“Vườn rau, vườn rau xanh ngắt một màu,
Có đàn, có đàn gà con nương náu,
Mẹ quê, mẹ quê vất vả trăm chiều,
Nuôi một, nuôi một đàn con chắt chiu” (Phạm Duy)
Tiếng hát ngọt ngào từ đôi loa nhỏ của máy vi tính như xoáy vào tim người nghe. Bất giác làm mình nhớ lại hôm nay đã là 11/07 âl rồi. Ngày lể vu lan sắp tới.
Ở việt nam mình mổi năm có hai ngày truyền thống dành cho việc nhớ về ông bà cha mẹ, tổ tiên. Đó là ngày Thanh Minh và ngày Vu Lan. Trong đó ngày thanh minh chú trọng về những người đã qua đời còn ngày vu lan là dành cho tất cả người còn sống và cả người đã chết. Trong đạo Công Giáo cũng có ngày mùng hai tết nguyên đán là ngày cầu cho ông bà cha mẹ còn sống hay đã qua đời. Là ngày nhắc cho mọi người trở về nguồn cội và ngày 01/11 là ngày cầu cho những người đã chết.
Tự dưng mình muốn nói một chút gì đó về chử hiếu .
Chúng ta ai cũng biết gia đình là nền tảng của xã hội. Trong gia đình chữ hiếu là nền tảng để xây dựng hạnh phúc, đem đến sự an vui cho tất cả mọi người.
Con cái có hiếu với cha mẹ, ngoài việc mang lại niềm hạnh phúc chung trong gia đình, còn mang đến cho chính mình sự bình an vui vẻ . Mỗi người trong gia đình, mỗi gia đình trong xã hội, mỗi công dân của một quốc gia có vui vẻ, bình an thì xã hội, quốc gia đó mới có vui vẻ bình an, và mỗi xã hội, mỗi quốc gia có an vui thì thế giới của chúng ta mới được hạnh phúc.
Nếu ai không có tình yêu thương và kính trọng vô điều kiện đối với cha mẹ thì không thể có tình yêu thương thật sự đối với người khác. Một xã hội không có những người có tình yêu thương thật sự, chỉ có những cá nhân, mà lòng yêu thương trong họ chỉ tồn tại khi các điều kiện xuất phát từ lòng tham đã được thỏa mản, nếu không đúng theo sự ham muốn, nếu trái với ý muốn, thì tình thương đó sẽ tan biến, dể biến thành sự khinh khi, đố kỵ, ganh ghét và hận thù. Như thế thì xã hội đó, sẽ không thể có được sự an bình thật sự.
Phong tục tập quán của các dân tộc, giáo lý của các tôn giáo đều khuyên dạy, đề cao và hướng con người đến việc nhận thức và thể hiện lòng hiếu hạnh của mình đối với đấng sinh thành. Đặc biệt nước ta với nền văn minh phát triển từ rất lâu, văn hóa Nho-Phật-Lão đã ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội ngay từ thời lập quốc. Chữ hiếu đã hình thành và tồn tại trong từng cá nhân như là bản tính tự nhiên vốn có từ khi chúng ta mới chào đời.
“Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
"Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”
Mỗi người Việt Nam, không ai là không thuộc nằm lòng những câu câu ca dao ấy và chúng ta có thường xuyên nhớ tới, để tìm cách thể hiện lòng hiếu thảo của mình trong thực tế ở mức độ như thế nào, còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi người.
Hơn nữa, do khả năng nhận thức của mỗi cá nhân có sai biệt, nên chữ hiếu có được ý thức và thực hiện ở mức độ cao hay thấp, lại tùy thuộc vào khả năng nhận thức của người đó.
Từ ngàn xưa, dân-tộc Việt-Nam ảnh hưởng tinh-thần Khổng giáo, lấy lễ giáo làm gốc, đạo-đức, luân-lý là nguyên tắc của cuộc sống. Gia- đình, xã-hội có tôn-ti trật tự; coi : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là phương châm của con người. Do đó, vấn đề “Hiếu thảo” đã được Đức Khổng-Tử đặt thành kinh để dạy và đã viết thành sách “Hiếu kinh” được gồm tóm những lời sau đây:
Nuôi vui, ở kính, bệnh lo,
Tang thương, tế cẩn, sao cho trọn nghì.
Đạo hiếu là đầu của đạo làm người, là nền tảng đạo đức của xã hội. Thầy Mạnh-Tử nòi:” Không trọn đạo với cha mẹ không đáng làm người”. Trong Phật-giáo có răn dạy: “Vạn ác dâm vi thủ, Bách thiện hiếu vi tiên”. Trong kinh Bổn Sư Đức Phật dạy: ”Cha mẹ đối với con, ân đức cao nặng, sâu dầy, ân đức sinh thành từ tâm bú mớm, ân đức tắm giặt, nuôi nấng trưởng thành, ân đức các món cần dùng...Cha mẹ luôn muốn con luôn được vui…Nhớ con, thương con như bóng với hình”. Tôn kính cha mẹ tức là tôn kính Phật.
Đạo hiếu trong đạo Công Giáo: trong 10 giới răn của Thiên- Chúa, giới răn thứ 4 “Thảo kính cha mẹ”. Trong sách “Huấn ca” những lời khuyên nhủ con cái có bổn phận với cha mẹ thật giá trị: “ Con ơi, hãy săn sóc cha mẹ con khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn con cũng phải cảm thông, đừng cậy mình sung sức mà khinh dể người”. Thật vậy, Thiên-Chúa muốn rằng: sau Người, chúng ta phải tôn kính cha mẹ, là những vị sinh thành, dạy dỗ chúng ta thay quyền Chúa. Nên con cái bắt buộc phải giữ trọn đạo hiếu hạnh với cha mẹ, đây cũng là lệnh truyền của Thiên-Chúa.
Ngược dòng lịch sử, trong kho tàng văn chương Việt- Nam có biết bao những tác phẩm đề cao tinh thần “Đạo- hiếu”. Cụ Nguyễn-Du, ông nói về chữ hiếu:
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn.
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
Hay :
Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hoặc trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày trước:
“Cha sinh mẹ dưỡng,
đức cù lao lấy lượng nào đong.
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.”
Nhưng thờ kính cha mẹ như thế nào? Đó là: Mến yêu, cung kính, đỡ đần cho cha mẹ, vui vẻ vâng lời (Làm con phải biết phận con,
mến yêu cung kính mới tròn thảo ngay,
việc làm nặng nhẹ đỡ tay,
khi sai khi bảo mặt mày hân hoan,
lời thưa tiếng nói dịu dàng,
cứng đầu cứng cổ dọc ngang thì đừng _Ca dao),
Chăm sóc phụng dưỡng: Sớm thăm tối viếng (Mẹ già ở túp lều tranh, sớm thăm tối viếng mới đành dạ con _Ca dao), quạt nồng ấp lạnh (Thức khuya dậy sớm cho cần, quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con _ Ca dao ), nuôi dưỡng cha mẹ (Dây bầu dây mướp cùng leo, sớm hôm nuôi mẹ, giàu nghèo sá chi _Ca dao) v.v... Đó là quan niệm dân gian về chữ hiếu.
Trong nho giáo có hẳn một quyển sách riêng dạy về đạo hiếu gọi là Hiếu kinh. Sau đây là một số lời dạy của các bậc hiền triết Nho gia về đạo hiếu: Đệ tử của đức Khổng Tử, thầy Mạnh Tử dạy về hành động hiếu: (Việc phụng sự cha mẹ của người con hiếu là: Cư xử hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi cố làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, tang ma hết sức xót thương, tế lễ nghiêm trang rất mực)… Kinh Thi cũng dạy: (Cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Hỡi ôi cha mẹ sinh ta khó nhọc, muốn báo ơn sâu, như vói lên trời cao chẳng đặng).
Trong Phật giáo hiếu đạo được đề cập đến một cách trọn vẹn và hoàn hảo. Đức Phật dạy: “Điều thiện tối cao không gì hơn hiếu, điều ác cùng cực không gì hơn bất hiếu” (kinh Nhẫn Nhục), “Gặp thời không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật” (kinh Đại Tập),
“Quả đất người đời cho là nặng, mẹ hiền ơn nặng quá hơn nhiều”
Đức Phật đã dạy mỗi người con làm cách nào để đáp đền công ơn cha mẹ một cách đầy đủ, trọn vẹn: Đối với đạo Phật, những việc làm xuất phát từ lòng hiếu thảo mang lại lợi ích thiết thực cho cha mẹ trong hiện tại và tương lai mới chính là hành động hiếu. Theo Phật giáo, con người không chỉ có kiếp sống hiện tại mà còn có kiếp sống vị lai, do đó người con hiếu thảo cần phải chăm lo cho cha mẹ cả đời sống sau khi từ giã cõi đời này. Người con hiếu trong đạo Phật luôn ưu tư: Sau khi chết cha mẹ sẽ đi về đâu? Làm sao để giúp cha mẹ có được niềm an lạc hạnh phúc trong đời sống hiện tại và đời sống sau khi chết?
Tương quan giữa cha mẹ và con cái là tương quan khái quát, nó mở rộng đến những mối tương quan khác. Do vậy, thực hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ tạo lập sự hòa thuận, êm ấm và hạnh phúc trong gia-đình. Gia-đình có yên ấm thì xã-hội an vui, vì gia-đình là tế bào của xã-hội. Nhìn vào đời sống xã-hội hôm nay, chúng ta không khỏi băn khoăn lo lắng. Nói tới chữ “Hiếu”, có người cho rằng lỗi thời. Khoa học tiến bộ, chủ nghĩa thực dụng chi phối, việc chăm sóc cha mẹ già đã có viện dưỡng lão. Vấn đề ngày càng trở nên “máy móc hóa” nhờ những phương tiện hiện đại của xã - hội công nghiệp. Hơn nữa, sự khác biệt giữa hai thế hệ: già trẻ, giữa hai quan niệm sống: xưa và nay, của cha mẹ và con cái. Việc giữ lòng hiếu thảo đôi khi cản trở công việc làm ăn. Xã-hội hiện nay đề cao thái quá tính độc lập của cá nhân, nên có cha mẹ già coi như một “gánh nặng”. Cũng chính tuổi già của cha mẹ làm thay đổi tính nết: dễ cảm, hay tủi hờn, chấp nhất, sinh ra khó tính, làm cho con cháu khó chịu, rồi khinh thường ông bà. Trường hợp con cái khá giả thường phải giao tiếp khách làm ăn lớn, có mặt của cha mẹ là một trở ngại. Vì thế, gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão, hay đưa về quê; mỗi tháng gửi cho ông bà ít tiền, thế là xong. Trường hợp ngược lại, càng nảy sinh những phức tạp, những đau khổ hơn cho cha mẹ. Vì gia-đình túng bấn, con cái cáu giận, trút những bực tức bằng cách: đánh con, mắng vợ, chửi chó, mắng mèo… Còn biết bao cảnh đau lòng cho cha mẹ, nảy sinh tự ti mặc cảm, buồn. Có lúc các ngài than thầm, khóc vụng, tủi cho số phận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét