Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Điều Kỳ Diệu

Hôm nay tôi xin kể cho các bạn mẩu chuyện nhỏ nầy: Ngày xưa ở những vùng gần biển như Cà Mau, Rạch Giá người ta hay đào một cái ao lớn chứa nước ngọt cho cả làng dùng trong mùa nắng và gọi là ao làng, vì để dùng cho cả làng nên ao rất lớn và mọi người rất ý thức bảo vệ không gây ô nhiểm.
Trong một ao làng nọ có đôi bạn rất thân nhau là lảo cá Nàng Hai (thát lát cườm) duyên dáng và cụ Rùa già chơi với nhau rất chân tình. Trên cạn bên cạnh bờ ao cũng có một đôi bạn cũng thân thiết với nhau như vậy, đó là cụ rùa nhà ta và con thỏ trắng.

Một ngày rằm nọ cụ rùa lên bờ ao để đến ngôi chùa gần đó nghe giảng kinh phật, thỏ trắng cũng đến đó nghe vị tỳ kheo giảng kinh. Còn cô bạn cá Nàng hai vì cảm kích công ơn phóng sinh mới còn sống nên dù không lên chùa được thì cũng nổi lên mặt nước cạnh bờ để lắng nghe kinh Phật.Trong lúc giải lao cụ rùa và thỏ bạch cùng ra gốc cây cạnh bờ ao ngồi nghỉ và hàn huyên với cô bạn cá. Lâu ngày không gặp hai bạn tay bắt mặt mừng hỏi thăm nhau đủ thứ về cuộc sống, sức khỏe và cả những người quen của nhau, và cả những chuyện thường ngày mà hai bạn gặp phải.

Cô thỏ bạch kể lại chuyện bị con cáo rượt đuổi phải leo lên cây trốn và té xuống (thỏ có biết leo cây đâu mà vì quá sợ nên leo thí vậy) gảy chân nằm liệt giường cả tháng. May nhờ lúc đó có vị sư già đi ngang qua đánh đuổi con cáo và mang thỏ về nhà nuôi dưỡng thuốc thang thỏ mới sống sót, và được ở luôn trong chùa .vì cảm nhận lòng nhân từ của vị sư già nên mổi ngày rằm là thỏ lại ra chánh điện để nghe giảng về Phật pháp.

Cụ rùa già thì kể về một hôm gặp người bắt cá đang đi bên bờ ao và vội vàng lao xuống ẩn mình dưới lớp đất bùn đáy mương mới thoát nạn được. Và cụ rùa cũng kể cho thỏ nghe chuyện cô bạn cá Nàng Hai sống ngoài sông lớn bị người dân chài bắt được, tưởng là mạng đã cùng, nhờ một người tốt bụng mua về đem đến chùa phóng sinh trong ao làng cạnh chùa mới còn sống đến ngày nay.

 Cô thỏ bạch nghĩ mãi vẩn không thể nào hiểu được cụ rùa thì mai yếm vụng về thế nầy mà làm sao chui vào đất để trốn được khi không có sẳn cái hang như thỏ hay chui vào trốn mổi khi gặp thú dử. Trong lòng thỏ luôn thắc mắc không hiểu nổi tại sao có người bắt cá bán đi lại có người mua cá để thả về với tự nhiên.

Sau giờ giải lao mọi người trở lại nghe Tỳ Kheo giảng tiếp về Phật pháp, và nêu những thắc mắc của mình nhờ giảng giải. Chú thỏ hỏi về những thắc mắc vừa nghe cụ rùa kể lại, cô Nàng Hai cũng gọi cụ rùa ra nhờ hỏi về sự té và lòng nhân của con người khi cứu chửa cho thỏ, vì trong cả cuộc đời cá không có khái niệm “té xuống” là gì, vì cá chỉ biết lờ mờ là bị bắt thì “nhứt nướng nhì kho” cái nào cũng chết mà bây giờ lại còn có phóng sinh về sống với tự nhiên. Còn thỏ thì được cứu chửa và nuôi dưỡng luôn trong chùa là sao?

