Trong thời khắc giao mùa rộn rã, nhiều ngư dân vẫn cần mẫn dong thuyền lướt sóng ra khơi với niềm tin một mùa cá mới bội thu.
Dáng Xuân đang len qua từng ngõ nhỏ ở các làng chài ven biển miền Trung. Theo tục lệ làng biển, trong ngày 30 Tết, tàu thuyền nhất loạt neo bến. Sang năm mới, vào mùng ba, ngư dân cúng khai cửa và lại tiếp tục hành trình “theo đàn cá lội”. Thế nhưng, vì sinh kế và một thói quen tâm linh, nhiều ngư dân vẫn chuẩn bị ra khơi khi giao thừa năm mới đã cận kề.
Cảng Cà Ná, vùng sơn thủy hữu tình của tỉnh Ninh Thuận gió cát, tàu thuyền vẫn yên đậu. Đây đó, vài nhà cuốn lưới, xếp đồ nghề nghỉ ngơi đón Xuân mới sau những tháng ngày lênh đênh cùng con nước bạc. Trong thời khắc giao mùa rộn rã, vẫn có nhiều ngư dân cần mẫn dong thuyền lướt sóng ra khơi với niềm tin một mùa cá mới bội thu.
< Những cánh tay vẫy chào. Chuyện ra khơi bao giờ cũng quyến luyến, càng quyến luyến hơn khi đo slaf những ngày Tết, lẽ ra gia đình phải được sum họp đầm ấm.
Anh Trần Văn Ân, chủ một chiếc tàu công suất 80 CV ở Cà Ná, nói với tôi như đinh đóng cột rằng Tết Nhâm Thìn này, anh sẽ tiếp tục đón Xuân trên biển. “Năm ngoái đi rồi, Tết này tôi cũng muốn ở nhà vui vầy với vợ con lắm chứ! Thế nhưng, mười mấy bạn biển của mình còn khó khăn nên tụi tôi quyết định làm mẻ cá đầu năm lấy hên” - anh Ân bộc bạch. Anh Nguyễn Văn Tí, bạn chài của Ân, hào hứng: “Hơn 10 năm đi biển, quen sóng, quen gió quá rồi, vậy mà ra khơi ngày Tết vẫn cứ thấy lòng mình nao nao”.
< Các tàu cá của ngư dân Sa Huỳnh xuất quân đánh bắt thủy sản đầu năm trong sáng mùng 3.
Nhiều ngư dân bảo ra khơi ngày Tết thường chỉ đánh bắt bằng vài ba phần ngày thường nhưng rất vui. Cũng bánh chưng, bánh tét, cũng rượu thịt, dưa hành... nhưng họ đón giao thừa nơi boong tàu giữa trùng khơi và không quên chúc nhau vẹn một năm mới no đủ. “Sáng mùng một mà gặp nhau trên biển thì còn gì bằng. Cập tàu vào, mời nhau ly rượu rồi tủa đi đánh bắt” - ông Phan Chí Thành, lão ngư kỳ cựu ở phường Bình Hưng, TP Phan Thiết - tỉnh Bình Thuận, háo hức.
Ang Đỗ Văn Phường, một thuyền trưởng ở TP Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên, đã liên tiếp hai năm 2010-2011 đón Tết trên biển. Anh nửa đùa nửa thật rằng chi phí một chuyến “du Xuân giữa đại dương” bao giờ cũng cao hơn ngày thường. “Bình thường, chi phí mỗi chuyến biển khoảng 110 - 120 triệu đồng. Tháng chạp, thứ gì cũng tăng giá nên chuyến biển cũng phải tốn không dưới 150 triệu đồng. Bù lại, đi biển Tết về, cá mực gì cũng được giá nên lãi chắc” - anh Phường lý giải.
Theo ông Trần Ngọc Chánh, người sở hữu hai tàu cá ở TP Tuy Hòa, chủ tàu đi biển Tết thường sắm sửa đủ thứ để ngư dân có điều kiện vui Xuân. “Làm gì thì làm, đến giao thừa, tàu phải neo lại ở một đảo nào đó của Trường Sa để cúng Ông Nam Hải, sáng mùng một mới khởi sự đánh bắt” - ông Chánh cho biết. Nhiều ngư dân rất lãng mạn khi kể về chuyện ra khơi đầu năm mới.
< Những chú gà, hoa cũng theo thuyền ra khơi phục vụ cái tết biển.
“Đêm 30 Tết, màn đêm đen đặc, trời biển một màu sâu thẳm nhưng tràn ngập tiết Xuân. Trước thềm năm mới, ngư dân trên “chiếc tàu Xuân” rộn rã mở tiệc với đầy đủ phong vị quê nhà. Trong tiếng nhạc du dương Happy New Year từ Đài Tiếng nói Việt Nam, nỗi buồn Tết lênh đênh như thể không còn hiện hữu” - anh Phường mơ màng.
Những ngày giáp Tết này, tôi gặp lại người bạn vong niên Lê Văn Thao, một trong những chủ tàu đánh bắt xa bờ ở phường Đông Hải, TP Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Thao bảo Tết này anh lại tiếp tục làm mẻ cá đầu Xuân. “Nếu trời Xuân gió lặng, trúng luồng cá thì thả chừng 3-4 tay lưới là đủ “sở hụi”, được vậy coi như bù vào cái khoảng đón năm mới xa nhà rồi”, anh nói. Tâm sự của anh Thao cũng là mong ước của tất thảy ngư dân dong tàu ra khơi ngày Tết.
< Đội bả trạo ở xã Phổ Thạnh diễn xướng nghi thức nghinh cá Ông, tế vị thần Nam Hải cầu năm mới đánh bắt được mùa, bội thu tôm cá.
Nghề ngư phủ, có người đến vì gánh nặng mưu sinh, người thì bằng duyên nghiệp cha truyền con nối, cũng có người vận vào do sự tình cờ... nhưng tất thảy đều đậm chất lãng mạn, nồng ấm tình người. Dẫu phải luôn đối mặt với hiểm nguy bởi bão tố trùng khơi hay chật vật trước từng cơn “bão giá” thị trường, không mấy ngư phủ nghĩ đến chuyện bỏ biển bao giờ, dẫu là ngày Tết.
Mỗi nghề mỗi nghiệp, đã là ngư phủ thì nề hà chi Tết hay ngày thường. Họ vẫn bám thuyền - giữ biển, mong “trời thương” cho khoang cá đầy, mở hàng một năm mới thuận lợi. Biển cả lắm khi dữ dằn vẫn không làm chùn bước ngư phủ, bởi lẽ ở mỗi chuyến “du Xuân biển”, trong họ lại rạng ngời một niềm tin.
Du lich,GO! - Theo Nguoilaodong, internet
Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012
Gặp cô gái 8X cứ Tết là đi 'phượt'
Cô gái trẻ ấy lựa chọn dịch chuyển trong dịp Tết không phải bởi cô không coi trọng sự sum họp gia đình mà vì muốn đi để được biết những điều mới mẻ như một cách đánh dấu bước ngoặt ý nghĩa trong thời khắc bước sang năm mới.
< Phương Thảo (ngoài cùng bên phải) trong chuyến đi Ấn Độ.
Đầu xuân, tình cờ giở cuốn nhật ký hành trình của Nguyễn Phương Thảo - một cô gái giữa 8X, sinh ra với lớn lên ở Hà Nội, đã tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp - để rồi bắt gặp rất nhiều địa danh, sự kiện cùng những cảm xúc và rất nhiều kinh nghiệm của cô khi kể về những chuyến đi trong mùa xuân.
Cuối tháng Chạp năm 2007, Phương Thảo thực hiện chuyến xa nhà đầu tiên trong dịp Tết khi cùng mẹ nhảy ô tô, xuất phát từ Hà Nội, vào cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) qua Lào rồi sang Thái Lan. Ban đầu, mục đích của chuyến đi chỉ là thăm hỏi họ hàng. Nhưng do trục trặc lịch trình trung chuyển, khi thời khắc giao thừa của Tết Việt Nam gần điểm, Phương Thảo và mẹ chọn ngụ lại trong một nhà nghỉ nhỏ, nằm nép mình giữa một thành phố xinh xắn trên đất Thái...
Kể từ đó, Tết nào Phương Thảo cũng có những chuyến đi. Nhật ký hành trình của người lữ hành trẻ này ngày một dày lên. Chuyến ngắn nhất 5 ngày, dài nhất 10 ngày. Đó là những đêm đón giao thừa và năm mới tưng bừng tại một quảng trường trên đất nước chùa tháp Campuchia; là chiều những ngày cuối năm trôi đi trên sông Hằng ở thành phố thiêng Varanasi, vịnh Bengan vùng Cancutta, Bắc Ấn; là ngày có tiết trời mưa giá rét cưỡi lừa lên đỉnh núi cao 4.000km Đức Khâm vùng Vân Nam, Trung Quốc; là đêm tĩnh lặng ngồi tàu xuyên qua những cánh rừng sinh thái hoang sơ vùng Srilanca...
Sau mỗi chuyến đi về, Phương Thảo thường lao vào kiếm tiền và dành dụm. Khi có khoảng trên dưới chục triệu đồng cùng với những cơ hội đến, với những lý do hợp lý để thuyết phục, có được sự tin tưởng, tạo điều kiện của gia đình... cô lại vác balô ra đi..
Dạo mới thực hiện các chuyến đi, người lữ hành này gặp khó khăn khi chuẩn bị đồ đạc, tìm hiểu thông tin về nơi đến, gặp vấn đề về sức khoẻ... Về sau, quen dần, mọi thứ trở nên chuyên nghiệp, thuận lợi hơn. Cô thường lên mạng tìm thông tin shop đồ chuyên dụng, vé máy bay giá rẻ, những trang web chuyên dành cho dân du lịch bụi trên thế giới...
Trước mỗi hành trình, Thảo tập trung vào việc thiết kế plan (kế hoạch). Đây là việc quan trọng nhất. Có plan chính và plan “nháp” để dự trù phương án thay thế. Ở đó phải có chi tiết về đất nước tham quan (từng thành phố, khách sạn, phương tiện đi lại, từng địa danh, di tích...), thời gian đi, sử dụng từng dịch vụ, số tiền tiêu trong từng ngày...
Bạn đồng hành, mỗi chuyến thường khoảng 3-4 người là phù hợp nhất. Tối đa cũng chỉ đến 6 người. Trong nhóm có một người bạn của mình là tin tưởng, okay. Những thành viên còn lại có lần là bạn của bạn hoặc có được do sự kết nối, kêu gọi nhập nhóm từ diễn đàn trên trang “phượt.com”... Trước khi đặt chân đến đất nước nào đó, người lữ hành cũng luôn tìm kiếm cuốn Lonely Planet. Đây là cuốn sách vàng, hầu như quốc gia nào cũng có, trong đó có những thông tin tóm tắt về đất nước, thành phố, con người...
