia chẻ hoặc đứng một mình, như sợi tóc chẻ làm tư thì không còn là sợi tóc nữa. Sự chia chẻ chỉ làm nó khô cứng và không còn lý do để tồn tại. Mọi diễn biến của vũ trụ, của tự nhiên, của xã hội, trong các ngành khoa học ngày nay, dù là thiên văn, địa lý, chính trị, kinh tế, sinh học, tâm lý học, y học, lý hóa v.v… vẫn chỉ là một, vì bộ ba THIÊN-ĐỊA-NHÂN không thể tách rời.
 Nói chung, cái học ngày xưa là cái học để hiểu và tìm ĐẠO, nhất là để sống cho hợp với mọi lẽ trong quy luật của trời đất, thực tế là biết sống, biết xử sự giữa con người với nhau, cũng như giữa con người với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên mà con người đang sống và hiện diện. Chính vì thế, mọi sự liên quan tới đời sống đều là Đạo Sống. ĐẠO LÀM NGƯỜI với Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; ĐẠO XỬ THẾ với Ngũ luân: Quân minh thần trung, Phụ từ tử hiếu, Phu xướng phụ tùy, Huynh hữu đệ cung, Bằng hữu thủ tín; ĐẠO PHU PHỤ: Phu phụ tương kính như tân… ĐẠO LÀM CON: Chữ Hiếu; ĐẠO LÀM VUA… Tất cả đều trở thành ĐẠO. Và còn rất nhiều học thuyết khác, chung quy cũng tìm về Đạo để mưu cầu hạnh phúc cho con người, cho xã hội được tồn tại và ổn định .
  NGÀY NAY
 Ngày nay không ai mà không thấy sự cần thiết của việc học, nó là điều kiện buộc phải có để sống, để hội nhập với xã hội. Nó cũng là điều kiện cơ bản như một tiêu chí để đo lường mức thang giá trị của con người, giá trị của một cá nhân. Dù học môn gì, ngành gì, nó cũng định dạng để gắn liền với nghề nghiệp, với nguồn lợi của thu nhập. Vì vậy, nghề nghiệp và nguồn thu nhập trở thành mục tiêu cho sự học.
 Do đó quan niệm về sự học cũng thay đổi, một sự thay đổi gần như ngược với xã hội truyền thống trước đây. Điều này diễn ra từ sự biến dịch trong quy luật của lịch sử, khi mà xã hội công nghiệp phát triển thì tất nhiên xã hội truyền thống bị phá vỡ, kéo theo một nền văn hóa cổ truyền lung lay và có nguy cơ sụp đổ, ngay cả nền móng gia đình cũng bị đảo lộn. Cái học ngày nay là cái học của khoa học nói chung, đặc biệt chú trọng vào khoa học ứng dụng, khoa học kỹ thuật và khoa học thực nghiệm. Bởi thế nó được hệ thống hóa và đi vào chuyên môn để chia chẻ ra rất nhiều môn, nhiều ngành. Nhờ thế nó giúp cho mỗi người đi chuyên sâu vào từng lãnh vực tới mức tinh vi, giúp cho xã hội có rất nhiều nhân tài mang tính chuyên môn để xây dựng và phát triển đất nước
. Một guồng máy tốt với những nhân tài thì có thể đưa đất nước nhảy vọt từ lạc hậu lên hàng cường quốc chỉ trong ít chục năm, trở thành một nước văn minh tiên tiến. Nó không như văn hóa là phải mất nhiều thế hệ, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm thì mới có thể xây dựng một nền văn hóa mang tính dân tộc được. Cuối thế kỷ 20, đầu TK 21, với sự bùng nổ thông tin của kỹ thuật máy tính và mạng, sau đó là toàn cầu hóa, những nước và những người được tiếp cận với thế giới hầu như bị choáng ngộp với những sự kiện và những sáng tạo mới, qua nhiều đổi thay khắp nơi trên thế giới. Mọi người, mọi nước như chạy đua với thời gian để bắt kịp thời đại.
 Hầu như không còn thời giờ để suy tư về những vấn đề thuộc lãnh vực tinh thần như đạo lý, tư tưởng, văn hóa, lễ giáo, truyền thống… nữa, nếu có chỉ là thứ yếu hoặc vụn vặt. Tất cả các ngành học hướng tới phục vụ con người bằng cách sản xuất ra của cải và tiện nghi hưởng thụ. Nó được kích cầu tối đa, tạo ra những nhu cầu mới, kích thích sự thèm khát tiêu thụ như trong quảng cáo, giúp cho nền kinh tế phát triển.
 Xã hội tiêu thụ - mua sắm những cái không cần thiết và dư thừa - là đỉnh cao của xã hội công nghiệp ngày nay mà nước nào cũng muốn nhắm tới. Vì nhu cầu của sự thúc bách, nên cái học ngày nay mang tính đối phó, mang tính dục tốc, chộp thời cơ và tiêu cực của nó là chộp giật. Cho nên vấn đề phương pháp, chính xác, hoàn hảo, đắc lực, hiệu quả, vượt thời gian, kỷ lục, cạnh tranh, loại đối thủ… là yếu tố nòng cốt cho mọi kế hoạch thi hành, nên nó rất năng động và sát phạt trong quy trình diễn tiến.
 Khác với xã hội truyền thống, chủ trương ở dạng tĩnh, chậm, chắc, bền, chấp nhận cái tương đối và sự khiếm khuyết của mọi sự, mọi vật. Cái học ngày nay mang tính độc lập, và tính cá nhân được đề cao để tự do phát triển, nên có nhiều cá nhân xuất sắc, được trọng dụng, mang lại rất nhiều nguồn lợi cho họ, đến nỗi cá nhân trở thành một chủ nghĩa như một lý thuyết (cá nhân chủ nghĩa) thật hấp dẫn. Nhiều người cho rằng, cái học ngày nay chỉ tạo ra những Robốt, ý muốn nói tạo ra những công cụ, những bánh xe vô hồn trong một bộ máy vô cảm.
 Con người làm việc và sống theo những công thức đã được lập trình, được quy định chặt chẽ, không ai còn thời giờ hoạch định cho mình một thế giới riêng tư, vì giờ nào việc đó thật chính xác và rõ ràng, như một cái chốt chạy trong một bộ máy khổng lồ.
 Mục đích của con người đi học để đạt được cái danh và cái lợi, mà đỉnh cao của nó mang tính CHUYÊN: chuyên môn, chuyên gia, chuyên viên, chuyên nghiệp…, và mang tính NHÀ: nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà lý luận, nhà kinh tế, nhà kế hoạch, nhà chính trị… Cũng như thành công trong cuộc sống được đo lường và đánh giá bằng lương tháng, bằng lợi nhuận, bằng tiện nghi… Nó trở thành tiêu chí để đánh giá tài năng hay bất tài, giỏi hay dốt, khôn hay dại, giá trị hay không ở đời.
Tóm lại, sự cạnh tranh, sự thống trị, sự đột phá trong sáng tạo, sự thu nhập tiền của hoặc lợi nhuận là động cơ chính yếu thúc đẩy và kích thích việc học của con người ngày nay. Ngoài ra đều là những thứ yếu, nếu có yếu tố tinh thần nào thì cũng để tìm chút an ủi, tạo niềm vui và trang trí mà thôi.
Vì vậy, khi có sự khủng hoảng tinh thần nào đó xảy ra cho cá nhân hoặc cộng đồng xã hội ngày nay thì cũng chỉ là sự tất yếu, vì nó là hệ quả của quy luật giữa nhân với quả hoặc giữa quả với nhân.
 HƯỚNG ĐI
 Sau khi nhìn qua  xưa và nay - thực ra là có sự chuyển tiếp một cách tiệm tiến, chứ không hẳn rạch ròi như thế - thì người đi học cũng có thể tìm ra một quan điểm dung hoà tốt nhất cho cái học của mình. Từ sự nhận thức thông thường và cơ bản nhất, thì sự vật nào cũng có mặt phải và mặt trái của nó. Như bên Tây phương là nền văn hóa động, nên khoa học thực nghiệm và kỹ thuật phát triển, nó luôn thích ứng, cầu tiến, cộng với ý chí chinh phục rất lớn, nên nó phát triển rất mạnh và rất nhanh.
 Ngược lại, Đông phương với nền văn minh nông nghiệp, nhất là nền văn minh lúa nước như Việt Nam thì ưa tĩnh, sợ thay đổi, an phận thủ thường, tính bảo thủ, trọng tình cảm, ưa lễ nghĩa… nên rất chậm phát triển. Bởi vậy, dù muốn hay không, cái nền văn hóa dân tộc vẫn là cái cơ bản, quan trọng và cần thiết nhất để xây dựng toà nhà theo mô hình nào thích hợp nhất.
Nếu không dựa trên cái nền này thì toà nhà khó có thể đứng vững được. Thực tế cho thấy lớp trẻ ngày nay có khuynh hướng muốn phá bỏ cái nền văn hóa truyền thống của dân tộc, không những không giữ mà còn có thái độ miệt thị khinh thường nữa. Có lẽ đây là một thứ mặc cảm tự ti thâm căn của lớp trẻ, có thể của cả dân tộc, như Trịnh Công Sơn than thở: “Người nô lệ da vàng ngủ quên trong căn nhà nhỏ…”, từ đó nảy sinh ra vấn đề “chuộng ngoại”. Bất cứ cái gì của Tây cũng đều giá trị và chạy đua theo họ rất mù quáng, thường chỉ học và bắt chước được cái gì kích thích nhất, dễ học nhất, những thứ chỉ là cặn bã của họ, mà chính họ cũng khinh thường. Còn nền văn minh, văn hóa chính thống của họ lại chẳng học được.