 Sau khi gom hết những câu hỏi lại vị Tỳ Kheo mới chậm rải nói rằng: Thưở trời đất còn hoang sơ tạo hóa dựng nên đất trời và muôn vật với những đặt tính riêng của mổi loài nhằm thỏa mãn những yêu cầu riêng của loài đó để sinh tồn và phát triển trong môi trường sinh sống riêng của loài đó với nhau , và đồng thời có một tính nổi trội để phục vụ toàn thể, mà loài khác không thể cảm nghiệm được, như cá thì không thể nào hiểu được “té” là gì dù cho có giải thích bao nhiêu cũng không hiểu được. chỉ có khi cá trở thành thỏ và sống trên cạn mới hiểu mà thôi.
 Cũng vậy chỉ khi  trở thành rùa và sống dưới nước mới biết khi gặp nguy hiểm thì chui vào đất như thế nào để trốn tránh . Và càng không thể nói con cá lội hay hơn con thỏ chạy, hay con rùa chui xuống bùn hay hơn con người. Mổi một loài được tạo dựng vì mọi loài, và có những ưu việt riêng, con voi mạnh hơn con người, con hổ dử hơn con người, nhưng vai trò thống trị vẩn được đặt vào con người vì chính cái thông minh, biết suy nghĩ, biết phân biệt phải trái, biết sửa sai mổi lúc làm sai và cái quan trọng nhất làm cốt lõi của vai trò cai quản là biết yêu thương và tha thứ, biết cám ơn và xin lổi.

Vai trò thống trị được thể hiện như thế nào để thành công
 - A Lịch Sơn Đại Đế(Megas Alexandros) là con trai của Vua Philip Đệ Nhị xứ Macedonia (bán đảo Balkan cổ đai) và Công chúa Olimpias xứ Epirot (tây bán đảo Balkan) Ông sinh ra sau thời Đức Phật Nhập Niết Bàn khoảng 200 năm (356-323 TCN), vào năm 20 tuổi kiêu hùng lên ngôi Hoàng Đế mở đầu công cuộc trường chinh vẽ lại bản đồ thế giới. Cả một vùng Trung Cận Đông khói lửa ngập trời dưới gót chân tàn bạo của vị vua chiến thắng. Nhưng sau mỗi chiến công đẫm máu ông lại từng bước trở thành một trong những vị Hoàng Đế vĩ đại nhất trong lịch sử con người.
 1/. Ông vĩ đại không phải ông đã làm sụp đổ Đế Quốc Ba Tư rộng lớn (gồm Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều Quốc Gia vùng Tây Á ngày nay), mà Ông vĩ đại khi Ông quyết định để cho người dân chiến bại được giữ nguyên thân thế, kể cả vua và hoàng hậu Ba Tư. Không những thế, Ông còn cung cấp lương thực, nhà ở, phương tiện và trở thành người bạn tốt của dân tộc bị trị.
2/. Ông vĩ đại không phải Ông đã thiết lập một Đế Chế Hy Lạp quyền uy và bất khả chiến bại, mà Ông vĩ đại vì Ông đã không chấp nhận tư tưởng phân biệt. Giữa đế quốc chiến thắng và vương quốc bị chinh phạt được đối xử công bằng và tôn trọng ngang nhau, khuyến khích một chính sách hợp nhất văn hóa trong tinh thần bao dung và hiểu biết.
3/.Ông vĩ đại không phải vì bao nhiêu thành trì, bao nhiêu vương quốc đã cúi rạp mình dưới vó ngựa trường chinh, mà Ông trở thành vĩ đại khi những thành trì, những vương quốc ấy được Ông chấp nhận cho những quan chức bản địa cai quản cùng với những cựu chiến binh của Ông để lại nhằm bảo tồn những nền văn hóa khác nhau của một vùng mênh mông vừa qua cơn chinh chiến.
 4/. Ông vĩ đại không phải Ông đã được tôn sùng như một thánh nhân, mà Ông vĩ đại vì Ông đã biết cúi đầu trước đền thờ các vị thần, biểu tượng thiêng liêng của các dân tộc Trung Á và Tây Á mà Ông đã đi qua.
 5/. Ông vĩ đại không phải Ông đã chinh phạt tới khu vực Ấn Độ Hà (Indus) để làm bàn đạp thôn tính toàn cõi Á Châu. Tại đây Ông đã khựng lại trước nền văn minh Phật Giáo rực rỡ. Ông đã quyết định ngừng cuộc chiến chinh, đưa đoàn quân khải hoàn trong bơ phờ mệt mỏi, trở lại Babylon và qua đời ở tuổi 33.
 Dẫu biết rằng A Lịch Sơn Đại Đế đã kết thúc cuộc đời vĩ đại sau 12 ngày mê man bất tỉnh vì sốt rét ác tính, thế nhưng truyền thuyết về cái chết của Ông cũng là một bài học Vô Thường, Vô Ngã cho xã hội đầy dẫy tham nhũng, cửa quyền và đồi trụy hôm nay :
 - Ông vĩnh viễn nằm trong quan tài lạnh lẽo nhưng hai bàn tay được để ra ngoài, vung vẫy theo từng nhịp bước để nhắc nhở với chúng sanh : dù uy quyền tuyệt đối, dù cao sang tột đỉnh thì khi từ giả cuộc đời vẫn ra đi với hai bàn tay trắng mà thôi. - Những thầy thuốc giỏi nhất của vương triều Hy Lạp đều phải gánh quan tài của Ông để chứng minh rằng không ai có thể vượt qua biển đời sinh tử, vạn vật đều phải nằm trong định luật thành, trụ, hoại, không.(giống như sinh, lão, bệnh, tử) - Vàng, bạc, châu báu của một thời ngang dọc chiến chinh được rải đều trên đường đến nơi an nghỉ cuối cùng để nhắc nhở mọi người thực hành bố thí dù Ông không phải là một Phật Tử thuần thành. (Trích Thông Điệp Phật Đản Phật Lịch 2554)

Thêm một minh chứng về thống trị thành công:
 - Con người  danh tiếng  đó là ông Sherman, một viên tướng trong quân đội miền Bắc thời kỳ nội chiến Mỹ (1861- 1865) mà dạo đầu vì thất trận báo chí Mỹ nói loạn lên ông bị bệnh điên, vợ ông cũng phải than vãn vì “chứng bệnh điên cuồng buồn nản làm ảnh hưởng đến gia đình” của Sherman.
Sau chấn động vì lần thua trận, ông phục hồi khá nhanh và được viên tướng cấp trên cử đến thay thế tướng Grant vì ông này vừa thua lớn tại trận Henry, làm họ nghi ngại về trình độ quân sự của ông. Việc phân công này là hợp lý vì lúc đó Sherman có quân hàm cao hơn, song ông tình nguyện làm tuỳ tướng dưới quyền Grant.
Tuy thế cũng làm cho người chỉ huy trực tiếp của ông dè dặt. Trước một trận đánh Sherman viết thư cho Grant “xin ra lệnh cho tôi, tôi lo cho ông vì tôi biết quân miền Nam đang có thuận lợi, nhưng tôi tin tưởng ở ông”. Lá thư đó là khởi nguồn của một tình bạn keo sơn bền chặt đến suốt đời của hai người.
Một lần bị đánh bất ngờ tuy thua nhưng quân của Sherman rút lui khá tổ chức. Ông đến gặp Grant, lúc này đang hút xì gà dưới gốc sồi. Bộ râu rậm như bật động, trán ông căn ra những vết nhăn lớn. Biết lúc này không nên nhắc đến chuyện rút lui, Sherman khẽ hỏi: - Ngày hôm nay, chúng mình gặp quỷ sứ, phải không. Dụi tắt điều xì gà, Grant chậm rãi khẳng định: - Ừ, nhưng mai chúng ta quét tan tụi nó. Sherman hiểu rõ, ngay mai sẽ là một trận đánh phải đâm hẳn đầu vào bức tường. Quá vậy ông chỉ huy quân tiên phong, ông cưỡi 3 con ngựa lần lượt bị bắn chết. còn bản thân Sherman bị đạn bắn vào vai và vào tay.
 Sau đợt phản công mãnh liệt này, quân miền Bắc tái chiếm lại trận địa cũ. Sherman trở thành tướng tin cẩn của Grant sau hai năm sát cánh hàng quân chiến đấu ở chiến trường cánh Tây. Sau trận Shilot Grant bị dè bỉu vì tội để mất nhiều quân, có ý kiến trình lên Tổng thống thay chức của ông. Grant chán nản định từ chức, Sherman khuyên ông nên tiếp tục binh nghiệp, ông dẫn chứng ví dụ bản thân để thuyết phục Grant “trước trận Shilot, tôi chỉ là một thằng bị báo chí cho là hèn hạ, điên rồ nhưng sau đó, tướng quân biết đấy, tôi chỉ đánh một trận là đổi đời, tôi có quyền cao chức trọng. Rồi một chuyển biến tốt nào đó sẽ tạo điều kiện trả lại địa vị chính đáng cho ông”. Nghe lời bạn, cả hai thăng tiến trên đường binh nghiệp.
 Nói về giai đoạn này, Sherman viết “Grant đứng bên tôi khi tôi bị khùng và tôi đứng bên Grant khi ông ta xỉn và ngày nay cả hai luôn sát cánh bên nhau”. Khi trực tiếp chỉ huy cánh quân miền Tây, Sherman chủ trường chiến tranh cứng mà về sau được coi là người phát kiến chiến trang tổng lực, toàn diện. Đó là đốt phá tiêu huỷ cơ cở kinh tế hạ tầng của đối phương, không cho nó phục hồi để cung cấp nhân tài vật lực cho chiến tranh.Biểu hiện cao nhất là sau khi chiếm thành phố Sherman ra lệnh tất cả mọi người dân phải ra khỏi thành phố để ông tàn phá.
