Hình ảnh người phụ nữ luôn là một trong những nguồn cảm hứng cho các thi hào, văn sĩ từ cổ xưa đến nay.
Dưới thời phong kiến, phụ nữ Việt Nam luôn sống ràng buộc với những lễ giáo khắc nghiệt. Đồng thời họ lại còn bị xã hội đối xử không công bằng, bị coi rẻ vì lúc đó tư tưởng “trọng nam kinh nữ” như một cái thước để đo quyền lợi mà mỗi người được hưởng. Số phận của người phụ nữ trong thời đó thật lận đận và cay đắng. Kiếp làm người của họ chẳng khác gì những con vật vì họ luôn bị hành hạ, đánh đập mà lại không thể lên tiếng kêu than. Thân phận của những con người này từ từ hoà mình vào nhân tình thế thái theo bước thăng trầm của thời gian. Phụ nữ ngày xưa sống ràng buộc theo lễ giáo khắc khe, buộc theo khuôn mẩu: Tam tòng – Tứ đức.
gồm: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử
Tứ đức: công - dung - ngôn - hạnh.
Ngoài việc thực hiện theo đạo đức đó, trong tình yêu trai gái, hôn nhân gia đình, phải tuân thủ bao điều cấm kỵ khác rất nghiêm khắc.
Người con gái không được tự ý gặp gỡ trao đổi với con trai:
Nam nữ thọ thọ bất thân.
Đến nỗi, khi Lục vân Tiên cứu Kiều nguyệt Nga khỏi tay bọn cướp, Nguyệt Nga muốn bước ra cảm ơn, Lục vân Tiên đã phải thốt lên rằng:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái ta là phận trai.
Nàng là phận gái ta là phận trai.
Trong tình yêu, hôn nhân phải tuân mọi sự sắp đặt của cha mẹ, đặt đâu con ngồi đó, hủ tục tảo hôn, đến nỗi người phụ nữ chua xót thốt lên:
Khi xưa em bảo mẹ đừng,
Mẹ ấm, mẹ ứ, mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ chồng thấp, vợ cao.
Như đôi đũa lệch, so sao cho bằng.
Hủ tục tảo hôn:
Lấy chồng từ thưở mười ba,
Đến năm mười tám, em đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
Hay:
Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Ðến năm mười tám, đôi mươi
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba
Ai về nhắn mẹ cùng cha
Chồng tôi nay đã giao hoà với tôi.
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Ðến năm mười tám, đôi mươi
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba
Ai về nhắn mẹ cùng cha
Chồng tôi nay đã giao hoà với tôi.
Đó là chưa kể, người phụ nữ phải chịu cảnh: Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng.
Chua xót cảnh làm lẽ như sau:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Ði cấy, đi cày chị chẳng kể công
Ðến tối chị giữ lấy chồng
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Ðêm đêm gọi những: Bớ Hai
Thức dậy nấu cám, thái khoai, đâm bèo.
Ði cấy, đi cày chị chẳng kể công
Ðến tối chị giữ lấy chồng
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Ðêm đêm gọi những: Bớ Hai
Thức dậy nấu cám, thái khoai, đâm bèo.
Hay như Hồ xuân Hương tha vãn:
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm
Chồng cầm bằng có có như không
Chứ không phải như bây giờ người phụ nữ không còn bị ràng buộc lễ giáo đó nữa, mà bình đẳng với nam giới trong nhiều vấn đề xã hội, đời sống, học hành, tự do chọn lựa tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc cho mình. Nhiều khi tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh cần thiết của người phụ nữ trong cuộc sống bất cứ thời đại nào đã bị xem nhẹ, sống tự do, đến nỗi con gái thời đại ngày nay trở nên quá khó hiểu:
Con gái nói có là không
Con gái nói không là có
Con gái nói 1 là 2
Con gái nói 2 là 1
Con gái nói ghét là thương
Con gái nói thương là ghét đó
Nam giới ngày nay cũng rất thích phụ nữ sống hiện đại, phù hợp với cuộc sống, nhưng không có nghĩa hiện đại là phóng túng, sa đọa, mà là sự cởi mở trong giao tiếp, nhu mì nhưng không yếu đuối, và 4 chữ: Công – Dung – Ngôn – Hạnh vẫn rất cần thiết đối với người phụ nữ.