 Thật tội nghiệp cho nhiều công nhân, sinh viên từ các tỉnh về những thành phố lớn để đi làm và học hành, họ bắt chước, rập khuôn lối sống vô văn hóa của một số dân thành thị, cộng với kiểu lai căng du nhập từ nước ngoài để gọi là hoà nhập “ta cũng như ai”. Họ tự chối bỏ bản thân để che lấp cái thân phận “dân quê làm vườn” của mình. Họ đâu hiểu rằng con người Việt Nam chẳng có ai là quý tộc thượng lưu cả, tất cả đều xuất thân từ chân lấm tay bùn mà ra. Khi cha mẹ tới thăm thì họ che dấu vì sợ người ta nhìn thấy gia đình mình quê mùa. Và lúc về quê thì họ giảng cho anh em, cha mẹ những bài học khôn về thời đại, bằng những mánh khoé và những phương tiện hưởng thụ, nhưng họ không hiểu thế nào là người có văn hóa, văn minh cả.
 Sau đó là bất chấp lễ nghĩa, nề nếp của gia đình mà họ đã hấp thụ. Sự vong thân, vong bản là như thế. Muốn học thế nào cho đúng đắn nhất thì trước hết phải nhận thức cho đúng, bỏ được cái ý niệm sai lầm tai hại là học để có cơ hội thuận lợi kiếm tiền, kiếm danh. Tiếp đến là nhận thức được cái nền văn hóa truyền thống vô cùng quý giá của dân tộc, trong đó có đạo đức, lòng nhân, tình cảm (quê hương, đất nước), tính cộng đồng, nền nếp gia phong, lễ giáo, cần cù, nhẫn nại, hiếu học… lấy làm nền để xây dựng trên cái học của mình thì mới vững chắc.
 Mục đích của sự học phải là khát khao tri thức trong cái hay, cái đẹp, cái đúng, cái tốt (Chân-Thiện-Mỹ), chứ không phải học vì việc làm hoặc vì danh lợi, và phải học không ngừng, dù đã ra trường.
 Học xong ở nhà trường mới chỉ là bắt đầu (chưa hiểu hết khái niệm), chứ chưa phải là đã đủ, đã thông, nên luôn phải trau dồi bằng cách không bao giờ được rời sách vở. Lớp trẻ bây giờ yếu kém mọi mặt vì chỉ học theo lối đối phó để đủ điểm ra trường, nên học không hiểu và không tiêu hóa được, sau đó là giã từ sách vở, rồi đi làm để nghề dạy nghề, trong nhà không hề có tủ sách nào.
 Nên theo cái học của người xưa, là học quán thông, học không những ngành của mình mà còn phải tìm tòi trau dồi các ngành liên quan khác, như học về ngành y thì còn phải học về y đức, về tâm lý, về tâm linh, về đối nhân xử thế, về tư tưởng văn hóa v.v... Học khoa học theo như Tây phương chứ không phải học lối sống của họ. Khoa học, văn hóa, đạo đức là những lãnh vực có đối tượng nghiên cứu khác nhau, không lẫn lộn và đào thải nhau, nó lại cần thiết để bổ sung cho nhau. Nếu học văn hóa Á Đông, văn hóa Việt Nam với những nề nếp từ trong gia đình trước hết (gia đình là hạt nhân cơ bản nhất), xuyên qua các loại hình văn hóa trong tổ chức cộng đồng, cộng thêm các ngành khoa học Tây phương thì mình thâu tóm được tất cả.
 Khi học và trau dồi như vậy, con người sẽ được quân bình cả về nhận thức, về tâm lý và tình cảm. Tóm lại, sự học thì thời nào cũng cần thiết và cao quý, nhưng nó thực sự có giá trị hay không là tùy vào sự nhận thức của con người. Nếu cái học chỉ là phương tiện kiếm tiền thì nó trở thành đê hạ, phản lại cái chức năng và mục đích cao quý của nó, dẫn con người tới sự mù tối, sản sinh ra những chuyên viên kiếm tiền làm hại cho xã hội, cho văn hóa, cho đạo lý (vi phú bất nhân). Học là bổn phận và trách nhiệm của tuổi trẻ, mục đích là để phục vụ, xây dựng, làm giàu, làm đẹp, làm tốt, trở nên hoàn thiện cho bản thân, cho gia đình và xã hội. Đó là cái học cao quý muôn thủa cho mọi thời đại.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...