 Hội đồng thành phố này kiến nghị lên để nghị vì quyền lợi của đàn bà trẻ con không nên phá huỷ nhà cửa của họ. Sherman viết thư trả lời “chiến tranh lúc nào cũng tàn nhẫn, các ông không thể làm đẹp chiến tranh, các ông không thể có hoà bình khi đất nước còn bị chia đôi, phải loại trừ không để chiến tranh tiếp diễn. khi có hòa bình, các ông nhờ, lúc đó tôi sẽ chia cái bánh và đồng hào cuối cùng của tôi”. Riêng bang Nam Calolina đòi ly khai đầu tiên, tạo tiền đề gây nên nội chiến, bị Sherman huỷ diệt tương đối kỹ lưỡng, nhằm tiêu diệt mọi mặt về quân lực, kinh tế, tinh thần làm suy sụp toàn diện đối phương.
 Grant bị tướng Lee gây khó khăn ở chiến trường phía Đông. Trong khi Sherman có chiến công vang dội ở chiến trường miền Tây và chọc thủng hàng loạt phòng tuyến để đánh đến bờ biển đại Tây Dương. Trong bối cảnh đó Quốc hội Hoa Kỳ chỉ thị phong Sherman lên trung tướng, ngang hàng với cấp tướng của Grant với mục đích ngầm là để sau đó cho ông thay thế quyền Tổng tư lệnh quân miền Bắc của Grant. Sherman viết thư cho anh là thượng nghị sỹ John Sherman và viết cho Grant từ chối việc phong quan này.
 Sherman ban hành Chỉ thị số 15 quyết định giải phóng 40.000 nô lệ da đen trong vùng kiểm soát các bang phía Nam của mình. Tìm mọi cách bảo vệ sự thống nhất đất nước, kể cả đồng ý duy trì chế độ nô lệ ở các bang miền Nam nhưng không được.
Tổng thống Mỹ Lincoln phải phát động chiến tranh. Có thể nói nước Mỹ là nơi thu hút từ lục địa Châu Âu những người có quyết tâm làm một cách sắt đá nhất, đó là những người có ý chí, dám từ bỏ tất cả để đến với miền đất lạ làm cuộc đổi đời (ban đầu trừ những người nô lệ da đen bị ép buộc đến). Người Mỹ có khái niệm “nồi hầm nhừ”, hiểu theo nghĩa tất cả mọi người từ các quốc gia khác như Đức, Ba Lan, Pháp, Anh… và người bản xứ sống trong lòng xã hội Mỹ thì sẽ cho ra sản phẩm con người mới- đó là người Mỹ với văn hoá Mỹ.
Cuộc nội chiến giữa 29 bang theo Phía bắc và 11 bang Miền Nam sau 4 năm rồi cũng đến hồi kết. Y hẹn ngày 9/4/1865 tướng Lee và tướng Grant là hai vị tư lệnh của hai bên gặp nhau tại thị xã Appamatox ở Tiểu bang Virginia. Hôm trước tướng Lee nhận tin thảm bại của viên tướng tài năng dưới quyền mình Gordon, ông hiểu rằng thế là hết. Đội quân do ông chỉ huy bị bao vây tứ phía không còn tiến hay lùi được, binh sỹ kiệt sức, lương thực đạn dược đã hết, không còn quân tiếp viện và nguồn tiếp tế hậu cần, tóm lại vào thời điểm bên bờ vực thẳm này, đánh là chết. Không thể để những chàng trai ưu tú này đổ máu vì một mục đích đã không đạt được. Họ còn có gia đình vợ con, cha mẹ. ông quyết định đầu hàng quân miền Bắc, đó cũng là gánh nặng đối với danh dự của riêng ông. Sau khi tập hợp Ban tham mưu của mình, ông nói “ tôi sẽ đi gặp tướng Grant, cho dù điều đó quá nhục nhã đối với tôi”.
 Tướng Lee trực tiếp viết thư cho Grant. Sáng hôm sau tướng Lee cùng một sỹ quan tuỳ tùng đến điểm hẹn. Trước ngưỡng cửa của cuộc nội chiến, tướng Lee là viên tướng tài năng hàng đầu của quân đôi Mỹ, ông được tổng thống uỷ nhiệm làm Tổng tư lệnh quân miền Bắc để tấn công lực lượng quân đội của các bang Miền Nam, nhưng ông từ chối vì ông quê ở miền Nam. Cha ông là Thống đốc bang Virginia thiếu tướng Hen ry Lee III thuộc dòng dõi vua Scotland II. Đầu năm 1861 tướng Lee phản đối việc ly khai của bang Virginia quê hương mình. Đến tháng 6 năm 1862 Lee nhận chỉ huy các quân đội liên minh miền Nam.
Giờ đây họ gặp nhau, tướng Lee bên hông mang kiếm, đó là “thông điệp” truyền thống thể hiện khí phách của người anh hùng bại trận vẫn không khuất phục. Trước đó tướng Grant, người từng bị tướng Lee đánh cho những trận ác liệt ở mặt trận miền Đông đến nỗi suýt bị cất chức Tư lệnh, đã ra lệnh cho tướng sỹ của mình, những người biết tin đầu hàng của quân đội miền Nam “làm nhục một người bại trận dù bất kỳ lý do gì là làm nhục nước Mỹ”(vì kẻ thắng người thua cùng là người Mỷ). Hai vị tướng nói chuyện khá dài, tướng Grant nhắc lại những kỷ niệm về cuốc chiến tranh chiếm đất của Mexico mà cả hai đều tham gia, ông nói lên sự khâm phục những chiến công của tướng Lee ngày đó.
 Điều ngần ngại nhất của tướng Grant là phải đề cập đến chuyện đầu hàng của quân đội tướng Lee chỉ huy, ông phải chờ đến khi chính tướng Lee nói ra điều đó. Sau đó tướng Grant đọc văn kiện đầu hàng mà mình đã soạn sẵn. Nghe xong mặt tướng Lee tươi tỉnh hẳn lên khi biết binh sỹ dưới quyền mình được trở về nguyên quán không phải chịu bất cứ hình thức trả thù nào. Tướng Lee nói “điều này có tác động rất tốt đối với tất cả mọi người, đặc biệt sẽ giúp ích rất nhiều c ho người chúng tôi”. Ông đề nghị bổ sung thêm hai điều: cho phép binh sỹ của ông được mang lừa ngựa của họ về quê quán để sản xuất nông nghiệp, đó là tài sản riêng của họ mang theo lúc gia nhập quân đội. quân lính của ông và hơn 1.000 tù binh miền Bắc đang bị đói. Tướng Grant chấp nhận, riêng điều khoản 2 ông cấp ngay 25.000 khẩu phần ăn cho người của tướng Lee.
 Khi trở về, quân sỹ nhìn tướng Lee bật khóc, ông nói “tôi đã cố gắng làm tất cả anh em hãy trở về sinh sống để làm những người công dân tốt, điều cơ bản phải biết dẹp bỏ mọi hận thù, đừng tạo nên chiến tranh du kích, nước Mỹ không cho phép những công dân của mình làm tổn thương”. Sau này tướng Lee khuyên nhóm chính trị Liên minh miền Nam tham gia chính phủ toàn quốc.
 Tin đầu hàng của quân đội miền lan rộng, nghe tiếng súng nổ ăn mừng của quân mình, lập tức tướng Grant ra lệnh “chiến tranh chấm dứt, họ là đồng bào, chúng ta không được phép reo mừng vì chiến bại của họ”. Tướng Grant viết hồi ký “Trong cuộc chiến này chỉ có nước Mỹ chiến thắng chứ không có ai thắng ai thua”. Ngày 12/4/1865 quân miền Nam do tướng Gordon nộp vũ khí đầu hàng cho bên tiếp nhận là Đại tá Chanberlain. Đại tá ra lệnh cho binh sỹ của mình đứng nghiêm chào những người anh hùng bại trận để bày tỏ lòng kính trọng.
 Tướng Gordon ghi lại “trong giờ phút đó, không hề có tiếng kèn hay tiếng trống, không một tiếng reo mừng, không lời nói, không cả tiếng thì thầm, không một cử động như là sự tĩnh lặng khủng khiếp. Mọi nhịp thở như ngừng lại và như thể họ đang nhìn những linh hồn tử sỹ đi qua. Họ là những sỹ quan binh lính hào hiệp nhất của quân đội miền Bắc” Cách cư sử lịch sự của các tướng lĩnh miền Bắc đã tạo sự ổn định nhanh, xoá bỏ mặc cảm của những người Miền Nam, góp phần tích cực nhất vào sự phát triển chung của nước Mỷ. Trên mảnh đất này những người lính chết trận của cả hai bên đều được tôn trọng xây nghĩa trang chung, tạo lên tiền lệ đầu tiên trong lịch sử nội chiến của nước Mỹ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...