Với những thay đổi mới về tư tưởng và nhận định của thế giới hiện đại, vị trí của người phụ nữ ngày hôm nay dần dần được đề cao và cần thiết không kém các đấng nam nhi. Họ đã tự mình chứng minh được tầm quan trọng của bản thân ở mọi lãnh vực trong nếp sống gia đình cũng như ngoài xã hội. Với xu hướng phát triển của nhân loại, con người cần phải cởi mở và xóa bỏ lối sống cổ hủ để thích ứng với cuộc sống mới. Tuy nhiên, cũng chính vì những thay đổi đó mà nhân cách và phẩm chất của người phụ nữ không còn toát ra vẻ đẹp tròn vẹn như ngày xưa. Đây là một điều thật đáng buồn và trong mỗi chúng ta.
Riêng ở Việt Nam không một ai khỏi tự đặt câu hỏi về những nguyên nhân nào đã thật sự làm ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ về giá trị nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam.
Khi nhắc tới thân phận phụ nữ trong chế độ phong kiến, nhiều người thường nghĩ đến hình ảnh “con cò” đã được dân gian ví von như chính số phận long đong của những người đàn bà thời xưa: “Cái cò lặn lội bờ sông. Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.” Họ là những con người luôn phải chịu thiệt thòi trong cuộc sống, chịu sự đối xử bất công của xã hội chỉ vì họ mang phận gái mỏng manh dưới chế độ trọng nam khinh nử. Từ lúc ấu thơ, họ phải học thấm nhuần triết lý của Nho giáo bao gồm “tam tòng” và “tứ đức” .
Đây là những chuẩn mực đạo đức mà cha ông ta luôn trân trọng và cố gắng phát huy bởi một người phụ nữ được người xưa đánh giá là đoan trang và ngoan hiền chỉ khi nào người đó có đầy đủ những lễ giáo trên. Tôi nghĩ rằng chính những nét đẹp này đã tạo nên hình tượng con gái Việt Nam duyên dáng mà khi nhìn vào, các nước khác phải thầm khen ngợi và nể phục.
Trong hôn nhân, người phụ nữ Việt Nam xưa không có quyền chọn lựa mà phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ. Ai cũng vì chữ hiếu nên không dám cãi lời các bậc sinh thành. Trước khi cưới hỏi, nhiều cô gái còn chưa được biết mặt vị hôn phu mà mình sẽ phải nâng khăn sửa túi cho đến hết cuộc đời. Đến khi về nhà chồng, họ mới thật sự ngỡ ngàng và hoang mang với cuộc sống làm dâu lạ lẫm nhưng đầy éo le. Thật thấm thía cho câu ca dao: “Làm dâu khổ lắm ai ơi. Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than”. Nếu ai may mắn gặp được đức lang quân có học thức và biết suy nghĩ, lo lắng cho gia đình thì người đó quả thật có một ngày mai tươi sáng trong sự ấm cúng của nhà chồng. Còn như gặp phải một người chồng gia trưởng hay vũ phu thì cuộc đời của người phụ nữ xem như đã chấm hết. Vì thế nhiều người đã không có được hạnh phúc đích thực mà thay vào đó là những kiếp đời truân chuyên, bạc phận. Một thí dụ điển hình là Vương Thuý Kiếu trong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Dịu hiền và thuỳ mị, nàng Kiều còn giỏi “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm” và luôn hiếu thuận trong gia đình. Thế nhưng do hoàn cảnh đưa đẩy, nàng đã phải hy sinh cả cuộc đời thanh xuân của mình. Có lẽ ông trời quá bất công khi bắt một người “tài sắc vẹn toàn” như nàng phải bán mình chuộc cha chỉ vì gia cảnh có biến. Xã hội đã đẩy những người cô gái như nàng đến trước vực sâu mà không có quyền lên tiếng trách than.
Trong hôn nhân, người phụ nữ Việt Nam xưa không có quyền chọn lựa mà phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ. Ai cũng vì chữ hiếu nên không dám cãi lời các bậc sinh thành. Trước khi cưới hỏi, nhiều cô gái còn chưa được biết mặt vị hôn phu mà mình sẽ phải nâng khăn sửa túi cho đến hết cuộc đời. Đến khi về nhà chồng, họ mới thật sự ngỡ ngàng và hoang mang với cuộc sống làm dâu lạ lẫm nhưng đầy éo le. Thật thấm thía cho câu ca dao: “Làm dâu khổ lắm ai ơi. Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than”. Nếu ai may mắn gặp được đức lang quân có học thức và biết suy nghĩ, lo lắng cho gia đình thì người đó quả thật có một ngày mai tươi sáng trong sự ấm cúng của nhà chồng. Còn như gặp phải một người chồng gia trưởng hay vũ phu thì cuộc đời của người phụ nữ xem như đã chấm hết. Vì thế nhiều người đã không có được hạnh phúc đích thực mà thay vào đó là những kiếp đời truân chuyên, bạc phận. Một thí dụ điển hình là Vương Thuý Kiếu trong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Dịu hiền và thuỳ mị, nàng Kiều còn giỏi “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm” và luôn hiếu thuận trong gia đình. Thế nhưng do hoàn cảnh đưa đẩy, nàng đã phải hy sinh cả cuộc đời thanh xuân của mình. Có lẽ ông trời quá bất công khi bắt một người “tài sắc vẹn toàn” như nàng phải bán mình chuộc cha chỉ vì gia cảnh có biến. Xã hội đã đẩy những người cô gái như nàng đến trước vực sâu mà không có quyền lên tiếng trách than.
Khi làm vợ người ta, người phụ nữ xưa phải trung trinh tiết hạnh cho dù có bị nhà chồng đối xử tệ bạc đến đâu đi chăng nữa. Người phụ nữ Việt Nam ngày xưa trải qua bao sóng gió cuộc đời đã trở nên cứng rắn và mạnh mẽ hơn, nhưng cuối cùng họ cũng chỉ là những thành phần nhỏ bé trong cái xã hội phong kiến suy tàn vẫn còn quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Chỉ có tấm lòng son sắt của họ là luôn được người đời ca ngợi. Chỉ có sự tảo tần, không ngại gian khổ đã biến họ thành những người mẹ vĩ đại theo thời gian: “Gió mùa thu mẹ ru con ngủ. Năm canh chầy thức đủ năm canh.” Và chỉ có tình thương cao đẹp của những người phụ nữ chân chính mới sống mãi trong tâm hồn dân Việt.
Ngày hôm nay, khi những thiếu nữ “liễu yếu đào tơ” đã tự tin bước trên con đường công danh, sự nghiệp rạng rỡ như cánh đàn ông thì cục diện xã hội đã chuyển sang một bước ngoặt mới. Họ được bình đẳng hơn trước và có quyền tự quyết định tương lai cho riêng mình vì bây giờ họ đã có thể theo đuổi mục tiêu của cuộc sống mà không bị ai ngăn cản.
Nhưng điều quan trọng hơn nhất là họ đã có thể làm chủ hôn nhân của mình. Nhiều thế hệ đi trước giờ đã thấu hiểu câu ca dao “ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên” nên không còn chấp nhận những phong tục cổ xưa vào việc ép gả tình duyên. Những cảnh ép hôn không còn diễn ra thường xuyên nếu không nói là hiếm thấy, trừ những trường hợp hy hữu. Người con gái có quyền yêu và lấy người cô ta thương mà không bị cha mẹ cấm đoán. Quả thật đây là một điểm đáng mừng khi quan niệm cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” đã hầu như không còn được áp dụng với lối sống mới.
Nhưng trên đời đâu có gì là cho không, được cái nầy là mất cái kia. cái nào cũng có giá của nó, và những cởi mở nầy kéo theo bao hệ lụy .
Trước tiên, tôi muốn nói đến những người phụ nữ có tiếng tăm trong giới nghệ thuật như các cô hoa hậu, ca sĩ, hay diễn viên. Tên tuổi của họ được công chúng biết đến nhờ vào tài năng thì ít mà vướng vào hàng loạt các vụ xì-căng-đan thì nhiều. Các cuộc thi tài năng và sắc đẹp không còn thấy sự lành mạnh và trong sáng mà đâu đâu cũng đầy rẫy những cảnh chướng mắt đã được sắp đặt trước. Những giải thưởng được mua bằng tiền, những chiếc vương miện được đổi bằng tình thì nét văn hoá bao đời tổ tiên để lại ngày nay đã thật sự tàn phai. Đây chính là hậu quả của một xã hội suy đồi.