Trước mỗi chuyến đi, người lữ hành cũng phải tập thể thao, chạy bộ, ăn điều độ và không để mất ngủ. Hành lý sẽ luôn là balô nhẹ, có nhiều ngăn nhỏ ở trong, có giày (trek), dép mềm không thấm nước chuyên dùng để đi núi, có túi ngủ, mũ, kính, đèn pin, dao, một số thuốc chữa bệnh thông thường, C sủi và chocolate... Theo người lữ hành, ngoài việc biết sử dụng tiếng Anh thì việc mang theo chocolate là thứ không thể thiếu cho dân dịch chuyển. Chocolate càng đen càng tốt vì chứa nhiều năng lượng, cực kỳ hữu ích khi mình rơi vào tình trạng mệt, đói hoặc đang ở vùng khó tìm kiếm đồ ăn... Còn quần áo ư? Người lữ hành luôn chọn mang theo những đồ cũ để phù hợp với yêu cầu cần loại bỏ bớt hành lý trên từng chặng đường đi...
Cô gái trẻ ấy lựa chọn dịch chuyển trong dịp Tết không phải là bởi cô không coi trọng sự sum họp, quần tụ gia đình, không thích ở nhà ăn Tết cổ truyền Việt Nam... “Mình đã đón Tết ở nhà từ bé đến lớn. Mình vẫn thích không khí Tết trong gia đình. Tuy nhiên, đây cũng là dịp nghỉ dài ngày và nếu may mắn rủ được “cạ”, đặt được vé máy bay giá rẻ thì đi có rất nhiều thú vị. Đi để được nhìn, được nghe những điều mới mẻ như một cách đánh dấu những bước ngoặt ý nghĩa trong thời khắc bước sang năm mới”...
Và kết quả, trong mỗi hành trình mùa xuân, cô đã trải qua những ngày tự lo lắng cho bản thân, học cách tôn trọng, hoà mình cùng với những người trong nhóm, học được cách trò chuyện với người xa lạ một cách cởi mở hơn... Đặc biệt, mỗi lần đặt chân đến một địa danh mới là lần cô được tiếp xúc với một vốn kiến thức mới với nhiều khác biệt.
Không sử dụng tư duy của những người thích “phượt” để “tráng men”, để lướt lướt qua qua về những vùng đất mà mình đến, cô luôn biết cách tận dụng những cơ hội để tìm tòi, quan sát rồi cảm cảm nhận, thâu tóm trong khuôn hình của máy ảnh, nạp vào kho tri thức của mình những gì thuộc đời sống, người dân, phong cảnh, văn hoá đặc trưng...
Ví như ở Thái, cô có được dấu ấn về niềm tin, sự thân thiện, chân thành; ở Lào là những gì kỳ quan và sự chất phác; ở Ấn Độ là những gì thuộc về quốc đạo, là chính trị sôi động, là tất thảy những ngạc nhiên, huyền bí; ở Sri Lanca là những con người cực kỳ dễ thương, nồng hậu và thiên nhiên thì bao la, phóng khoáng... Nhờ những dịch chuyển mà cô lớn lên, trưởng thành và vô cùng tự tin, “giàu có”.
Du lich,GO! - Theo Suckhoe, internet
< Phương Thảo (ngoài cùng bên phải) trong chuyến đi Ấn Độ.
Đầu xuân, tình cờ giở cuốn nhật ký hành trình của Nguyễn Phương Thảo - một cô gái giữa 8X, sinh ra với lớn lên ở Hà Nội, đã tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp - để rồi bắt gặp rất nhiều địa danh, sự kiện cùng những cảm xúc và rất nhiều kinh nghiệm của cô khi kể về những chuyến đi trong mùa xuân.
Cuối tháng Chạp năm 2007, Phương Thảo thực hiện chuyến xa nhà đầu tiên trong dịp Tết khi cùng mẹ nhảy ô tô, xuất phát từ Hà Nội, vào cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) qua Lào rồi sang Thái Lan. Ban đầu, mục đích của chuyến đi chỉ là thăm hỏi họ hàng. Nhưng do trục trặc lịch trình trung chuyển, khi thời khắc giao thừa của Tết Việt Nam gần điểm, Phương Thảo và mẹ chọn ngụ lại trong một nhà nghỉ nhỏ, nằm nép mình giữa một thành phố xinh xắn trên đất Thái...
Kể từ đó, Tết nào Phương Thảo cũng có những chuyến đi. Nhật ký hành trình của người lữ hành trẻ này ngày một dày lên. Chuyến ngắn nhất 5 ngày, dài nhất 10 ngày. Đó là những đêm đón giao thừa và năm mới tưng bừng tại một quảng trường trên đất nước chùa tháp Campuchia; là chiều những ngày cuối năm trôi đi trên sông Hằng ở thành phố thiêng Varanasi, vịnh Bengan vùng Cancutta, Bắc Ấn; là ngày có tiết trời mưa giá rét cưỡi lừa lên đỉnh núi cao 4.000km Đức Khâm vùng Vân Nam, Trung Quốc; là đêm tĩnh lặng ngồi tàu xuyên qua những cánh rừng sinh thái hoang sơ vùng Srilanca...
Sau mỗi chuyến đi về, Phương Thảo thường lao vào kiếm tiền và dành dụm. Khi có khoảng trên dưới chục triệu đồng cùng với những cơ hội đến, với những lý do hợp lý để thuyết phục, có được sự tin tưởng, tạo điều kiện của gia đình... cô lại vác balô ra đi..
Dạo mới thực hiện các chuyến đi, người lữ hành này gặp khó khăn khi chuẩn bị đồ đạc, tìm hiểu thông tin về nơi đến, gặp vấn đề về sức khoẻ... Về sau, quen dần, mọi thứ trở nên chuyên nghiệp, thuận lợi hơn. Cô thường lên mạng tìm thông tin shop đồ chuyên dụng, vé máy bay giá rẻ, những trang web chuyên dành cho dân du lịch bụi trên thế giới...
Trước mỗi hành trình, Thảo tập trung vào việc thiết kế plan (kế hoạch). Đây là việc quan trọng nhất. Có plan chính và plan “nháp” để dự trù phương án thay thế. Ở đó phải có chi tiết về đất nước tham quan (từng thành phố, khách sạn, phương tiện đi lại, từng địa danh, di tích...), thời gian đi, sử dụng từng dịch vụ, số tiền tiêu trong từng ngày...
Bạn đồng hành, mỗi chuyến thường khoảng 3-4 người là phù hợp nhất. Tối đa cũng chỉ đến 6 người. Trong nhóm có một người bạn của mình là tin tưởng, okay. Những thành viên còn lại có lần là bạn của bạn hoặc có được do sự kết nối, kêu gọi nhập nhóm từ diễn đàn trên trang “phượt.com”... Trước khi đặt chân đến đất nước nào đó, người lữ hành cũng luôn tìm kiếm cuốn Lonely Planet. Đây là cuốn sách vàng, hầu như quốc gia nào cũng có, trong đó có những thông tin tóm tắt về đất nước, thành phố, con người...
Trước mỗi chuyến đi, người lữ hành cũng phải tập thể thao, chạy bộ, ăn điều độ và không để mất ngủ. Hành lý sẽ luôn là balô nhẹ, có nhiều ngăn nhỏ ở trong, có giày (trek), dép mềm không thấm nước chuyên dùng để đi núi, có túi ngủ, mũ, kính, đèn pin, dao, một số thuốc chữa bệnh thông thường, C sủi và chocolate... Theo người lữ hành, ngoài việc biết sử dụng tiếng Anh thì việc mang theo chocolate là thứ không thể thiếu cho dân dịch chuyển. Chocolate càng đen càng tốt vì chứa nhiều năng lượng, cực kỳ hữu ích khi mình rơi vào tình trạng mệt, đói hoặc đang ở vùng khó tìm kiếm đồ ăn... Còn quần áo ư? Người lữ hành luôn chọn mang theo những đồ cũ để phù hợp với yêu cầu cần loại bỏ bớt hành lý trên từng chặng đường đi...
Cô gái trẻ ấy lựa chọn dịch chuyển trong dịp Tết không phải là bởi cô không coi trọng sự sum họp, quần tụ gia đình, không thích ở nhà ăn Tết cổ truyền Việt Nam... “Mình đã đón Tết ở nhà từ bé đến lớn. Mình vẫn thích không khí Tết trong gia đình. Tuy nhiên, đây cũng là dịp nghỉ dài ngày và nếu may mắn rủ được “cạ”, đặt được vé máy bay giá rẻ thì đi có rất nhiều thú vị. Đi để được nhìn, được nghe những điều mới mẻ như một cách đánh dấu những bước ngoặt ý nghĩa trong thời khắc bước sang năm mới”...
Và kết quả, trong mỗi hành trình mùa xuân, cô đã trải qua những ngày tự lo lắng cho bản thân, học cách tôn trọng, hoà mình cùng với những người trong nhóm, học được cách trò chuyện với người xa lạ một cách cởi mở hơn... Đặc biệt, mỗi lần đặt chân đến một địa danh mới là lần cô được tiếp xúc với một vốn kiến thức mới với nhiều khác biệt.
Không sử dụng tư duy của những người thích “phượt” để “tráng men”, để lướt lướt qua qua về những vùng đất mà mình đến, cô luôn biết cách tận dụng những cơ hội để tìm tòi, quan sát rồi cảm cảm nhận, thâu tóm trong khuôn hình của máy ảnh, nạp vào kho tri thức của mình những gì thuộc đời sống, người dân, phong cảnh, văn hoá đặc trưng...
Ví như ở Thái, cô có được dấu ấn về niềm tin, sự thân thiện, chân thành; ở Lào là những gì kỳ quan và sự chất phác; ở Ấn Độ là những gì thuộc về quốc đạo, là chính trị sôi động, là tất thảy những ngạc nhiên, huyền bí; ở Sri Lanca là những con người cực kỳ dễ thương, nồng hậu và thiên nhiên thì bao la, phóng khoáng... Nhờ những dịch chuyển mà cô lớn lên, trưởng thành và vô cùng tự tin, “giàu có”.
Du lich,GO! - Theo Suckhoe, internet
Mùa xuân trên bản người đẹp
Trong một lần trảy hội xuân Yên Tử, chúng tôi được nghe một câu chuyện thú vị về ngôi làng người Dao Thanh Y dưới chân núi thiêng Yên Tử.
Ngôi làng còn lưu giữ nhiều nét đẹp về phong tục tập quán. Đặc biệt nơi đây là xứ sở của các cô gái mang vẻ đẹp trong sáng, nhẹ nhàng... như sương núi, hoa rừng. Tương truyền đó là hậu duệ của các cung nữ xưa kia theo Phật hoàng về Yên Tử. Tò mò vì sự tích này, chúng tôi lặn lội vào trong núi rừng Yên Tử đi tìm dấu tích của xứ sở này.
Chuyến đầu trên đường vào bản chúng tôi bất ngờ gặp mưa lớn ở xã Thượng Yên Công (TP Uông Bí). Anh Lý Đức Hải, Phó Chủ tịch UBND xã nhất quyết ngăn: Vào làng phải qua nhiều suối, ngầm, mưa to lũ đổ về rất nguy hiểm.
Tìm về câu chuyện và dấu vết bản người đẹp
Trên hành trình trở lại lần này, chúng tôi đi cùng “chuyên gia” Ngô Ngọc Ảnh, nguyên Trưởng phòng VHTT Uông Bí, hiện là cán bộ Ban quản lý di tích danh thắng Yên Tử, người đã nhiều năm nghiên cứu về các dân tộc người Dao vùng này. Ông kể: Tương truyền rằng Thượng hoàng Trần Nhân Tông cách đây trên 700 năm quyết định bỏ lại triều chính vào Yên Tử tu luyện.
< Ngôi đền “Năm Mẫu” dưới chân núi Yên Tử, tương truyền thờ năm mẫu (mẹ) có công với làng.
Không muốn vua cha vào Yên Tử, vua Anh Tông ngầm sai 300 cung tần mỹ nữ đến đây can ngăn, xin vua quay về. Tìm mọi cách không thể mời được vua về kinh, 300 cung tần mỹ nữ đã gieo mình xuống con suối của đại ngàn Yên Tử để tỏ lòng trung trinh. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đau xót cho lập đền cúng tế và đặt tên con suối này là suối Giải Oan. Hiện nay, suối Giải Oan nằm vắt ngang xã Thượng Yên Công, bốn mùa có làn nước trong vắt.
Lại nói tiếp chuyện trong số 300 cung tần, mỹ nữ trầm mình ở non thiêng Yên Tử thì có năm người được làng người dân tộc thiểu số Dao Thanh Y dưới chân núi Yên Tử cứu sống. Để cảm nghĩa cứu mạng, năm cung tần mỹ nữ này đã tình nguyện lấy năm chàng trai bản địa và những hậu duệ nơi này được thừa hưởng nhan sắc cũng như phong cách lịch lãm của các cung phi. Khi các bà qua đời, dân làng Thượng Yên Công đã lập đền thờ Năm Mẫu để tưởng nhớ những nàng dâu vốn là cung tần mỹ nữ sắc nước hương trời.
Sau quãng đường khoảng 10km với nhiều suối, ngầm, chúng tôi đặt chân tới vùng đất trong câu chuyện, bản Khe Sú. Từ xa, bản Khe Sú dần hiện ra trong sương mờ, từng khoảng ruộng yên bình nằm lẫn trong màu xanh núi rừng. Bản kéo dài từ con suối Giải Oan chảy qua làng tới chân đại ngàn Yên Tử. Bản có khoảng 1.000 khẩu, 100% là người Dao Thanh Y.
Cụ Bàn Cương, trưởng bản, năm nay gần 90 tuổi kể: Bản có trên 300 hộ, chủ yếu là các dòng họ như: Lý, Trương, Bàn… Không rõ thực hư câu chuyện ra sao nhưng đã bao đời nay phụ nữ vùng này rất xinh đẹp, duyên dáng. Có lẽ do nơi đây nguồn nước, khí hậu trong lành, mát mẻ hội tụ ở vùng non thiêng nên con người sống vui vẻ khoẻ mạnh… Lại được thừa hưởng nét đẹp của tổ tiên, các cô gái người Dao ở đây sinh ra đều có nước da trắng sáng, vẻ mặt rạng rỡ. Thiếu nữ Dao nơi đây có dáng người cao, mảnh mai, thanh thoát, giọng nói dịu dàng thánh thót như chim rừng…
Trưởng bản chỉ về phía con suối chảy vắt qua làng, tiếp: Tích đó chúng tôi được các cụ truyền lại qua nhiều thế hệ. Xưa kia con suối Hổ Khê (sau là Giải Oan) vốn dài, rộng có thể dong thuyền rồng vào tận Yên Tử. Một ngày nọ, trai làng đã cứu 5 thiếu nữ, vốn là các cung nữ quyên sinh trên dòng Hổ Khê. Họ đã một lòng ở lại, kết duyên sinh con đẻ cháu, nuôi dạy con cháu nên người… Sau khi mất, dân làng lập đền thờ Năm Mẫu, đến nay vẫn còn miếu thờ ở xã Thượng Yên Công. Tên vùng đất Nam Mẫu nay cũng được cho là đọc chệch từ Năm Mẫu mà thành.
Đang trò chuyện ngoài sân, chúng tôi thoáng thấy một tốp thiếu nữ người Dao đi làm về, vừa đi, họ vừa vui vẻ trò chuyện bằng tiếng Dao. Các cô gái người Dao đều mang trang phục đỏ truyền thống, đầu đội mũ thêu đính bạc, cổ đeo xà tích, chuông bạc duyên dáng. Họ ghé thăm nhà trưởng bản. Cô gái đi đầu tên là Triệu Thị Thắm có khuôn mặt trái xoan, dáng người cao, khoẻ mạnh, giọng nhẹ nhàng, cười tươi chào chúng tôi bằng giọng lơ lớ tiếng Kinh.
Chị Lý Thị Hà dù đã gần 40 tuổi, ngày ngày vẫn vất vả với công việc đồng áng nhưng vẫn có nét đẹp, sự duyên dáng và nước da trắng, đặc trưng của các cô gái Dao vùng này. Chị nhiệt tình mời đoàn chúng tôi về thăm tổ ấm gia đình, thưởng thức chè, xem các thiếu nữ dệt lụa, may trang phục dân tộc… Trông họ ai cũng duyên dáng trong trang phục truyền thống.
Các cô gái Dao tuy không được học cao nhưng đều có cách cư xử nhẹ nhàng, lịch thiệp, khéo léo. Các cụ bà trong bản kể: Theo phong tục tập quán của người Dao vùng này, từ xa xưa cách giáo dục con cháu, đặc biệt là các cô gái Dao rất cẩn thận, thậm chí có phần nghiêm khắc. Người Dao dùng roi dâu để dạy con. Bởi theo họ quan niệm con hư là do bị ma quỷ ám chứ sinh ra vốn đã ngoan rồi. Khi lớn, các thiếu nữ được dạy bảo kỹ về cách ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng từ tốn, nhẹ nhàng…
Anh Lý Đức Hải cho biết: Không phải ngẫu nhiên mà đông đảo thanh niên thành phố, tỉnh ngoài, thậm chí đàn ông nước ngoài đua nhau tìm về làng hỏi vợ.
Nhiều cô gái trong bản cũng đã được đưa đi thi người đẹp và đoạt các giải cao, tiêu biểu như người đẹp Trương Thị Hậu, đoạt giải ba trong cuộc thi người đẹp các dân tộc vùng Đông Bắc…
Ngày mới trên bản người Dao
Em Triệu Thị Thắm tâm sự: Em không có điều kiện học tập nhiều. Học xong lớp 12, em trúng tuyển và được một đơn vị nhận đưa đi tu nghiệp và làm việc tại Nhật. Em mong muốn có điều kiện làm việc để gánh vác cùng bố mẹ cho các em đi học. Em cũng mong muốn được học thêm về văn hoá, du lịch để khi về quê nhà có thể giúp đỡ cha mẹ, bà con quê hương bớt nghèo, bớt khổ.
Cụ Bàn Cương cho biết: Dù đã bị mai một theo thời gian nhưng những nét đẹp, phong tục tập quán như: Lễ cấp sắc, phong tục lễ tết vẫn được người Dao lưu giữ cẩn thận. Tục ma chay, cưới hỏi thì được giản tiện cho phù hợp… Các cô gái Dao vẫn giữ được “nếp nhà”, những phẩm chất vốn có của người con gái Dao.
Anh Lý Đức Hải, Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Yên Công cho biết: Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống, văn hoá đồng bào dân tộc Dao đã đổi thay nhiều. Bản đã có đường đi lại dễ dàng, có nhà văn hoá, có trường học cho con em.
Nhiều mô hình kinh tế, cây, con giống năng suất cao đã góp phần cải thiện cơ bản đời sống của bà con. Hiện chúng tôi nỗ lực cùng bà con nghiên cứu để lưu giữ, phát huy những nét đẹp truyền thống của người Dao.
Trên vùng đất yên bình dưới chân núi thiêng Yên Tử, một mùa xuân nữa lại đến với bản Khe Sú. Cụ Bàn Cương vui mừng chứng kiến một lớp trẻ của bản người Dao dần lớn khôn, đang nỗ lực xây dựng quê hương, phát huy những nét đẹp bản sắc truyền thống của dân tộc.
Du lịch, GO! - Theo Hà Phong (Quảng Ninh Online), internet
Ngôi làng còn lưu giữ nhiều nét đẹp về phong tục tập quán. Đặc biệt nơi đây là xứ sở của các cô gái mang vẻ đẹp trong sáng, nhẹ nhàng... như sương núi, hoa rừng. Tương truyền đó là hậu duệ của các cung nữ xưa kia theo Phật hoàng về Yên Tử. Tò mò vì sự tích này, chúng tôi lặn lội vào trong núi rừng Yên Tử đi tìm dấu tích của xứ sở này.
Chuyến đầu trên đường vào bản chúng tôi bất ngờ gặp mưa lớn ở xã Thượng Yên Công (TP Uông Bí). Anh Lý Đức Hải, Phó Chủ tịch UBND xã nhất quyết ngăn: Vào làng phải qua nhiều suối, ngầm, mưa to lũ đổ về rất nguy hiểm.
Tìm về câu chuyện và dấu vết bản người đẹp
Trên hành trình trở lại lần này, chúng tôi đi cùng “chuyên gia” Ngô Ngọc Ảnh, nguyên Trưởng phòng VHTT Uông Bí, hiện là cán bộ Ban quản lý di tích danh thắng Yên Tử, người đã nhiều năm nghiên cứu về các dân tộc người Dao vùng này. Ông kể: Tương truyền rằng Thượng hoàng Trần Nhân Tông cách đây trên 700 năm quyết định bỏ lại triều chính vào Yên Tử tu luyện.
< Ngôi đền “Năm Mẫu” dưới chân núi Yên Tử, tương truyền thờ năm mẫu (mẹ) có công với làng.
Không muốn vua cha vào Yên Tử, vua Anh Tông ngầm sai 300 cung tần mỹ nữ đến đây can ngăn, xin vua quay về. Tìm mọi cách không thể mời được vua về kinh, 300 cung tần mỹ nữ đã gieo mình xuống con suối của đại ngàn Yên Tử để tỏ lòng trung trinh. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đau xót cho lập đền cúng tế và đặt tên con suối này là suối Giải Oan. Hiện nay, suối Giải Oan nằm vắt ngang xã Thượng Yên Công, bốn mùa có làn nước trong vắt.
Lại nói tiếp chuyện trong số 300 cung tần, mỹ nữ trầm mình ở non thiêng Yên Tử thì có năm người được làng người dân tộc thiểu số Dao Thanh Y dưới chân núi Yên Tử cứu sống. Để cảm nghĩa cứu mạng, năm cung tần mỹ nữ này đã tình nguyện lấy năm chàng trai bản địa và những hậu duệ nơi này được thừa hưởng nhan sắc cũng như phong cách lịch lãm của các cung phi. Khi các bà qua đời, dân làng Thượng Yên Công đã lập đền thờ Năm Mẫu để tưởng nhớ những nàng dâu vốn là cung tần mỹ nữ sắc nước hương trời.
Sau quãng đường khoảng 10km với nhiều suối, ngầm, chúng tôi đặt chân tới vùng đất trong câu chuyện, bản Khe Sú. Từ xa, bản Khe Sú dần hiện ra trong sương mờ, từng khoảng ruộng yên bình nằm lẫn trong màu xanh núi rừng. Bản kéo dài từ con suối Giải Oan chảy qua làng tới chân đại ngàn Yên Tử. Bản có khoảng 1.000 khẩu, 100% là người Dao Thanh Y.
Cụ Bàn Cương, trưởng bản, năm nay gần 90 tuổi kể: Bản có trên 300 hộ, chủ yếu là các dòng họ như: Lý, Trương, Bàn… Không rõ thực hư câu chuyện ra sao nhưng đã bao đời nay phụ nữ vùng này rất xinh đẹp, duyên dáng. Có lẽ do nơi đây nguồn nước, khí hậu trong lành, mát mẻ hội tụ ở vùng non thiêng nên con người sống vui vẻ khoẻ mạnh… Lại được thừa hưởng nét đẹp của tổ tiên, các cô gái người Dao ở đây sinh ra đều có nước da trắng sáng, vẻ mặt rạng rỡ. Thiếu nữ Dao nơi đây có dáng người cao, mảnh mai, thanh thoát, giọng nói dịu dàng thánh thót như chim rừng…
Trưởng bản chỉ về phía con suối chảy vắt qua làng, tiếp: Tích đó chúng tôi được các cụ truyền lại qua nhiều thế hệ. Xưa kia con suối Hổ Khê (sau là Giải Oan) vốn dài, rộng có thể dong thuyền rồng vào tận Yên Tử. Một ngày nọ, trai làng đã cứu 5 thiếu nữ, vốn là các cung nữ quyên sinh trên dòng Hổ Khê. Họ đã một lòng ở lại, kết duyên sinh con đẻ cháu, nuôi dạy con cháu nên người… Sau khi mất, dân làng lập đền thờ Năm Mẫu, đến nay vẫn còn miếu thờ ở xã Thượng Yên Công. Tên vùng đất Nam Mẫu nay cũng được cho là đọc chệch từ Năm Mẫu mà thành.
Đang trò chuyện ngoài sân, chúng tôi thoáng thấy một tốp thiếu nữ người Dao đi làm về, vừa đi, họ vừa vui vẻ trò chuyện bằng tiếng Dao. Các cô gái người Dao đều mang trang phục đỏ truyền thống, đầu đội mũ thêu đính bạc, cổ đeo xà tích, chuông bạc duyên dáng. Họ ghé thăm nhà trưởng bản. Cô gái đi đầu tên là Triệu Thị Thắm có khuôn mặt trái xoan, dáng người cao, khoẻ mạnh, giọng nhẹ nhàng, cười tươi chào chúng tôi bằng giọng lơ lớ tiếng Kinh.
Chị Lý Thị Hà dù đã gần 40 tuổi, ngày ngày vẫn vất vả với công việc đồng áng nhưng vẫn có nét đẹp, sự duyên dáng và nước da trắng, đặc trưng của các cô gái Dao vùng này. Chị nhiệt tình mời đoàn chúng tôi về thăm tổ ấm gia đình, thưởng thức chè, xem các thiếu nữ dệt lụa, may trang phục dân tộc… Trông họ ai cũng duyên dáng trong trang phục truyền thống.
Các cô gái Dao tuy không được học cao nhưng đều có cách cư xử nhẹ nhàng, lịch thiệp, khéo léo. Các cụ bà trong bản kể: Theo phong tục tập quán của người Dao vùng này, từ xa xưa cách giáo dục con cháu, đặc biệt là các cô gái Dao rất cẩn thận, thậm chí có phần nghiêm khắc. Người Dao dùng roi dâu để dạy con. Bởi theo họ quan niệm con hư là do bị ma quỷ ám chứ sinh ra vốn đã ngoan rồi. Khi lớn, các thiếu nữ được dạy bảo kỹ về cách ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng từ tốn, nhẹ nhàng…
Anh Lý Đức Hải cho biết: Không phải ngẫu nhiên mà đông đảo thanh niên thành phố, tỉnh ngoài, thậm chí đàn ông nước ngoài đua nhau tìm về làng hỏi vợ.
Nhiều cô gái trong bản cũng đã được đưa đi thi người đẹp và đoạt các giải cao, tiêu biểu như người đẹp Trương Thị Hậu, đoạt giải ba trong cuộc thi người đẹp các dân tộc vùng Đông Bắc…
Ngày mới trên bản người Dao
Em Triệu Thị Thắm tâm sự: Em không có điều kiện học tập nhiều. Học xong lớp 12, em trúng tuyển và được một đơn vị nhận đưa đi tu nghiệp và làm việc tại Nhật. Em mong muốn có điều kiện làm việc để gánh vác cùng bố mẹ cho các em đi học. Em cũng mong muốn được học thêm về văn hoá, du lịch để khi về quê nhà có thể giúp đỡ cha mẹ, bà con quê hương bớt nghèo, bớt khổ.
Cụ Bàn Cương cho biết: Dù đã bị mai một theo thời gian nhưng những nét đẹp, phong tục tập quán như: Lễ cấp sắc, phong tục lễ tết vẫn được người Dao lưu giữ cẩn thận. Tục ma chay, cưới hỏi thì được giản tiện cho phù hợp… Các cô gái Dao vẫn giữ được “nếp nhà”, những phẩm chất vốn có của người con gái Dao.
Anh Lý Đức Hải, Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Yên Công cho biết: Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống, văn hoá đồng bào dân tộc Dao đã đổi thay nhiều. Bản đã có đường đi lại dễ dàng, có nhà văn hoá, có trường học cho con em.
Nhiều mô hình kinh tế, cây, con giống năng suất cao đã góp phần cải thiện cơ bản đời sống của bà con. Hiện chúng tôi nỗ lực cùng bà con nghiên cứu để lưu giữ, phát huy những nét đẹp truyền thống của người Dao.
Trên vùng đất yên bình dưới chân núi thiêng Yên Tử, một mùa xuân nữa lại đến với bản Khe Sú. Cụ Bàn Cương vui mừng chứng kiến một lớp trẻ của bản người Dao dần lớn khôn, đang nỗ lực xây dựng quê hương, phát huy những nét đẹp bản sắc truyền thống của dân tộc.
Du lịch, GO! - Theo Hà Phong (Quảng Ninh Online), internet
“Cháo thuốc độc” ấm đêm cao nguyên đá
Chưa ăn “cháo thuốc độc" coi như chưa biết Hà Giang. Ừ, thì có là thuốc độc đi nữa cũng ăn cho biết bởi chắc là… không chết, nếu chết hẳn bạn đã không giới thiệu!
Đêm Hà Giang bao giờ cũng mang lại cảm giác rét hơn cái rét thực tế. Có lẽ là ám ảnh từ vẻ mênh mang xám lạnh tỏa ra từ cao nguyên đá. Nhưng hình như ở những miền đất càng khắc nghiệt, thượng đế luôn bù đắp lại bằng những điều độc đáo riêng có.
Từ thuốc độc thành món ăn
Hà Giang hấp dẫn du khách bởi hoa đào hoa, mận tháng giêng, ruộng bậc thang sắc lúa chín vàng ngợp tháng mười, mùa tam giác mạch hồng tím miên man vào độ tháng 11, hoa cải dầu vàng rực tầm tháng 12…
< Bát cháo ấu tẩu thơm lừng.
Còn gì thú vị hơn khi trên dặm đường rong ruổi ấy, một sáng chủ nhật vào phiên chợ, dừng chân trên khoảng đất phẳng vây quanh là lởm chởm đá tai mèo, làm một bát thắng cố, chiêu vài chén rượu ngô mà nghe trời đất trên cao nguyên đá chợt nhẹ bổng như tiếng khèn môi sau bờ rào đá...
Nếm trải cũng gần hết hương sắc mùi vị Hà Giang rồi, ấy vậy mà chuyến trở lại Hà Giang cuối năm 2011, chúng tôi vẫn bất ngờ khi một người bạn Hà Giang bảo: Đã ăn “cháo thuốc độc” chưa? Chưa ăn “cháo thuốc độc” coi như chưa biết Hà Giang. Ừ, thì có là thuốc độc đi nữa cũng ăn cho biết bởi chắc là… không chết, nếu chết hẳn bạn đã không giới thiệu!
< Đông vui khách ăn đêm.
Mười giờ đêm, sau cuộc rượu ngô men lá chuếnh choáng khuya ở thành phố sơn cước vị lạnh tháng mười cứ ngấm dai dẳng, nhưng rồi cả châu thân như tỉnh hẳn ra khi chợt gặp mùi thơm quyến rũ bốc lên lúc xe dừng trước hàng cháo với ánh đèn soi sáng mờ mờ dòng chữ “Hương - cháo ấu tẩu”. À, “cháo thuốc độc” hẳn là món cháo ấu tẩu này đây!
Thật khó tả lại cái cảm giác về bát cháo ấu tẩu mà chúng tôi đã ăn đêm ấy và chúng tôi đã trở lại tìm chị Hương, chủ quán, vào chiều hôm sau, ngay khi chị vừa chuẩn bị các công đoạn cho những nồi cháo phục vụ khách ăn khuya.
Khi chúng tôi bày tỏ mong muốn được tìm hiểu, viết bài, làm phim giới thiệu về món ăn “độc" này, chị Nguyễn Thị Hương - chủ quán "Hương - cháo ấu tẩu” ở 171 Trần Hưng Đạo, TP Hà Giang, một trong số ít quán cháo ấu tẩu ở TP Hà Giang - rụt rè, ngại ngùng “quán cháo bình thường có gì mà viết, mà quay. Mình không nói đâu, các anh quay, chụp thì cứ thoải mái”. Nhưng trước sự nhiệt tình của khách, cuối cùng chị chủ quán người Tày này cũng đồng ý giới thiệu về món ăn mà nếu “chế biến không đúng cách, người dùng sẽ bị ngộ độc, cứng hàm, co rút tứ chi và nếu không cứu chữa kịp thời, không biết cách cứu thì chỉ có đi gặp… ông bà ông vải”.
< Chị Hương bên nồi cháo ấu tẩu.
Theo chị Hương, nguyên liệu chính để làm ra món cháo là từ củ ấu tẩu, một loại củ cứng như đá tai mèo, xù xì, gai góc chỉ mọc trên đỉnh Tây Côn Lĩnh được người Mông, người Dao lấy về ngâm rượu, xoa bóp tay chân, lưng, vai và các vết thương kín khi đau nhức. Vậy nhưng với tài năng chế biến của người dân tộc dưới chân Tây Côn Lĩnh, củ độc đã được “giải độc” để biến thành món cháo giải cảm hữu hiệu, thành món ăn bổ xương cốt khiến người dưới đồng bằng săn lùng để rồi có những quán cháo như chị Hương.
Với kinh nghiệm, tài chế biến của chị chủ quán người Tày, quán cháo nhỏ này dù chẳng quảng cáo nhưng suốt hơn chục năm qua vẫn sáng đèn mỗi tối đến nửa đêm, khách vào ra nườm nượp.
Một người ăn, hai người vui?
Bí quyết ư? Chị Hương chỉ cười lắc đầu: “Chẳng có bí quyết gì đâu, vốn dĩ cái tên cháo ấu tẩu cũng đủ hút khách rồi”. Chị chủ quán cho biết để được bát cháo ấu tẩu sền sệt màu xám, bốc hơi nghi ngút thơm lừng, vị ngai ngái, bùi bùi chợt đăng đắng đầu lưỡi rồi ngọt lịm nơi cuống họng thì cần chế biến cực kỳ công phu, thời gian chuẩn bị và kéo dài suốt một ngày trời.
Đầu tiên, củ ấu tẩu được rửa sạch rồi ngâm với nước vo gạo đặc từ sáng sớm cho đến trưa. Sau tối thiểu 4-5 giờ ngâm, cú ấu tẩu được vớt ra rửa sạch và cho vào nồi ninh từ trưa đến 3 – 4 giờ chiều, khi củ bở lại vớt ra để ráo nước rồi cho vào giã nhỏ, tơi nhuyễn. Trong khi ninh ấu tẩu thì một nồi khác cũng được nổi lửa để ninh chân giò và cháo. Khi củ ấu tẩu ninh nhừ được vớt ra thì nồi nước ninh ấu tẩu đỏ nhừ đó được đổ lẫn vào nồi ninh với cháo, chân giò. Củ ấu tẩu giã nhỏ nhuyễn xong được đổ vào khuấy đều với nồi cháo và tiếp tục ninh với ngọn lửa liu riu đến khi phục vụ khách ăn. Để có bát cháo ấu tẩu chất lượng thì không thể thiếu chân giò heo, thịt nạc băm cùng gia vị ớt tiêu, hành và đặc biệt là lá tía tô. Cũng có khi người ăn yêu cầu đập thêm một quả trứng gà tươi vào bát cháo.
Bát cháo bê lên cho khách sẽ có sắc nâu đậm của củ ấu tẩu, có bị bùi, béo của xương - thịt heo và thơm đặc biệt của gạo nương. Vì là vị thuốc nên đặc trưng của cháo ấu tẩu là vị đắng như tam thất. Tuy nhiên, cái đắng của ấu tẩu quyện với cái ngọt của nước xương ninh và thơm ngậy của trứng đọng lại thành hương thơm, vị ngọt ngào trong cổ, tạo cảm giác lạ miệng và hấp dẫn.
Vì ấu tẩu là dạng củ, để khô giữ được lâu nên cháo ấu tẩu có cả bốn mùa, nhưng nếu là khách lần đầu đến Hà Giang thì ban ngày sẽ không thể tìm đâu ra cháo để thưởng thức. Món ăn này khi thưởng thức xong cần phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng nên hầu hết các quán chỉ mở cửa từ sẩm tối cho đến 12 giờ đêm. Với nhiều người dân ở thị xã vùng cao này, cháo ấu tẩu là món ăn đêm thường nhật.
Là món độc đáo nên trong sử dụng, chị chủ quán người Tày cũng thật thà khuyến cáo: Cháo ấu tẩu chỉ tốt nhất cho người trưởng thành. Dưới 18 tuổi, đặc biệt là trẻ em thì không nên lạm dụng, ăn nhiều quá vì “ăn nhiều trẻ dễ bị giòn xương"(?)
< Củ ấu tẩu khô.
Riêng khách sành ăn còn nói rằng ấu tẩu là một món ăn thuộc nhóm “ông ăn bà khen” - một người khỏe, hai người vui, thực hư thế nào thì không dám nói, tốt nhất bạn cứ thử lên Hà Giang, với một đêm khuya thức cùng bát cháo thuốc độc này và chút rượu ngô men lá rồi kiểm chứng xem nhé! Nếu quả vậy thì ấu tẩu không phải là độc dược nữa mà thật sự là hàng độc!
Hàng độc bảng... A
Ấu tẩu là một dược liệu thuộc bảng độc... A. Củ ấu tẩu có dược danh là ô đầu, tên khoa học là Aconitum sinense paxt, hình dạng cũng tương tự củ ấu. nhiều dân tộc các nước xưa và nay dùng ô đầu tẩm độc săn bắn súc vật (kể cả voi). Độc là do chất aconitin của nó, uống 1 – 1,5 mg có thể chết người. Củ ấu tẩu nếu để tươi, nhai sống thì... vô phương cứu chữa.
Du lịch, GO! - Theo Lê Đức Dục – Đức Bình (TTO), internet
Đêm Hà Giang bao giờ cũng mang lại cảm giác rét hơn cái rét thực tế. Có lẽ là ám ảnh từ vẻ mênh mang xám lạnh tỏa ra từ cao nguyên đá. Nhưng hình như ở những miền đất càng khắc nghiệt, thượng đế luôn bù đắp lại bằng những điều độc đáo riêng có.
Từ thuốc độc thành món ăn
Hà Giang hấp dẫn du khách bởi hoa đào hoa, mận tháng giêng, ruộng bậc thang sắc lúa chín vàng ngợp tháng mười, mùa tam giác mạch hồng tím miên man vào độ tháng 11, hoa cải dầu vàng rực tầm tháng 12…
< Bát cháo ấu tẩu thơm lừng.
Còn gì thú vị hơn khi trên dặm đường rong ruổi ấy, một sáng chủ nhật vào phiên chợ, dừng chân trên khoảng đất phẳng vây quanh là lởm chởm đá tai mèo, làm một bát thắng cố, chiêu vài chén rượu ngô mà nghe trời đất trên cao nguyên đá chợt nhẹ bổng như tiếng khèn môi sau bờ rào đá...
Nếm trải cũng gần hết hương sắc mùi vị Hà Giang rồi, ấy vậy mà chuyến trở lại Hà Giang cuối năm 2011, chúng tôi vẫn bất ngờ khi một người bạn Hà Giang bảo: Đã ăn “cháo thuốc độc” chưa? Chưa ăn “cháo thuốc độc” coi như chưa biết Hà Giang. Ừ, thì có là thuốc độc đi nữa cũng ăn cho biết bởi chắc là… không chết, nếu chết hẳn bạn đã không giới thiệu!
< Đông vui khách ăn đêm.
Mười giờ đêm, sau cuộc rượu ngô men lá chuếnh choáng khuya ở thành phố sơn cước vị lạnh tháng mười cứ ngấm dai dẳng, nhưng rồi cả châu thân như tỉnh hẳn ra khi chợt gặp mùi thơm quyến rũ bốc lên lúc xe dừng trước hàng cháo với ánh đèn soi sáng mờ mờ dòng chữ “Hương - cháo ấu tẩu”. À, “cháo thuốc độc” hẳn là món cháo ấu tẩu này đây!
Thật khó tả lại cái cảm giác về bát cháo ấu tẩu mà chúng tôi đã ăn đêm ấy và chúng tôi đã trở lại tìm chị Hương, chủ quán, vào chiều hôm sau, ngay khi chị vừa chuẩn bị các công đoạn cho những nồi cháo phục vụ khách ăn khuya.
Khi chúng tôi bày tỏ mong muốn được tìm hiểu, viết bài, làm phim giới thiệu về món ăn “độc" này, chị Nguyễn Thị Hương - chủ quán "Hương - cháo ấu tẩu” ở 171 Trần Hưng Đạo, TP Hà Giang, một trong số ít quán cháo ấu tẩu ở TP Hà Giang - rụt rè, ngại ngùng “quán cháo bình thường có gì mà viết, mà quay. Mình không nói đâu, các anh quay, chụp thì cứ thoải mái”. Nhưng trước sự nhiệt tình của khách, cuối cùng chị chủ quán người Tày này cũng đồng ý giới thiệu về món ăn mà nếu “chế biến không đúng cách, người dùng sẽ bị ngộ độc, cứng hàm, co rút tứ chi và nếu không cứu chữa kịp thời, không biết cách cứu thì chỉ có đi gặp… ông bà ông vải”.
< Chị Hương bên nồi cháo ấu tẩu.
Theo chị Hương, nguyên liệu chính để làm ra món cháo là từ củ ấu tẩu, một loại củ cứng như đá tai mèo, xù xì, gai góc chỉ mọc trên đỉnh Tây Côn Lĩnh được người Mông, người Dao lấy về ngâm rượu, xoa bóp tay chân, lưng, vai và các vết thương kín khi đau nhức. Vậy nhưng với tài năng chế biến của người dân tộc dưới chân Tây Côn Lĩnh, củ độc đã được “giải độc” để biến thành món cháo giải cảm hữu hiệu, thành món ăn bổ xương cốt khiến người dưới đồng bằng săn lùng để rồi có những quán cháo như chị Hương.
Với kinh nghiệm, tài chế biến của chị chủ quán người Tày, quán cháo nhỏ này dù chẳng quảng cáo nhưng suốt hơn chục năm qua vẫn sáng đèn mỗi tối đến nửa đêm, khách vào ra nườm nượp.
Một người ăn, hai người vui?
Bí quyết ư? Chị Hương chỉ cười lắc đầu: “Chẳng có bí quyết gì đâu, vốn dĩ cái tên cháo ấu tẩu cũng đủ hút khách rồi”. Chị chủ quán cho biết để được bát cháo ấu tẩu sền sệt màu xám, bốc hơi nghi ngút thơm lừng, vị ngai ngái, bùi bùi chợt đăng đắng đầu lưỡi rồi ngọt lịm nơi cuống họng thì cần chế biến cực kỳ công phu, thời gian chuẩn bị và kéo dài suốt một ngày trời.
Đầu tiên, củ ấu tẩu được rửa sạch rồi ngâm với nước vo gạo đặc từ sáng sớm cho đến trưa. Sau tối thiểu 4-5 giờ ngâm, cú ấu tẩu được vớt ra rửa sạch và cho vào nồi ninh từ trưa đến 3 – 4 giờ chiều, khi củ bở lại vớt ra để ráo nước rồi cho vào giã nhỏ, tơi nhuyễn. Trong khi ninh ấu tẩu thì một nồi khác cũng được nổi lửa để ninh chân giò và cháo. Khi củ ấu tẩu ninh nhừ được vớt ra thì nồi nước ninh ấu tẩu đỏ nhừ đó được đổ lẫn vào nồi ninh với cháo, chân giò. Củ ấu tẩu giã nhỏ nhuyễn xong được đổ vào khuấy đều với nồi cháo và tiếp tục ninh với ngọn lửa liu riu đến khi phục vụ khách ăn. Để có bát cháo ấu tẩu chất lượng thì không thể thiếu chân giò heo, thịt nạc băm cùng gia vị ớt tiêu, hành và đặc biệt là lá tía tô. Cũng có khi người ăn yêu cầu đập thêm một quả trứng gà tươi vào bát cháo.
Bát cháo bê lên cho khách sẽ có sắc nâu đậm của củ ấu tẩu, có bị bùi, béo của xương - thịt heo và thơm đặc biệt của gạo nương. Vì là vị thuốc nên đặc trưng của cháo ấu tẩu là vị đắng như tam thất. Tuy nhiên, cái đắng của ấu tẩu quyện với cái ngọt của nước xương ninh và thơm ngậy của trứng đọng lại thành hương thơm, vị ngọt ngào trong cổ, tạo cảm giác lạ miệng và hấp dẫn.
Vì ấu tẩu là dạng củ, để khô giữ được lâu nên cháo ấu tẩu có cả bốn mùa, nhưng nếu là khách lần đầu đến Hà Giang thì ban ngày sẽ không thể tìm đâu ra cháo để thưởng thức. Món ăn này khi thưởng thức xong cần phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng nên hầu hết các quán chỉ mở cửa từ sẩm tối cho đến 12 giờ đêm. Với nhiều người dân ở thị xã vùng cao này, cháo ấu tẩu là món ăn đêm thường nhật.
Là món độc đáo nên trong sử dụng, chị chủ quán người Tày cũng thật thà khuyến cáo: Cháo ấu tẩu chỉ tốt nhất cho người trưởng thành. Dưới 18 tuổi, đặc biệt là trẻ em thì không nên lạm dụng, ăn nhiều quá vì “ăn nhiều trẻ dễ bị giòn xương"(?)
< Củ ấu tẩu khô.
Riêng khách sành ăn còn nói rằng ấu tẩu là một món ăn thuộc nhóm “ông ăn bà khen” - một người khỏe, hai người vui, thực hư thế nào thì không dám nói, tốt nhất bạn cứ thử lên Hà Giang, với một đêm khuya thức cùng bát cháo thuốc độc này và chút rượu ngô men lá rồi kiểm chứng xem nhé! Nếu quả vậy thì ấu tẩu không phải là độc dược nữa mà thật sự là hàng độc!
Hàng độc bảng... A
Ấu tẩu là một dược liệu thuộc bảng độc... A. Củ ấu tẩu có dược danh là ô đầu, tên khoa học là Aconitum sinense paxt, hình dạng cũng tương tự củ ấu. nhiều dân tộc các nước xưa và nay dùng ô đầu tẩm độc săn bắn súc vật (kể cả voi). Độc là do chất aconitin của nó, uống 1 – 1,5 mg có thể chết người. Củ ấu tẩu nếu để tươi, nhai sống thì... vô phương cứu chữa.
Du lịch, GO! - Theo Lê Đức Dục – Đức Bình (TTO), internet
Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012
Đội mưa đi chợ Viềng đầu năm
Không ngại gió rét, đêm qua hàng vạn người đội mưa nườm nướp kéo về chợ Viềng (Nam Định) mua hàng cầu may.
< Bắt chấp gió lạnh, hàng vạn người vẫn đội mưa đi chợ Viềng trong đêm.
Du khách đến đây đơn giản chỉ để mua cái cuốc, con dao hay cân thịt bò… để hi vọng trong năm gặp nhiều điều may mắn.
Khoảng 19h chiều qua, đường Trần Huy Liệu - tuyến đường chính dẫn vào chợ Viềng (Vụ Bản) đông nghẹt người đổ về. Mặc dù chợ Viềng buôn bán chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp như cày, cuốc, giống cây… nhưng từng tốp ô tô con đeo biển kiểm soát Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình… xếp thành hàng dài nối đuôi nhau tiến vào chợ.
< Hoa và cây cảnh luôn thu hút rất đông người đến "hỏi thăm".
“Đi chợ Viềng như một thú vui, không kể người làm nông nghiệp, công nhân, viên chức từ khắp nơi trong cả nước đều đổ về đây mua hàng – mua điều may mắn đầu năm.
< Nhiều bạn trẻ cũng mò mẫm đi chợ Viềng "rinh" về nhà cây cảnh.
< Cây sung, sanh, tùng và lộc vừng được bày bán rất nhiều tại chợ.
Người làm nông nghiệp chọn cái cày, cái cuốc, hạt giống; còn người thành phố thì mua hoa, cây cảnh.
< Đêm khuya hoa vẫn rực rỡ khoe sắc tại chợ Viềng.
< Du khách tò mò trước cây mít lạ (gốc bé bằng cổ tay đã ra 2 quả).
< Trước khi rước cây may mắn về nhà trồng nhiều người kiểm tra chất lượng từ gốc đến ngọn rất kỹ.
Tựu chung lại là cả người mua lẫn người bán đều cầu may nắm cho cả năm”, ông Nguyễn Văn Vinh người thành phố Nam Định cho biết.
< Nhiều khu vực không có điện, chủ gian hàng bật đèn pin tù mù giới thiệu cây cho khách.
Gió rét quyện với mưa phùn càng làm cho chuyến đi chợ Viềng của du khách thêm nhiều ý nghĩa khi chọn được món hàng ưng ý.
< Đi chợ Viềng, nhiều người tranh thủ mua nông cụ.
< Chợ Viềng không thiếu nông cụ phục vụ người làm nông nghiệp.
< Tiền "may mắn" được rao bán khắp chợ.
< Một vài món "cổ vật" được bày bán, người khác tò mò tìm hiểu giá trị sử dụng của cổ vật.
Trong ánh sáng tù mù, không khí trong chợ không kém phần tấp nập từ cảnh mua bán đến những trò chơi trong đêm.
< Nhiều người đến chợ mua về nhà miếng thịt bò tươi cũng để hi vọng có được điều may mắn trong năm mới.
< "Chiến lợi phẩm" thu được sau khi đội mưa, gió ở chợ Viềng.
< Nhiều trò chơi mang tính chất ăn thua vẫn tồn tại ở chợ Viềng.
Điều đặc biệt là trong chợ Viềng người mua, kẻ bán đều rất thoáng vì lý do bán được cũng may và mua được cũng may.
Gần 24h đêm, lượng người đổ về chợ Viềng càng đông khiến cho tuyến đường Trần Huy Liệu chật cứng cả hai chiều ra và vào chợ. Nhiều người phải chôn chân dưới trời mưa hàng giờ mới vào được chợ.
Du lịch, GO! - Theo Quang Phong, Dantri
< Bắt chấp gió lạnh, hàng vạn người vẫn đội mưa đi chợ Viềng trong đêm.
Du khách đến đây đơn giản chỉ để mua cái cuốc, con dao hay cân thịt bò… để hi vọng trong năm gặp nhiều điều may mắn.
Khoảng 19h chiều qua, đường Trần Huy Liệu - tuyến đường chính dẫn vào chợ Viềng (Vụ Bản) đông nghẹt người đổ về. Mặc dù chợ Viềng buôn bán chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp như cày, cuốc, giống cây… nhưng từng tốp ô tô con đeo biển kiểm soát Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình… xếp thành hàng dài nối đuôi nhau tiến vào chợ.
< Hoa và cây cảnh luôn thu hút rất đông người đến "hỏi thăm".
“Đi chợ Viềng như một thú vui, không kể người làm nông nghiệp, công nhân, viên chức từ khắp nơi trong cả nước đều đổ về đây mua hàng – mua điều may mắn đầu năm.
< Nhiều bạn trẻ cũng mò mẫm đi chợ Viềng "rinh" về nhà cây cảnh.
< Cây sung, sanh, tùng và lộc vừng được bày bán rất nhiều tại chợ.
Người làm nông nghiệp chọn cái cày, cái cuốc, hạt giống; còn người thành phố thì mua hoa, cây cảnh.
< Đêm khuya hoa vẫn rực rỡ khoe sắc tại chợ Viềng.
< Du khách tò mò trước cây mít lạ (gốc bé bằng cổ tay đã ra 2 quả).
< Trước khi rước cây may mắn về nhà trồng nhiều người kiểm tra chất lượng từ gốc đến ngọn rất kỹ.
Tựu chung lại là cả người mua lẫn người bán đều cầu may nắm cho cả năm”, ông Nguyễn Văn Vinh người thành phố Nam Định cho biết.
< Nhiều khu vực không có điện, chủ gian hàng bật đèn pin tù mù giới thiệu cây cho khách.
Gió rét quyện với mưa phùn càng làm cho chuyến đi chợ Viềng của du khách thêm nhiều ý nghĩa khi chọn được món hàng ưng ý.
< Đi chợ Viềng, nhiều người tranh thủ mua nông cụ.
< Chợ Viềng không thiếu nông cụ phục vụ người làm nông nghiệp.
< Tiền "may mắn" được rao bán khắp chợ.
< Một vài món "cổ vật" được bày bán, người khác tò mò tìm hiểu giá trị sử dụng của cổ vật.
Trong ánh sáng tù mù, không khí trong chợ không kém phần tấp nập từ cảnh mua bán đến những trò chơi trong đêm.
< Nhiều người đến chợ mua về nhà miếng thịt bò tươi cũng để hi vọng có được điều may mắn trong năm mới.
< "Chiến lợi phẩm" thu được sau khi đội mưa, gió ở chợ Viềng.
< Nhiều trò chơi mang tính chất ăn thua vẫn tồn tại ở chợ Viềng.
Điều đặc biệt là trong chợ Viềng người mua, kẻ bán đều rất thoáng vì lý do bán được cũng may và mua được cũng may.
Gần 24h đêm, lượng người đổ về chợ Viềng càng đông khiến cho tuyến đường Trần Huy Liệu chật cứng cả hai chiều ra và vào chợ. Nhiều người phải chôn chân dưới trời mưa hàng giờ mới vào được chợ.
Du lịch, GO! - Theo Quang Phong, Dantri
Ký ức Tết Trường Sa
Trong hành trình làm báo của mình, tôi đi công tác Trường Sa nhiều lần. Và cũng tại nơi ấy, tôi có những trải nghiệm Tết mà có lẽ chẳng nơi đâu có được.
Đón Giao thừa với giá xào… dầu
Năm 2000, tôi cùng anh em bộ đội Hải quân tàu HQ-996 chuyển hàng Tết ra Trường Sa. Gió chướng cuối năm thổi ràn rạt. Tôi và anh Trần Văn Lương, Thuyền phó chính trị Tàu HQ-996 đang ngồi uống nước trên boong, bỗng nhiên bộ ấm chén chao đi rồi nhảy tót xuống sàn sắt, vỡ tan.
Anh Lương lầm bầm: “Lại mấy con sóng hỗn đây, lát nữa tàu lắc phải biết. May mà cơm nước đã xong, không thì lại khổ mấy anh nuôi”.
Gặp “sóng hỗn”, các anh nuôi rất vất vả. Trong ngăn bếp chật hẹp, tàu cứ nghiêng bên nọ, hất bên kia, thành thử anh nuôi luôn phải giữ thăng bằng cho... đồ ăn. Lắm lúc, phải nhấc bổng nồi canh lên kẻo sóng tát hết nước ra ngoài. Trông các anh nuôi lúc ấy chẳng khác gì diễn viên xiếc.
Sau hai đêm một ngày hành xác, uống hết nửa lít rượu để... chống say sóng, chúng tôi cũng đến được đảo Song Tử Tây. Sóng to, gió lớn, vào được đảo không phải chuyện đùa. Với chúng tôi, những người cũng đã được rèn luyện chút ít ở đơn vị trước khi đi làm báo thì không nói làm gì, còn với các anh nhà báo ngoài quân đội thì quả là nỗi khiếp sợ thực sự.
Chuẩn bị xuống xuồng chuyển tải, các nhà báo vai đeo ba lô, ngực mang máy ảnh, lủng lẳng đồ nghề, chầu chực ở hành lang với khuôn mặt nhợt nhạt vì say sóng nhưng hào hứng vô cùng. Từng người một, cả bốn chân tay túm chặt vào lan can tàu, lủng lẳng như một quả đu đủ treo trên cao, chờ cho con sóng dềnh lên thì nhảy vào lòng xuồng.
Khối anh chậm chân, nên khi xuồng đã tụt xuống rồi thì “quả đu đủ” mới... rụng xuống, đầu va vào thành xuồng đánh cốp, mặt mũi nhăn nhó, nhưng miệng lại hềnh hệch cười “không sao, không sao”.
Lên Song Tử Tây, tôi may mắn làm sao khi gặp ngay được thằng bạn thân thời còn cơm nắm, nằm sương ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Thượng úy Nguyễn Duy An, Cụm phó cụm chiến đấu số 1. Tối ấy, An kéo tôi về cụm của nó “đón giao thừa trước”. Nó lôi trong tủ súng ra mấy hộp thịt rồi gọi cậu liên lạc bảo “Đem đi xào giá!”.
Ái chà, ở đây mà cũng có giá (đỗ) cơ à? Thì ra lính ta cũng khôn thật. Sau gần một tháng gió chướng, bao nhiêu rau cỏ trong vườn chết sạch vì bụi muối bay vào, trên mâm cơm chỉ còn thịt hộp và cá khô. Xót ruột không chịu được.
Một hôm, có anh lính tình cờ đi khơi cống rãnh sau bếp phát hiện ngay ra mấy mầm đỗ xanh đang vươn lên trong lòng cống. Sau nhiều ngày “vỡ óc suy nghĩ, chúng tôi mới nghĩ ra cách ngâm giá đỗ bằng cát và bao tải, mặt mũi mới phởn phơ thế này. Chứ không thì thằng nào thằng ấy đều nhăn nhó, nhất là lúc đi từ... toa-lét ra” –An nói vậy khi trịnh trọng gắp một đũa giá xào thịt hộp bỏ vào bát tôi.
Vừa nhấm nháp chút giá xào của bạn mặt tôi đã nhăn tít. Trời ạ, nó vừa cay nồng, vừa... hôi rình, toàn mùi dầu hỏa. Tôi nói điều đó với An, nó còn lớn tiếng: “Bậy nào, rau sạch hoàn toàn đấy” và nó cũng thử một miếng rõ to. Quai hàm nó vừa cử động đến lượt thứ hai thì bỗng trợn mắt, lắc đầu: “Hỏng, hỏng. Mấy thằng này mắt mũi để đâu mà nhầm lẫn kiểu này”. Thì ra trong bếp có chai dầu hỏa để cạnh chai mỡ nước, lại chả có đèn đóm gì, nên cậu liên lạc trong phút lơ đễnh đã dốc tuột chai dầu hỏa vào chảo giá xào.
Không còn giá xào với thịt hộp, chỉ còn lại chai rượu trắng tôi thủ được từ trên tàu, chúng tôi “đón giao thừa trước” giữa Trường Sa bằng chén rượu suông nhắm với... những câu chuyện về đồng đội. Đúng 0 giờ, tôi và An đi ra mép biển thắp hương cho ba đồng đội đã hy sinh ở Trường Sa mà chưa đưa về đất liền được. 1 giờ sáng, chúng tôi cấp tốc ra tàu bởi lúc ấy sóng yên...
Tết trồng cây bằng… thó
Giờ đây, ra các đảo nổi ở Trường Sa, chỗ nào cũng thấy cây xanh ngút mắt. Để có được những hàng cây ấy cán bộ, chiến sĩ trên các đảo đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức. Tôi được nghe Thiếu tá Trần Văn Tài, Quyền cụm trưởng Cụm chiến đấu số 3 kể về việc phát động “Tết trồng cây” trên đảo Trường Sa Lớn với những chi tiết không thể quên khi tôi ra Trường Sa vào năm 2007.
“... Sáng mồng hai Tết chúng tôi đã phát động “Tết trồng cây”. Buổi sáng, cứ hai người được phát một chiếc thó mới tinh cộng với một chiếc búa. Chỉ tiêu đưa ra là mỗi người trồng một cây sống. Phần thưởng là 10 cân... rau xanh cho bộ phận nào trồng được nhiều cây sống nhất. Mấy anh lính trẻ vừa từ đất liền ra thay quân, tay cứ mân mê chiếc thó, mặt mũi ngẩn ngơ.
Trồng cây thì phải mang xẻng, cuốc ra chứ, ai lại mang cái thó sắt ngắn tũn ra, kiểu như trẻ con đi ngoáy dế thế này thì trồng cây sao được. Ngay sau lễ phát động, cánh lính trẻ đã quăng thó, bỏ búa, mỗi anh một cái xẻng hăng hái phóng ra bãi cát san hô phía sau cột mốc chủ quyền. Sức khỏe tốt, lưỡi xẻng sắc, vậy mà không sao ấn được xuống cát. Thì ra trên bề mặt đảo chỉ có lớp cát khoảng hai chục phân, còn bên dưới toàn đá san hô.
Bấy giờ, mấy chàng mới cuống cuồng đi tìm thó, tìm búa. Cái giống đá san hô ngấm nước biển lâu ngày dẻo như kẹo kéo, thành thử các chiến sĩ phải nậy từng tí một. Đến chiều, đầu những chiếc thó đã xòe ra như rau muống chẻ mà cái hố trồng cây vẫn nông choèn.
Thế nhưng đến ngày mồng 5 Tết, cụm của Tài đã đào được gần hai chục hố sâu lút đầu người. Bấy giờ cát, lá cây mới được cho vào hố ủ, chờ đến giữa xuân bắt đầu trồng cây.
Khi chúng tôi ra đảo, gần hai chục cây phong ba do Tài và các chiến sĩ trồng đã nhú những mầm xanh mướt. Tài lôi dưới gầm giường ra một ba lô nặng chịch khoe với tôi “của chìm” toàn những chiếc thó cũ chỉ còn ngắn cỡ ngón tay. Tài bảo: “Tôi sẽ đem về đất liền làm kỷ niệm...”.
Cho đến hè vừa rồi (2011), Tài (quê Bắc Giang) đưa vợ xuống Hà Nội chơi. Gặp chúng tôi, vợ cậu ta chưa hết xúc động “Cứ mỗi lần nhìn những chiếc thó cũ của anh Tài, em lại rưng rưng cảm phục ý chí của bộ đội Trường Sa. Cũng vì thế mà em yêu chồng hơn...”.
“Trưởng nhớ… u”
Đêm 30 Tết, trời trên đảo nhờ nhờ tối. Sóng biển vẫn ì oạp đập vào thềm san hô. Thiếu tá Phạm Văn Hiến, Đảo trưởng đảo Phan Vinh đi kiểm tra một vòng quanh đảo trước khi về sở chỉ huy chuẩn bị cho bộ đội đón giao thừa. Khi đến gần trạm canh gác phía Tây của đảo, anh bỗng nghe tiếng sụt sịt lẫn vào tiếng sóng biển.
Chẳng lẽ trời rét thế này mà bọn vích cũng mò vào đảo hay sao? Hướng tai ra phía biển, Hiến chẳng nghe thấy gì. Quay về phía vọng gác, tiếng sụt sịt có vẻ rõ hơn. Hiến tiến về phía vọng gác và thấy một chiến sĩ trẻ, vai mang súng, tay cầm thứ gì giống như một tấm ảnh.
Nhìn hình dáng, anh nhận ngay ra Trung sĩ Bùi Đình Trưởng, Khẩu đội trưởng pháo 23mm. Cậu này mới ra đảo nhận nhiệm vụ chưa được 1 tháng. Trưởng quê Nam Định, cao ráo, đẹp trai, nói năng khá trôi chảy, hình như đã có bạn gái ở quê, bởi lần nào tàu ra cũng thấy Trưởng nhận được một xấp thư, nét chữ mượt mà. Gia đình cậu ta bố mẹ còn khỏe. Trưởng là con út, trên còn có anh và chị gái.
Hiến gõ nhẹ vào vách vọng gác. Trung sĩ Trưởng giật mình, giấu ngay vật đang cầm trên tay vào ngực áo. Nhìn thấy đảo trưởng, anh chàng quệt ngang mắt rồi nức nở: “Anh ơi...ơ... i! Em nhớ... nhớ... u em quá”. Hiến nhẹ nhàng động viên: “Nào bình tĩnh đi, chiến sĩ Trường Sa phải cứng cáp như cây phong ba trên đảo. Ai lại như đào, như liễu thế kia. Ở nhà mà biết chuyện thì xấu hổ chết...”. “Dưng mà, dưng mà em nhớ...”. “Nhớ u chứ gì? Hoàn thành nhiệm vụ trên đảo, cậu sẽ tha hồ ở cạnh u. Chỉ sợ lúc ấy cậu lại nhớ chúng tớ ở đảo thì khó mà ra được...”.
Sáng mồng một Tết, Hiến đi kiểm tra các phân đội trước khi tổ chức chấm giải trang hoàng nơi đón Tết. Khi đến chỗ Trưởng nghỉ, Hiến phát hiện ra trong yếm ba lô của Trưởng có tấm hình một cô gái khá xinh. Anh chợt hiểu ra câu chuyện của Trưởng trong vọng gác tối qua.
Lúc ấy Trưởng cũng đi rửa mặt về, Hiến vờ như không biết hỏi nhỏ: “Trưởng này, sao u cậu... trẻ thế?”. “Dạ... dạ đấy là... là ảnh... u em hồi trẻ đấy ạ”. Biết là cậu chiến sĩ của mình nói dối, anh bèn bâng quơ: “Ừ, u... xinh thế nên nhớ là phải”. Nghe câu nói của đảo trưởng, mặt mũi Trưởng đỏ lựng...
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ trên đảo, ngày chuẩn bị theo tàu vào đất liền nhận nhiệm vụ mới, Trưởng mới khai thật với đảo trưởng Hiến: “Đêm giao thừa ấy, bất chợt bị anh bắt gặp nên em ngượng, đành nói dối là... nhớ u. Chuyện này, em xin anh đừng nói cho ai biết, kẻo em xấu hổ chết...”.
Giữ lời hứa với Trưởng, mãi sau này Hiến mới kể cho mình tôi nghe. Thế nhưng không hiểu tại sao, ngay sau khi Trưởng về đất liền thì anh em trong phân đội thuộc Lữ đoàn 146 đã gọi Trưởng bằng biệt danh “Trưởng nhớ u”. Đến bây giờ ở Lữ đoàn 146 vẫn còn cái biệt danh ấy...
Du lịch, GO! - Theo báo Suckhoe, internet
Đón Giao thừa với giá xào… dầu
Năm 2000, tôi cùng anh em bộ đội Hải quân tàu HQ-996 chuyển hàng Tết ra Trường Sa. Gió chướng cuối năm thổi ràn rạt. Tôi và anh Trần Văn Lương, Thuyền phó chính trị Tàu HQ-996 đang ngồi uống nước trên boong, bỗng nhiên bộ ấm chén chao đi rồi nhảy tót xuống sàn sắt, vỡ tan.
Anh Lương lầm bầm: “Lại mấy con sóng hỗn đây, lát nữa tàu lắc phải biết. May mà cơm nước đã xong, không thì lại khổ mấy anh nuôi”.
Gặp “sóng hỗn”, các anh nuôi rất vất vả. Trong ngăn bếp chật hẹp, tàu cứ nghiêng bên nọ, hất bên kia, thành thử anh nuôi luôn phải giữ thăng bằng cho... đồ ăn. Lắm lúc, phải nhấc bổng nồi canh lên kẻo sóng tát hết nước ra ngoài. Trông các anh nuôi lúc ấy chẳng khác gì diễn viên xiếc.
Sau hai đêm một ngày hành xác, uống hết nửa lít rượu để... chống say sóng, chúng tôi cũng đến được đảo Song Tử Tây. Sóng to, gió lớn, vào được đảo không phải chuyện đùa. Với chúng tôi, những người cũng đã được rèn luyện chút ít ở đơn vị trước khi đi làm báo thì không nói làm gì, còn với các anh nhà báo ngoài quân đội thì quả là nỗi khiếp sợ thực sự.
Chuẩn bị xuống xuồng chuyển tải, các nhà báo vai đeo ba lô, ngực mang máy ảnh, lủng lẳng đồ nghề, chầu chực ở hành lang với khuôn mặt nhợt nhạt vì say sóng nhưng hào hứng vô cùng. Từng người một, cả bốn chân tay túm chặt vào lan can tàu, lủng lẳng như một quả đu đủ treo trên cao, chờ cho con sóng dềnh lên thì nhảy vào lòng xuồng.
Khối anh chậm chân, nên khi xuồng đã tụt xuống rồi thì “quả đu đủ” mới... rụng xuống, đầu va vào thành xuồng đánh cốp, mặt mũi nhăn nhó, nhưng miệng lại hềnh hệch cười “không sao, không sao”.
Lên Song Tử Tây, tôi may mắn làm sao khi gặp ngay được thằng bạn thân thời còn cơm nắm, nằm sương ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Thượng úy Nguyễn Duy An, Cụm phó cụm chiến đấu số 1. Tối ấy, An kéo tôi về cụm của nó “đón giao thừa trước”. Nó lôi trong tủ súng ra mấy hộp thịt rồi gọi cậu liên lạc bảo “Đem đi xào giá!”.
Ái chà, ở đây mà cũng có giá (đỗ) cơ à? Thì ra lính ta cũng khôn thật. Sau gần một tháng gió chướng, bao nhiêu rau cỏ trong vườn chết sạch vì bụi muối bay vào, trên mâm cơm chỉ còn thịt hộp và cá khô. Xót ruột không chịu được.
Một hôm, có anh lính tình cờ đi khơi cống rãnh sau bếp phát hiện ngay ra mấy mầm đỗ xanh đang vươn lên trong lòng cống. Sau nhiều ngày “vỡ óc suy nghĩ, chúng tôi mới nghĩ ra cách ngâm giá đỗ bằng cát và bao tải, mặt mũi mới phởn phơ thế này. Chứ không thì thằng nào thằng ấy đều nhăn nhó, nhất là lúc đi từ... toa-lét ra” –An nói vậy khi trịnh trọng gắp một đũa giá xào thịt hộp bỏ vào bát tôi.
Vừa nhấm nháp chút giá xào của bạn mặt tôi đã nhăn tít. Trời ạ, nó vừa cay nồng, vừa... hôi rình, toàn mùi dầu hỏa. Tôi nói điều đó với An, nó còn lớn tiếng: “Bậy nào, rau sạch hoàn toàn đấy” và nó cũng thử một miếng rõ to. Quai hàm nó vừa cử động đến lượt thứ hai thì bỗng trợn mắt, lắc đầu: “Hỏng, hỏng. Mấy thằng này mắt mũi để đâu mà nhầm lẫn kiểu này”. Thì ra trong bếp có chai dầu hỏa để cạnh chai mỡ nước, lại chả có đèn đóm gì, nên cậu liên lạc trong phút lơ đễnh đã dốc tuột chai dầu hỏa vào chảo giá xào.
Không còn giá xào với thịt hộp, chỉ còn lại chai rượu trắng tôi thủ được từ trên tàu, chúng tôi “đón giao thừa trước” giữa Trường Sa bằng chén rượu suông nhắm với... những câu chuyện về đồng đội. Đúng 0 giờ, tôi và An đi ra mép biển thắp hương cho ba đồng đội đã hy sinh ở Trường Sa mà chưa đưa về đất liền được. 1 giờ sáng, chúng tôi cấp tốc ra tàu bởi lúc ấy sóng yên...
Tết trồng cây bằng… thó
Giờ đây, ra các đảo nổi ở Trường Sa, chỗ nào cũng thấy cây xanh ngút mắt. Để có được những hàng cây ấy cán bộ, chiến sĩ trên các đảo đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức. Tôi được nghe Thiếu tá Trần Văn Tài, Quyền cụm trưởng Cụm chiến đấu số 3 kể về việc phát động “Tết trồng cây” trên đảo Trường Sa Lớn với những chi tiết không thể quên khi tôi ra Trường Sa vào năm 2007.
“... Sáng mồng hai Tết chúng tôi đã phát động “Tết trồng cây”. Buổi sáng, cứ hai người được phát một chiếc thó mới tinh cộng với một chiếc búa. Chỉ tiêu đưa ra là mỗi người trồng một cây sống. Phần thưởng là 10 cân... rau xanh cho bộ phận nào trồng được nhiều cây sống nhất. Mấy anh lính trẻ vừa từ đất liền ra thay quân, tay cứ mân mê chiếc thó, mặt mũi ngẩn ngơ.
Trồng cây thì phải mang xẻng, cuốc ra chứ, ai lại mang cái thó sắt ngắn tũn ra, kiểu như trẻ con đi ngoáy dế thế này thì trồng cây sao được. Ngay sau lễ phát động, cánh lính trẻ đã quăng thó, bỏ búa, mỗi anh một cái xẻng hăng hái phóng ra bãi cát san hô phía sau cột mốc chủ quyền. Sức khỏe tốt, lưỡi xẻng sắc, vậy mà không sao ấn được xuống cát. Thì ra trên bề mặt đảo chỉ có lớp cát khoảng hai chục phân, còn bên dưới toàn đá san hô.
Bấy giờ, mấy chàng mới cuống cuồng đi tìm thó, tìm búa. Cái giống đá san hô ngấm nước biển lâu ngày dẻo như kẹo kéo, thành thử các chiến sĩ phải nậy từng tí một. Đến chiều, đầu những chiếc thó đã xòe ra như rau muống chẻ mà cái hố trồng cây vẫn nông choèn.
Thế nhưng đến ngày mồng 5 Tết, cụm của Tài đã đào được gần hai chục hố sâu lút đầu người. Bấy giờ cát, lá cây mới được cho vào hố ủ, chờ đến giữa xuân bắt đầu trồng cây.
Khi chúng tôi ra đảo, gần hai chục cây phong ba do Tài và các chiến sĩ trồng đã nhú những mầm xanh mướt. Tài lôi dưới gầm giường ra một ba lô nặng chịch khoe với tôi “của chìm” toàn những chiếc thó cũ chỉ còn ngắn cỡ ngón tay. Tài bảo: “Tôi sẽ đem về đất liền làm kỷ niệm...”.
Cho đến hè vừa rồi (2011), Tài (quê Bắc Giang) đưa vợ xuống Hà Nội chơi. Gặp chúng tôi, vợ cậu ta chưa hết xúc động “Cứ mỗi lần nhìn những chiếc thó cũ của anh Tài, em lại rưng rưng cảm phục ý chí của bộ đội Trường Sa. Cũng vì thế mà em yêu chồng hơn...”.
“Trưởng nhớ… u”
Đêm 30 Tết, trời trên đảo nhờ nhờ tối. Sóng biển vẫn ì oạp đập vào thềm san hô. Thiếu tá Phạm Văn Hiến, Đảo trưởng đảo Phan Vinh đi kiểm tra một vòng quanh đảo trước khi về sở chỉ huy chuẩn bị cho bộ đội đón giao thừa. Khi đến gần trạm canh gác phía Tây của đảo, anh bỗng nghe tiếng sụt sịt lẫn vào tiếng sóng biển.
Chẳng lẽ trời rét thế này mà bọn vích cũng mò vào đảo hay sao? Hướng tai ra phía biển, Hiến chẳng nghe thấy gì. Quay về phía vọng gác, tiếng sụt sịt có vẻ rõ hơn. Hiến tiến về phía vọng gác và thấy một chiến sĩ trẻ, vai mang súng, tay cầm thứ gì giống như một tấm ảnh.
Nhìn hình dáng, anh nhận ngay ra Trung sĩ Bùi Đình Trưởng, Khẩu đội trưởng pháo 23mm. Cậu này mới ra đảo nhận nhiệm vụ chưa được 1 tháng. Trưởng quê Nam Định, cao ráo, đẹp trai, nói năng khá trôi chảy, hình như đã có bạn gái ở quê, bởi lần nào tàu ra cũng thấy Trưởng nhận được một xấp thư, nét chữ mượt mà. Gia đình cậu ta bố mẹ còn khỏe. Trưởng là con út, trên còn có anh và chị gái.
Hiến gõ nhẹ vào vách vọng gác. Trung sĩ Trưởng giật mình, giấu ngay vật đang cầm trên tay vào ngực áo. Nhìn thấy đảo trưởng, anh chàng quệt ngang mắt rồi nức nở: “Anh ơi...ơ... i! Em nhớ... nhớ... u em quá”. Hiến nhẹ nhàng động viên: “Nào bình tĩnh đi, chiến sĩ Trường Sa phải cứng cáp như cây phong ba trên đảo. Ai lại như đào, như liễu thế kia. Ở nhà mà biết chuyện thì xấu hổ chết...”. “Dưng mà, dưng mà em nhớ...”. “Nhớ u chứ gì? Hoàn thành nhiệm vụ trên đảo, cậu sẽ tha hồ ở cạnh u. Chỉ sợ lúc ấy cậu lại nhớ chúng tớ ở đảo thì khó mà ra được...”.
Sáng mồng một Tết, Hiến đi kiểm tra các phân đội trước khi tổ chức chấm giải trang hoàng nơi đón Tết. Khi đến chỗ Trưởng nghỉ, Hiến phát hiện ra trong yếm ba lô của Trưởng có tấm hình một cô gái khá xinh. Anh chợt hiểu ra câu chuyện của Trưởng trong vọng gác tối qua.
Lúc ấy Trưởng cũng đi rửa mặt về, Hiến vờ như không biết hỏi nhỏ: “Trưởng này, sao u cậu... trẻ thế?”. “Dạ... dạ đấy là... là ảnh... u em hồi trẻ đấy ạ”. Biết là cậu chiến sĩ của mình nói dối, anh bèn bâng quơ: “Ừ, u... xinh thế nên nhớ là phải”. Nghe câu nói của đảo trưởng, mặt mũi Trưởng đỏ lựng...
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ trên đảo, ngày chuẩn bị theo tàu vào đất liền nhận nhiệm vụ mới, Trưởng mới khai thật với đảo trưởng Hiến: “Đêm giao thừa ấy, bất chợt bị anh bắt gặp nên em ngượng, đành nói dối là... nhớ u. Chuyện này, em xin anh đừng nói cho ai biết, kẻo em xấu hổ chết...”.
Giữ lời hứa với Trưởng, mãi sau này Hiến mới kể cho mình tôi nghe. Thế nhưng không hiểu tại sao, ngay sau khi Trưởng về đất liền thì anh em trong phân đội thuộc Lữ đoàn 146 đã gọi Trưởng bằng biệt danh “Trưởng nhớ u”. Đến bây giờ ở Lữ đoàn 146 vẫn còn cái biệt danh ấy...
Du lịch, GO! - Theo báo Suckhoe, internet
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






















