Trước tiên, tôi muốn nói đến những người phụ nữ có tiếng tăm trong giới nghệ thuật như các cô hoa hậu, ca sĩ, hay diễn viên. Tên tuổi của họ được công chúng biết đến nhờ vào tài năng thì ít mà vướng vào hàng loạt các vụ xì-căng-đan thì nhiều. Các cuộc thi tài năng và sắc đẹp không còn thấy sự lành mạnh và trong sáng mà đâu đâu cũng đầy rẫy những cảnh chướng mắt đã được sắp đặt trước. Những giải thưởng được mua bằng tiền, những chiếc vương miện được đổi bằng tình thì nét văn hoá bao đời tổ tiên để lại ngày nay đã thật sự tàn phai. Đây chính là hậu quả của một xã hội suy đồi.
Giờ đây chúng ta thấy các dịch vụ “ôm” với các em gái thành niên đủ kiểu dáng, đủ màu sắc đã mất đi vẻ đẹp nhu mỳ, nữ tính. Vậy thì phải trách ai đây? “Tứ đức” không còn được những con người năng động trân trọng như người xưa đã tôn vinh. Điều này ảnh hưởng rất lớn khi đánh giá nhân cách và phẩm hạnh của thế hệ trẻ, bởi giá trị đạo đức của một thiếu nữ bây giờ không còn dựa trên chuẩn mực “tam tòng” và “tứ đức”.
Một trong những mối lo ngại lớn nhất của đất nước Việt Nam là tệ nạn buôn bán phụ nữ cùng với những dịch vụ môi giới lấy chồng ngoại (Đài Loan, Hàn Quốc, thậm chí cả Trung Quốc nửa), mà đặc biệt là Hàn Quốc. Nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam đã không còn thanh tao trong con mắt của các nước bạn khi phải bán thân làm vợ người ta. Vì nhiều lý do khác nhau nhưng phần lớn là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhiều cô gái mới lớn phải chịu cảnh làm dâu ở nơi xứ lạ, bị hành hạ bằng bạo lực, hay bị rao bán như những món hàng để phục vụ nhu cầu tình dục cho cả gia đình nhà chồng. Nhìn những cảnh tượng xót xa đó, phải chăng là thân phận người phụ nữ hiện đại còn chịu nhiều đau đớn và tủi nhục hơn dưới chế độ phong kiến? Họ đã mất đi vẻ đẹp thuần khiết và hiền dịu, làm nhục nhã cả một dân tộc hơn bốn ngàn năm văn hiến. Những tưởng thế giới đang bước vào thế kỷ 21, loài người đã đạt đến một nền văn minh tối cao với các phương tiện máy móc hiện đại để giúp cho đời sống thêm phần thoải mái. Thế mà chỉ riêng nước ta lại xảy ra những tệ nạn thoái hoá biến chất như vậy để cho các nước lân cận có ấn tượng xấu kèm theo cái nhìn khinh miệt đối với phụ nữ Việt Nam.
Một trong những mối lo ngại lớn nhất của đất nước Việt Nam là tệ nạn buôn bán phụ nữ cùng với những dịch vụ môi giới lấy chồng ngoại (Đài Loan, Hàn Quốc, thậm chí cả Trung Quốc nửa), mà đặc biệt là Hàn Quốc. Nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam đã không còn thanh tao trong con mắt của các nước bạn khi phải bán thân làm vợ người ta. Vì nhiều lý do khác nhau nhưng phần lớn là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhiều cô gái mới lớn phải chịu cảnh làm dâu ở nơi xứ lạ, bị hành hạ bằng bạo lực, hay bị rao bán như những món hàng để phục vụ nhu cầu tình dục cho cả gia đình nhà chồng. Nhìn những cảnh tượng xót xa đó, phải chăng là thân phận người phụ nữ hiện đại còn chịu nhiều đau đớn và tủi nhục hơn dưới chế độ phong kiến? Họ đã mất đi vẻ đẹp thuần khiết và hiền dịu, làm nhục nhã cả một dân tộc hơn bốn ngàn năm văn hiến. Những tưởng thế giới đang bước vào thế kỷ 21, loài người đã đạt đến một nền văn minh tối cao với các phương tiện máy móc hiện đại để giúp cho đời sống thêm phần thoải mái. Thế mà chỉ riêng nước ta lại xảy ra những tệ nạn thoái hoá biến chất như vậy để cho các nước lân cận có ấn tượng xấu kèm theo cái nhìn khinh miệt đối với phụ nữ Việt Nam.
Sưu tầm những câu ca dao về người phụ nử để tặng ngày 8/3
Ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật, biết bò lớn dần trong nhịp võng đong đưa qua tiếng hát của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hay qua điệu hát ầu ơ:
Ầu ơ... Bao giờ Chợ Quán hết vôi,
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Hoặc qua điệu ru ạ ờ:
Ạ ờ... Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con cá rô, trê,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn...
Những vần ca dao mộc mạc, bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều.
Hát ru em, hát ầu ơ, ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm, làng mạc cho đến thị thành. Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam. Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh, cùng với tiếng võng đưa, giọng hát ầu ơ, ạ ờ dịu dàng, trìu mến của bà, của mẹ, của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thế hệ, trong mọi gia đình, nghèo cũng như giàu, cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao giờ dứt. Không có người Việt Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hòa cùng tiếng trẻ khóc, tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta.
Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt. Cũng có khi sai lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn, em không bao giờ dám oán trách mẹ. Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:
Mẹ ơi đừng mắng con hoài,
Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.
Còn nếu bị đánh đòn, nàng chỉ thỏ thẻ:
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Theo thời gian, cô bé bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:
Thân em như hạt mưa rào,
Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Hay bâng khuâng tự hỏi:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Ngồi cành trúc, tựa cành mai,
Đông đào , tây liễu biết ai bạn cùng?
Đến tuổi dậy thì, em gái bây giờ trổ mã, đẹp dần lên. Mỗi người một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn... Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác.
Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu được ca dao khen rằng:
Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Hay những người có làn da trắng, má hồng, môi đỏ:
Ai xui má đỏ, môi hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.
Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cá phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon:
Những người thắt đáy lưng ong,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:
Tóc em dài em cài bông hoa lý,
Miệng em cười anh để ý anh thương.
Mái tóc dài, đẹp còn làm xao xuyến lòng người:
Tóc đến lưng vừa chừng em bới,
Để chi dài bối rối dạ anh.
Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ. Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:
Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,
Thương em chúm chím cười duyên một mình.
Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:
Nàng về nàng nhớ ta chăng,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.
Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:
Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.
Phụ nữ thì nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xõa bờ vai. Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân... vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo. Trước cái đẹp của phụ nữ, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương em ở một mình,
Mười thương con mắt đưa tình với anh.
Nét đẹp của phụ nữ còn làm cho trái tim của nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình”:
Kim Luông có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.
Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con gái vừa lớn khôn thì được gia đình dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:
Con ơi mẹ bảo con này,
Học buôn, học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói điêu ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:
Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Và xa hơn nữa:
Ở nhà còn mẹ, còn cha,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.
Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo. Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay:
Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.
Giả đò ngó lơ, e thẹn, bẽn lẽn, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:
Ngó anh không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất cả con tim mình:
Qua đình ghé nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:
Yêu chàng lắm lắm chàng ôi,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:
Hồng Hà nước đỏ như son,
Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh.
Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay
.
Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng, gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.
Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng, phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ:
Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:
Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.
Hay:
Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang.
Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.
Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:
Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:
Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.
Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:
Canh một dọn cửa, dọn nhà.
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.
Mốt mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
Hoặc:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chầy thức đủ năm canh.
Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:
Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.
Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng. Trước đây, xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:
Làm dâu khổ lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:
Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.
Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là người con rất mực hiếu thảo:
Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,
Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:
Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ta.
Những món quà nho nhỏ như buồng cau, đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam:
Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Hay là:
Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Khi phải đi xa hay lấy chồng xa, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét